Tiếc Thương

01/06/201520:09(Xem: 4206)
Tiếc Thương

 nguyen hanh


Tiếc Thương

 

 

      Kim Tiếng thương mến,

 

      Vẫn biết rằng "Đời là vô thường". Nhưng mình vẫn bàng hoàng xúc động khi hay tin Kim Tiếng đã ra đi. Chỉ trong vòng có hai ngày mà trường Sương Nguyệt Anh thân yêu của chúng ta đã mất đi hai Thầy Cô:

 

     - Cô Dương Kim Tiếng:   5-5-2015

     - Thầy Giáp Bằng Phan:   6-5-2015

 

      Đã đành rằng sự ra đi này là con đường giải thoát tốt, tránh khỏi những đớn đau vật vã nhất, nhưng mình cũng như đại gia đình Sương Nguyệt Anh vẫn vô cùng đau xót, vẫn là một mất mát lớn lao của một đời người.

      Trường Sương Nguyệt Anh của chúng ta là một trường Tổng hợp đầu tiên tại Sàigòn, ngoài các môn học như các trường Phổ thông khác, trường còn có thêm các môn nhiệm ý như doanh thương, kinh tế gia đình (nấu ăn, may vá, làm hoa vải), hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, võ thuật. Ngoài ra còn có phòng thính thị trang bị đầy đủ máy móc. Có phòng thí nghiệm để học sinh thực tập Lý Hóa, mổ xẻ sinh vật. Kinh phí được tài trợ từ cơ quan Usaid và hội phụ huynh học sinh.

     Năm 1973, Bà Hiệu trưởng Kim Chi phải qua Pháp theo chồng, Kim Tiếng đã lên thay. Cô Kim Tiếng người Gò Công, du học Mỹ năm 1960. Một con người đơn giản, không cầu kỳ, đằm thắm; đến với đồng nghiệp, với học trò bằng tất cả tình yêu thương, ân cần chăm sóc.

     Ngày đó thật là vui. Chúng ta đã đến với nhau bằng tất cả tình bạn chân thành, gắn bó với nhau trong những sinh hoạt của trường; những lần tổ chức văn nghệ, ủy lạo thương binh, vui buồn đều có nhau.

     Rồi cơn lốc 30-4-1975 đã làm cho chúng mình lao đao lận đận! Cái thời mà chúng mình phải đi học tập chính trị mỗi lúc hè đến tuy rất bất mãn nhưng cuối cùng lại thấy vui; mấy ông báo cáo viên tha hồ nói dóc, còn tụi mình ở dưới này tha hồ tán gẫu đủ mọi thứ!

      Bây giờ ngồi ngẫm lại thời đó, mình thấy tụi mình bị "bóc lột quá sức". Nhất là những bạn có chồng đi học tập cải tạo, cứ lăn xả ra làm việc như trâu để mong được chứng nhận công tác tốt, hầu mong chồng được thả về sớm. Sau này mới biết tất cả chỉ là những chiêu bài  gạt gẫm đàn bà, con nít. Với chiêu bài "Lao động là vinh quang", thầy trò vác chổi đi quét đường, hốt rác để làm sạch đường phố. Rồi ban lao động nhà trường lại có thêm sáng kiến "nuôi heo" để tăng thu nhập cho trường; bắt các Thầy Cô phải luân phiên nhau tắm rửa cho nó. Buổi sáng đi dạy, buổi chiều vô trường tắm heo, cho heo ăn. Mình nhớ có một lần vì không "chuyên nghiệp" nên khi tắm heo xong, nó hứng chí chạy xổng ra ngoài, phải vội vàng đuổi theo vì lỡ nó chạy mất, tiền đâu mà đền. Hình ảnh các Thầy Cô đuổi theo con heo, la hét om sòm quanh sân trường, tạo nên một cảnh tượng cười ra nước mắt!  Nhìn lại mình, trời ơi, sao mà thảm não vô cùng! Quần ống cao ống thấp, áo thì chỗ ướt chỗ khô, mặt thì phờ phạc vì đuổi theo nó mệt quá!

