Một cuộc đời

20/01/201304:20(Xem: 4790)
Một cuộc đời



que huong
Một cuộc đời

 

(Riêng tặng Tâm Phương, em học trò cũ của tôi)

 

 

 

Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này.

Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.

 

Ngày xưa em cũng là một nữ sinh má hồng môi thắm của trường Đồng Khánh, ngôi trường màu hồng ngập tràn hoa phượng trên các lối đi. Buổi sáng sớm mai cũng tung tăng đến trường, tóc con gái còn thơm mùi hoa cau hoa bưởi trong khu vườn trăng của đêm qua, trái tim vẫn còn đập những xao xuyến vì ước mơ! Con đường Lê Lợi đã mang nặng những bước chân đi về của những cô nữ sinh với mái tóc mây buông xõa, thẹn thùng với chiếc nón nghiêng nghiêng và em cũng như bao nhiêu người con gái mới lớn khác, cũng yêu thương và đắp xây mộng ước cho cuộc đời mai sau của mình. Rồi em đã gặp và yêu một chàng trai trong quân ngũ, họ đã thành hôn và đã có với nhau hai mặt con: một trai, một gái.

 

Lấy chồng được 4 năm, những tưởng dòng đời cứ êm xuôi mãi với gia đình bé nhỏ của em, nhưng rồi cơn bão táp 30.4.1975 đã làm tan nát biết bao gia đình. Chồng em cũng phải đi cải tạo như bao nhiêu người khác nhưng anh ấy lại là người bất khuất, không chịu cúi đầu nhịn nhục lũ Việt Cộng dã man, đã vùng lên chống đối lại và đã bị bắn chết trong ngục tù sau 3 năm bị giam giữ.

Nỗi đau đớn tưởng chừng như chết được, nghe như có những hạt sỏi lao xao đang nghiền nát trái tim khô héo nhưng em vẫn phải gắng sống để còn nuôi một mẹ già và 2 con.

 

Sau đó ba mẹ con đã làm đơn xin đi US theo diện HO vì chồng chết trong trại cải tạo. Hồ sơ nộp đã 10 năm trời vẫn chưa thấy một tia hy vọng nào lóe sáng! Cuộc sống quá khó khăn, em phải gom góp tiền bạc, lo đút lót chạy chọt để được đi lao động ở Đông Đức - giấc mơ này đã làm cho bao nhiêu người ao ước.

Kiếm được bao nhiêu tiền, em đều gởi về nuôi mẹ, nuôi con, giúp đỡ anh em nữa. Rồi bức tường Bá Linh sụp đổ, em được qua Tây Đức, sống một cuộc sống tự do và an bình. Tưởng rằng qua được đây là một chân trời mới mở rộng cho em, với đôi tay và khối óc, em sẵn sàng kiếm việc làm, cực nhọc bao nhiêu cũng cam lòng, chỉ mong sao kiếm được cho nhiều tiền để lo cho những người thân còn ở lại quê nhà. Không ngờ việc em qua Đức lại làm cản trở, thiệt thòi tương lai của 2 đứa con! Thật đúng là ở đời không làm sao tính trước được mọi sự việc; qua Đức được 2 năm, hồ sơ đi US lại được cứu xét. Nếu còn ở lại Việt Nam, 3 mẹ con em sẽ được qua US theo diện HO; nhưng đơn xin của 2 đứa con đã bị chính phủ US từ chối vì mẹ đã ở Đức, đã có nước Đức cưu mang rồi!

 

Chỉ có một điều an ủi là em đã về được thành phố München này, rất dễ kiếm việc làm, em đã ra sức làm việc để kiếm tiền nuôi mẹ nuôi con. Tôi vẫn thường khuyên nhủ em, thôi thì không được đi US cả 3 mẹ con nhưng em vẫn còn may mắn hơn bao nhiêu người khác là đã đến được bến bờ tự do, không phải lênh đênh trên biển cả, trong khi đó hàng trăm ngàn người đã chết ngoài biển khơi mịt mù!

 

Rồi em lại gặp được một người đã yêu thương em hết lòng, đó là anh Nguyễn. Anh Nguyễn vẫn còn độc thân, có công ăn việc làm vững chắc; dù biết rằng em đã có một đời chồng và hai con nhưng anh ấy vẫn một lòng yêu thương và xin cưới em. Em còn trẻ, hơn nữa qua xứ người một thân một mình bơ vơ cô quạnh, cuối cùng em đã nhận lời làm vợ anh Nguyễn Họ đã sống với nhau những tháng ngày thật hạnh phúc, anh Nguyễn đã chăm sóc, thương yêu lo lắng cho em từng ly từng tí. Ai cũng mừng cho cuộc đời em đã được đền bù xứng đáng, em đã có một nơi nương tựa vững chắc. Mỗi lần đi làm đều có chồng đón đưa, em đã sống những ngày mật ngọt, ấm êm.

     Nhưng rồi, cũng lại chữ „nhưng“ quái ác, anh Nguyễn lại bị bịnh và chỉ trong một thời gian ngắn, thật bất ngờ, anh ấy đã ra đi!

 

Nhận được điện thoại báo tin, tôi quá bàng hoàng sững sốt, không tin đó là sự thật; sao cuộc đời lại quá đắng cay nghiệt ngã đối với em như vậy?

Vội vã chạy đến nơi, chỉ còn thấy anh Nguyễn nằm bình yên như ngủ, trút bỏ lại đằng sau tất cả ưu tư phiền muộn của cuộc đời; còn em gục đầu bên xác chồng, đôi mắt vô hồn làm lòng tôi quặn thắt! Em như con đò nhỏ chao đảo giữa bão táp đại dương, niềm đau đang giày xéo tâm can, đôi vai rung lên theo nhịp thổn thức làm nước mắt tôi cũng tuôn tràn theo em.

Thôi hết, từ nay em lại trở thành một thân một mình, sao bao nhiêu khổ đau của cuộc đời này lại dồn hết lên đôi vai yếu ớt của em như vậy?`Tôi đứng sững như trời trồng, cổ họng khô cứng, tôi lo em sẽ không đủ sức chịu đựng muôn ngàn đớn đau như thế này!

Kể từ hôm đó tôi luôn luôn túc trực bên em, phụ giúp em lo ma chay; ngày đưa đám em lại muốn tôi là người điều khiển chương trình tang lễ, rồi 7 tuần cúng thất, tôi theo em lên chùa đều đặn.

Chỉ còn một mình, em không đủ sức trả tiền thuê hằng tháng cho căn nhà rộng mênh mông của 2 vợ chồng, đành phải kiếm một chỗ ở nhỏ hơn. Nhờ con tôi giới thiệu và đứng ra bảo lãnh nên đã thuê cho em được một căn hộ ở gần nhà tôi, chỉ cách một trạm xe U-Bahn nên rất tiện lợi cho em những khi tối lửa tắt đèn.

Ngày ngày, sau khi đi làm về, em tìm khuây khỏa bằng cách ra nghĩa trang thắp nhang cho chồng, ngồi bên mộ tỉ tê một hồi rồi mới chịu ra về. Nhiều khi chán nản cùng cực vì cô đơn quá, em muốn trở về Huế để ngồi yên dưới mái nhà xưa, bên mẹ bên con, nhưng em phải sống, phải làm việc hết mình để còn lo cho những người thân yêu đó. Đúng là em đã can đảm, đã có một sức mạnh, sức mạnh ấy là tình thương, là nước mắt hướng về quê nhà với một trái tim hiếu thảo và nhân hậu bao la!

 

Tôi biết niềm đau của em không ai chia xẻ nổi, trong tất cả những mất mát trên đời này, chỉ có mất tiền là nhẹ nhàng vì mình cũng có thể kiếm lại được, còn mất mát nào cũng đau đớn cả. Biết vậy nhưng tôi cũng phải an ủi khuyên lơn em, giúp cho em được việc gì tôi cũng không từ nan và em đã nhận tôi như một người mẹ thứ hai trên xứ người. Tôi cố hết sức đem lòng thương yêu của mình để xoa dịu trái tim tan nát của em được phần nào hay phần đó vì chỉ có tình thương mới hàn gắn bớt được mọi khổ đau của cuộc đời.