      Ngày trước đến trường đi dạy, lúc nào các cô cũng tươm tất lịch sự trong những chiếc áo dài tha thướt. Cách mạng vô, áo trắng quần đen là chủ yếu, giống như đồng phục của những đứa trẻ mồ côi trong viện Dục Anh, trông thật thảm hại!

     Đúng như khẩu hiệu "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm",  nên buổi sáng đi dạy, buổi chiều đi lao động, buổi tối đi dạy bổ túc văn hóa rồi còn phải đi trực đêm ở trường để giữ an ninh. Mà tụi mình lại vốn nhát gan, sợ ma, sợ bóng tối, giữ nổi gì, đến trường là bật đèn sáng suốt đêm, chui vào văn phòng đóng chặt cửa lại, ăn trộm có vào gỡ hết gạch ngói cũng không hề hay biết.

      Những chuyện vui buồn đó làm sao chúng ta quên được, có một điều đáng quí là tụi mình vẫn biết đùm bọc, yêu thương nhau khắn khít. Còn nhớ những buổi chiều Kim Tiếng đạp xe tới mình, chia cho nhau từng củ khoai, khúc sắn. Một thời gian khổ, mình đã cùng sống, cùng chia sớt với nhau những cảnh xếp hàng cả ngày (XHCN) để mua từng kilo gạo đầy sạn về ăn độn với bobo, từng miếng thịt hôi, từng con cá ươn... Thầy cô đi dạy về, trên xe đạp tòn ten xâu thịt, mớ rau, trông thật tội nghiệp:

 

                “Xưa sao phong gấm rũ là,

 Giờ sao tan tác như hoa giữa đường!“

  ( Nguyễn Du )

 

      Sau 75, cái thời mà người ta phải nhắm mắt lăn đời mình qua những thương đau, vất vả khó nhọc, nhưng cũng có lúc ấm áp tình người khi học trò nhìn cô giáo với ánh mắt cảm thông, khi bạn bè đồng nghiệp giúi cho nhau từng gói đậu nhỏ để thêm một chút lương thực vào hành trang ngày mai đi thăm chồng cải tạo. Đúng là những tình cảm thiết tha, trong sáng vẫn còn hoài trong mỗi chúng ta!

 Sau đó bọn mình may mắn đã thoát được, đến miền đất Tự do nhưng mỗi lần nhìn về cố quốc, vẫn thấy lòng xót xa ngậm ngùi vô cùng!

      Ngày mình bay qua Virgina thăm Kim Tiếng thật quá vui mừng và cảm động. Chúng mình đã có những ngày họp mặt thầy trò Sương Nguyệt Anh vô cùng đầm ấm, những ngày xa xưa như được sống lại! Rồi Kim Tiếng và anh Dương Tư Thông đưa mình đi thăm Luray Cavern, một hang động thạch nhũ quá đẹp làm mình ngẩn ngơ nhìn ngắm mà muốn quên đường về!

  Tuy nhiên, dù đang sống an bình trên xứ người nhưng trong tim mỗi người tha phương Việt Nam đều ấp ủ một chút gì đó "Tình tự Dân tộc" như lời một bài hát:

 

  "Đàn chim tha phương, lạc loài đôi cánh mỏng, mong ngày trở về cố hương..."

 

 Chúng ta vẫn hy vọng một ngày nào đó, khi quê hương thanh bìnhmở hội, mình sẽ cùng về gặp gỡ học trò, bạn bè, không phải một nơi nào trên xứ người nữa mà ở ngay trường xưa chốn cũ, ngôi trường Sương Nguyệt Anh- đường Hòa Hảo- mà lời nhạc của Lê Tín Hương như một tiếng than dài:

    "Có ai biết ngày này ta nơi đây! Một nơi không định đến! Một chốn ta phải về!"