Là một Phật tử thuần thành nên em đã đặt hết niềm tin của mình vào phép Phật nhiệm mầu, tìm khuây trong lời kinh tiếng kệ. Lên chùa, quỳ trước Phật đài, nhìn bóng dáng từ bi của chư Phật, em cảm thấy tâm mình được bình an hơn. Tâm bình thì giọt sương đọng trên ngọn lá, tâm động thì giọt sương là nước mắt và tâm an nhiên tự tại thì giọt sương đó là hạt kim cương. Cổng tam quan của mỗi ngôi chùa không phải chỉ là cái mốc êm đềm trên một quãng đường học trò thời trẻ dại, hình ảnh ấy chính là nơi tu dưỡng và nơi tái tạo cuộc sống trong suốt cuộc hành trình viên miễn của kiếp nhân sinh và tiếng chuông chùa bồng bềnh dội vào những tầng mây cao như mời gọi lảng  khuây.

*

*     *

Chỉ có ánh sáng của Đạo Pháp mới mở lòng từ bi cứu độ chúng sanh cũng như vầng trăng có bao giờ thiếu vắng, vầng trăng ấy vẫn không ngừng đi tìm bóng tối để soi sáng vô minh. Từ đó, em đã biết tự mỉm cười với chính mình trong ý nghĩ: „Cơn bão nào rồi cũng qua“; những gì hiện hữu hôm nay rồi cũng sẽ tan theo vô thường, chợt đến rồi chợt đi mà thôi:

„Thiên thượng phù vân như bạch y“.

 

München....

Nguyên Hạnh HTD

Ý kiến bạn đọc
27/04/201500:22
Khách
Một câu chuyện buồn trong một khung cảnh bất an của một đất nước lắm nhiêu khê cìm nổi được tái tạo qua ngòi bút giản dị, trong sáng nhưng đấy ắp tình người và đạo lý của một người vưa là chị cả vừa là bạn hiền của tôi, chị Hoàng thị Doãn.
Em chúc chị luôn thanh an, vui khoẻ để tiếp tục công hiến cho bè bạn bốn phương những bài viết đậm đà như vầy mãi nghen chị,
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/09/2015(Xem: 8989)
Gió Thu bay, lá vàng chưa muốn rụng Như muốn thấy, những gì mùa Thu mới Rồi cũng rụng, hành trình một cuộc đời Kiếp của lá! Hẹn nhau mùa Xuân tới!
26/08/2015(Xem: 5651)
" Sống ở đời tham lam ham hố Cuối cùng rồi cũng xuống lỗ mà thôi, Tranh danh đoạt lợi hại người Bạc vàng tích trữ lâu đài ngựa xe, Say sưa vui thú rượu chè Ăn chơi nhảy nhót hội hè quanh năm. Tưởng rằng mình mãi còn xuân Ngỡ đâu phút chốc tan tành mộng mơ, Thân tàn ma dại nào ngờ Gia tài sự nghiệp một giờ như không.
06/08/2015(Xem: 6240)
Các bài 1.1 và 1.2 ghi nhận vài dữ kiện ngôn ngữ cho thấy vết tích của âm đọc chữ Hán sau thời nhà Nguyên (1271-1368) như Phạn (so với Phạm), Phổ Kiến (so với Phúc Kiến). Phần này (đánh số 1.3) ghi thêm vài cách đọc như “nghiện” (so với nghiệm trong linh nghiệm) và thành ngữ "Thượng hòa hạ mục/mộc" cho thấy giai đoạn nhập vào tiếng Việt sớm nhất là sau thời nhà Nguyên. Các tài liệu viết tắt là TVGT (Thuyết Văn Giải Tự - khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes, 1651), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển/1931/1954), HV (Hán Việt), Bắc Kinh (BK). Dấu hoa thị (*) ch
23/07/2015(Xem: 22160)
Nhật báo của thành phố Neuss tường thuật về Khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu kỳ 27 Ngày 22.07.2015 Những Ngày Nghỉ Hè Được Dành Cho Đức Phật Khoảng 500 người Phật Tử Việt Nam đến từ Âu Châu gặp nhau 10 ngày tại Neuss. Chư Tôn Đức Tăng Ni cùng với tham dự viên của Khóa Phật Pháp Âu Châu lần thứ 27 thực tập giáo lý Phật Đà. Bài của ký giả Von Katrin Haas Thích Như Điển và Thị Chơn dịch từ tiếng Đức sang tiếng Việt
21/07/2015(Xem: 19571)
Tôi sửng sốt khi nhận được giấy mời từ văn phòng Liên hiệp quốc tại Geneva, Thụy Sỹ - Invitation for releasing “T. T. Weapon book at UN Geneve”. Tôi giật thót mình và sợ rằng bị bom thư hay bị bọn khủng bố gửi gì đó vì thấy có từ weapon, tức là vũ khí. Tôi không mở 2 file đi kèm vì tin rằng loại thư này đến hòm thư của mỗi chúng ta rất nhiều mỗi ngày.
20/07/2015(Xem: 12950)
Cách đây mấy tuần mình được tặng cuốn sách “Khu vườn bí mật”. Đây là cuốn sách tô màu dành cho người lớn mà người ta hay gọi là tô màu cảm xúc hay coloring book. Mình thật bất ngờ về những nét vẽ tinh xảo của tác giả Iohanna Basford.Mình không thể tin nổi những bức vẽ với hàng trăm họa tiết rất tinh xảo lạ kỳ đến vậy. Và mình cầm bút chì màu bắt đầu tô. Mình cứ tô theo cảm xúc và không bị bất cứ cái gì trói buộc mình. Minh nhập tâm, nhập hồn vào việc tô màu. Cuối cùng, tác phẩm đầu tay của chính mình ra đời. Mình mang ngay bức tranh mà mình đã tô xong treo lên và ngắm. Mình thích vô cùng. Hóa ra rằng tô màu cảm xúc của cuốn sách “Khu vườn bí mật” giúp mình thư giãn rất tuyệt vời. Mình cứ nghĩ, nếu bạn nào bj stress bởi cuộc sống thì đây là người bạn tốt nhất. Cứ ngồi vào và tô là mọi căng thẳng, bực bội tan biến hết ngay.
12/07/2015(Xem: 12461)
Từ trong tâm khảm mình con cảm ơn mẹ đã cho con một lần sinh, một lần ra đời. Mẹ đã nâng niu nhẹ nhàng từng bước đi chậm chạp, lúc cất tiếng khóc chào đời.
01/07/2015(Xem: 32575)
Chủ đề Một Cõi Đi Về, Thơ và Tạp Bút tập hai, một lần nữa, được cái cơ duyên thuận lợi hân hạnh ra mắt quý độc giả. Cách đây ba năm tập một đã được xuất bản vào năm 2011. Hình thức và nội dung của tập hai nầy, cũng không khác tập một. Nghĩa là chúng tôi cũng chia ra làm hai phần: Phần đầu là thơ và phần sau là những bài viết rải rác đã được đăng tải trên các tờ Đặc san Phước Huệ. Tờ báo mỗi năm phát hành ba kỳ vào những dịp đại lễ như: Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Do đó nên những bài viết có những tiêu đề trùng hợp và nội dung có chút ít giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bài đều có những sắc thái hương vị riêng của nó. Ngoài ra, có những bài viết với những tiêu đề khác không nằm trong phạm vi của những ngày đại lễ đặc biệt đó. Nay chúng tôi gom góp tất cả những bài viết đó lại để in chung thành một quyển sách tập hai nầy. Về ý nghĩa của chủ đề nói trên, chúng tôi cũng đã có trình bày rõ trong tập một. Ở đây, chúng tôi không muốn lặp lại. Điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là
01/07/2015(Xem: 5534)
Mẹ tôi qua đời đã hơn 10 năm rồi, nhưng cái bếp thân yêu, như là chỗ ghi nhớ bóng dáng mẹ, thì vẫn được các em tôi dùng làm nơi đun nước hàng ngày...
23/06/2015(Xem: 16175)
Hơn hai mươi năm trước, khi đọc được bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nói về tiếng chuông Chùa Hàn San ở Tô Châu bên Trung Hoa, tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao thơ Đường có không biết bao nhiêu bài thơ tuyệt tác, vậy mà bài thơ chỉ bốn câu này lại gây ra bao nhiêu cuộc bút đàm tốn bao nhiêu giấy mực. Hay tại vì ngôi Chùa ở bến Cô Tô này đã quá nổi tiếng chăng? Nhưng đã ngờ thì phải cố mày mò tìm cho ra lẽ. Tôi tìm đọc thêm những câu chuyện chung quanh quả Đại hồng chung và tiếng chuông Hàn San. Nhiều huyền thoại đọc thật thú vị nhưng sao thấy nó cứ thực thực hư hư! Trong số ấy có một câu chuyện nói rằng, tiếng chuông chùa Hàn San có thể ngân vang rất xa, xa