     Phải về! Nhưng mà Kim Tiếngvà Thầy Phanđã thực sự bỏ cuộc đời rồi, bỏ lại gia đình, bỏ đồng nghiệp, bạn bè cũ ngày xưa:

 

    "Một đời cây có mấy lần chia lìa cành lá sầu rơi, một đời mưa có mấy lần xa rời làn mây bên trời, có mấy lần rơi lệ đưa tiễn người xa đời, giọt vơi rồi giọt đầy!"

  ( Ngày rời )

 

    Bây giờ Kim Tiếng và thầy Bằng Phanđã mãn phần, thoát khỏi mọihệ lụy trong cõi đời phù du; một màu tang trắng

phủ, nước mắt nào đong đầy, cho nỗi đau tìnhngười còn ở lại!

Kim Tiếng vẫn luôn luôn có một chỗ thật đẹp trong lòng mọi người; thôi thì ở một nơi chốn nào đó, Kim Tiếng "hãy thật sự bình thản"; ở đây ban bè và học trò sẽ cầu nguyện cho Kim Tiếng cũng như Thầy Bằng Phan được về chốn an bình. Khắp nơi đều có tổ chức lễ cầu siêu cho Kim Tiếng và Thầy Phan: Cali, Úc, VN, Paris, Canada, Đức... để cùng hướng lòng cầu xin cho hương linh người ra đi được thêm ấm áp tình thương mến và để gia đình Cô Thầy được an ủi trong nỗi mất mát lớn lao này! Vậy Kim Tiếng và Thầy Phan hãy mỉm cười nơi chín suối.

Tuy đã ra đi nhưng tình thương Kim Tiếng vẫn để lại cho đời, đúng là "Chỉ có tình thương để lại đời" sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau được nữa nhưng ân tình mọi người vẫn còn trân trọng giữ lấy trong tim!

Thôi thế cũng xong một đời phiền muộn, tiễn đưa nào mà không buồn, huống chi đây là một cuộc chia xa vĩnh viễn lại càng đau lòng biết mấy!

     Chết là bắt đầu cho một cuộc viễn hành ở thế giới khác, thôi thì cứ tin như vậy và trong giờ phút này nén hương lòng thắp sáng, xin cầu nguyện hương linh Kim Tiếng và Thầy Bằng Phan kể từ đây rũ sạch nợđời, dù những cái nợ thật dễ thương - nợ tia nắng mai, nợ nụ cười ai đó để cõi Vĩnh hằng thong dong tự tại - Thế giới của yêu thương, của bao dung, của kỳ hoa dị thảo, của những gì thoát tục…

 

Ta nợ mặt trời từng tia nắng mai

Ta nợ nụ cười người quen sáng nay

  Nghe lòng nhẹ nhàng, bước chân phong trần.!!

   ( Vẫn nợ cuộc đời )

      Thôi xin trả nợ từ đây...

 

München, tháng 5/ 2015

Nguyên Hạnh HTD

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/12/2021(Xem: 4474)
Bóc vài tờ lịch cuối ... lòng dâng trào cảm xúc ! Phước duyên gì được an lạc phút này đây Khi bao người vì đại dịch …sầu não bao vây Chắp tay sen…rưng rưng kính tri ân Phật Pháp !
27/12/2021(Xem: 4264)
Bắt đầu một năm mới tinh khôi, nghĩa là phải có một tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút, một giây hoàn toàn mới, từ tương lai bước vào hiện tại. Nhưng một cái gì hoàn toàn mới, xuất hiện một cách mơ hồ trên lịch, chỉ là một ý niệm, một quan điểm. Do người ta đặt để, đo lường, tạo một qui ước về thời gian — căn bản dựa trên sự chuyển dịch của địa cầu qua hai vầng nhật nguyệt (1) — để ổn định sinh hoạt xã hội, mà từ hàng ngàn năm trước đến nay, ngày-tháng-năm được xuất hiện trên những tấm lịch, những cái đồng hồ (mặt trời, cát, nước, đeo tay, treo tường), máy vi tính và điện thoại.
25/12/2021(Xem: 16426)
Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương - 86 tuổi, tác giả tập "Còn gặp nhau" - qua đời lúc 4h sáng 24/12 tại nhà riêng. Ông Trần Bá Thùy - chồng nhà thơ - cho biết bà qua đời vì nhiều bệnh nền như suy thận, viêm gan siêu viên B, xuất huyết dạ dày. Cách đây vài tháng, bà nhập viện điều trị nhưng sức khỏe yếu, gia đình đưa về nhà chăm sóc hồi tháng 10. Do không ăn uống được, truyền đạm không vào nên thể trạng bà ngày càng suy giảm. Những ngày cuối đời Tôn Nữ Hỷ Khương thương nhớ người con đã qua đời cách đây hai năm. Trên giường bệnh, bà thường nhắc về con. Hay tin Hỷ Khương lâm bệnh nặng, nhiều tuần qua, các đồng nghiệp, bạn bè ghé nhà, khiến bà xúc động. Gia đình mong muốn lưu giữ dấu ấn thơ ca của Hỷ Khương, để con cháu sau này nhớ đến. Ông Bá Thùy cho biết năm nay có in một cuốn lịch, bìa là ảnh của Hỷ Khương, nội dung gồm những câu thơ được yêu thích của bà như: "Còn gặp nhau thì hãy cứ vui/Chuyện đời như nước chảy hoa trôi/Lợi danh như bóng chim chìm nổi/Chỉ có tình thương để lại đời...
22/12/2021(Xem: 15424)
Trong các khóa tu dù ngắn hay dài hạn, chúng ta cần nên giữ sự yên lặng. Chúng ta cần phải thực tập cho kỳ được sự im lặng. Bởi "Im lặng" là một phương pháp tạo cho ta có thêm nguồn nội lực phong phú hùng tráng. Đó là một sức mạnh trọng đại của tâm linh. Im lặng không có nghĩa là chúng ta không được quyền nói. Ta được phép nói, nhưng chỉ nói trong giới hạn khi cần thiết. Và chỉ nói trong phạm vi ái ngữ, yêu thương và hòa kính. Không nên nói những lời có ác ý công kích chỉ trích phê bình, gây bất hòa tổn hại cho nhau. Nói trong sự ôn hòa nhỏ nhẹ từ ái.
22/12/2021(Xem: 12371)
Từ xưa, thi ca là nguồn cảm hứng của bao văn nhân thi sĩ. Xúc cảnh sanh thơ, phơi bày những tâm sự, gởi gắm tất cả những tâm tình rạt rào chứa đựng những bi thiết, những hoạt cảnh của những xã hội đương thời mà tác giả hiện sống. Những cảm tác ấy, dệt thành đủ màu sắc hương vị. Nó xuất phát từ những tâm hồn cao thượng tự chứng, hay những tâm hồn bình thường mang nặng mặc cảm tự tôn, tự ty, hoặc bất mãn theo từng nếp nghĩ. Tất cả, đều tùy theo quan điểm của mỗi thi nhân. Song cho dù diễn tả dưới bất cứ dạng thức nào chăng nữa, tựu trung, cũng nhằm nói lên chiều hướng xây dựng xã hội, làm đẹp con người và cuộc đời. Mọi sắc thái hiện tượng của vũ trụ như: mây, nước, trăng, sao, núi non, chim kêu, suối chảy v.v…đều là những gợi cảnh nồng nàn mà thi nhân đã gởi lòng hòa điệu.
27/11/2021(Xem: 4086)
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không. Người thân, người sơ, từng gặp, chưa từng gặp, nhìn nhau chào mừng, nói đôi câu, rồi cuối cùng cũng vẫy tay tạm biệt, chia xa. Không còn ai. Trăng khuya soi rạng vườn sau. Những cánh hồng từ các bồn hoa vươn dậy như được tắm gội dưới ánh sáng dìu dịu, tịnh yên. Một mình ngắm hoa dưới trăng. Một mình ngắm trăng trên hoa. Bất chợt, trong một thoáng nhìn mờ ảo, ánh trăng như vỡ thành những bụi tuyết, lãng đãng rơi trên những cánh hoa dưới sương đêm lóng lánh[1].
25/11/2021(Xem: 14900)
1-Linh giác thường minh, xua tan màn hôn ám, dìu chúng sanh lên thuyền Bát Nhã -Bửu quang phổ diệu, chiếu khắp chốn trầm luân, dắt muôn loại hướng cõi Niết Bàn 2--Huyền Huệ ngời soi quét sạch mê lầm, thẳng qua bến giác -Quang Tâm tỏa chiếu xua tan tục luỵ, hoà nhập nguồn chơn 3--Thanh đức minh minh phổ chiếu khổ luân hồi giác ngạn -Tâm nhiên hạo hạo đồng quy chơn cảnh xuất mê đồ
15/11/2021(Xem: 6749)
Là người thâm tín Phật, cung kính phụng thờ Tam Bảo, thì luôn có một đức tin kiên cố rằng: Dù ở bất cứ thời gian nào, không gian nào vẫn luôn có chân thân các bậc thượng nhân hóa thân hành hoạt cứu nhân độ thế. Các Ngài luôn có mặt giữa cuộc đời để nâng đỡ chúng sanh vạn loại. Vững chải đức tin như thế nên mỗi khi về chùa Phi Lai (hoặc Phi Lai Hòa Thịnh hoặc Phi Lai Biên Hòa, tôi luôn thấy hình bóng chân nhân trưởng lão Tâm Nguyện – Thiện Tu -Thượng DIỆU Hạ TÂM hiện hữu mồn một ở đó. Tôi thấy rất rõ từng bước chân như hoa sen nở Ngài bước đi, như lắng nghe từng tiếng từng lời ngài đang dạy bảo, khuyên lơn, khuyến khích Phật tử chúng ta nuôi dưỡng tâm bồ đề mỗi ngày mỗi lớn hơn lên, từng ngày từng kiên cố hơn. Từ đó tôi thấy : Ngài như chưa từng đến nên Ngài cũng đã chẳng ra đi. Ngài là hiện thân bậc thạc đức “Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng . Bất cứ lúc nào Ngài cũng đang có mặt, hiện trú nơi cả hai ngôi chùa Phi Lai Hòa Thịnh Phú Yên và Phi Lai TP Biên Hòa…
08/11/2021(Xem: 21085)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
06/11/2021(Xem: 26798)
Kinh Hoa Nghiêm là tên gọi tắt của bộ ‘Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh’ do Ngài Long Thọ Bồ tát viết ra vào thế kỷ thứ 2, tức khoảng 600 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Hoa Nghiêm (Avatamsaka) có nghĩa là đóa hoa tuyệt đẹp, thanh khiết. Phần Hán tự đã được dịch ra từ thế kỷ thứ 5, dưới ba hệ thống Bát Nhã (40 quyển), Giác Hiền (60 quyển) và Nan Đà (80 quyển) . Nhập-Pháp-Giới (Gandavyuha) là phẩm thứ 39 trong số 40 phẩm, cũng là phẩm dài nhất, tiêu biểu cho giáo lý căn bản của kinh Hoa Nghiêm nói riêng và Phật giáo Đại thừa nói chung, diễn tả con đường cầu đạo của ngài Thiện Tài Đồng Tử qua 52 vị Thiện Tri Thức dưới nhiều hình tướng, khởi đầu là ngài Văn Thù Sư Lợi, chư Thiên, Dạ thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Đức Phật Di Lặc..., và cuối cùng là Ngài Phổ Hiền.