Một cuộc đời

20/01/201304:20(Xem: 4845)
Một cuộc đời



que huong
Một cuộc đời

 

(Riêng tặng Tâm Phương, em học trò cũ của tôi)

 

 

 

Cuộc đời bầm dập nổi trôi của một em học trò cũ đã thôi thúc tôi viết nên truyện này.

Người ta thường bảo „sông có khúc, người có lúc“ nhưng phải nhìn nhận cả cuộc đời của em đã phản ảnh lại nhận xét trên. Bao đau thương đã dồn dập lên đôi vai yếu ớt của em, nhiều lúc tưởng chừng như không còn gượng đứng dậy được nữa, nhưng em vẫn phải sống, vẫn phải đương đầu với mọi khổ đau tràn ngập vây quanh.

 

Ngày xưa em cũng là một nữ sinh má hồng môi thắm của trường Đồng Khánh, ngôi trường màu hồng ngập tràn hoa phượng trên các lối đi. Buổi sáng sớm mai cũng tung tăng đến trường, tóc con gái còn thơm mùi hoa cau hoa bưởi trong khu vườn trăng của đêm qua, trái tim vẫn còn đập những xao xuyến vì ước mơ! Con đường Lê Lợi đã mang nặng những bước chân đi về của những cô nữ sinh với mái tóc mây buông xõa, thẹn thùng với chiếc nón nghiêng nghiêng và em cũng như bao nhiêu người con gái mới lớn khác, cũng yêu thương và đắp xây mộng ước cho cuộc đời mai sau của mình. Rồi em đã gặp và yêu một chàng trai trong quân ngũ, họ đã thành hôn và đã có với nhau hai mặt con: một trai, một gái.

 

Lấy chồng được 4 năm, những tưởng dòng đời cứ êm xuôi mãi với gia đình bé nhỏ của em, nhưng rồi cơn bão táp 30.4.1975 đã làm tan nát biết bao gia đình. Chồng em cũng phải đi cải tạo như bao nhiêu người khác nhưng anh ấy lại là người bất khuất, không chịu cúi đầu nhịn nhục lũ Việt Cộng dã man, đã vùng lên chống đối lại và đã bị bắn chết trong ngục tù sau 3 năm bị giam giữ.

Nỗi đau đớn tưởng chừng như chết được, nghe như có những hạt sỏi lao xao đang nghiền nát trái tim khô héo nhưng em vẫn phải gắng sống để còn nuôi một mẹ già và 2 con.

 

Sau đó ba mẹ con đã làm đơn xin đi US theo diện HO vì chồng chết trong trại cải tạo. Hồ sơ nộp đã 10 năm trời vẫn chưa thấy một tia hy vọng nào lóe sáng! Cuộc sống quá khó khăn, em phải gom góp tiền bạc, lo đút lót chạy chọt để được đi lao động ở Đông Đức - giấc mơ này đã làm cho bao nhiêu người ao ước.

Kiếm được bao nhiêu tiền, em đều gởi về nuôi mẹ, nuôi con, giúp đỡ anh em nữa. Rồi bức tường Bá Linh sụp đổ, em được qua Tây Đức, sống một cuộc sống tự do và an bình. Tưởng rằng qua được đây là một chân trời mới mở rộng cho em, với đôi tay và khối óc, em sẵn sàng kiếm việc làm, cực nhọc bao nhiêu cũng cam lòng, chỉ mong sao kiếm được cho nhiều tiền để lo cho những người thân còn ở lại quê nhà. Không ngờ việc em qua Đức lại làm cản trở, thiệt thòi tương lai của 2 đứa con! Thật đúng là ở đời không làm sao tính trước được mọi sự việc; qua Đức được 2 năm, hồ sơ đi US lại được cứu xét. Nếu còn ở lại Việt Nam, 3 mẹ con em sẽ được qua US theo diện HO; nhưng đơn xin của 2 đứa con đã bị chính phủ US từ chối vì mẹ đã ở Đức, đã có nước Đức cưu mang rồi!

 

Chỉ có một điều an ủi là em đã về được thành phố München này, rất dễ kiếm việc làm, em đã ra sức làm việc để kiếm tiền nuôi mẹ nuôi con. Tôi vẫn thường khuyên nhủ em, thôi thì không được đi US cả 3 mẹ con nhưng em vẫn còn may mắn hơn bao nhiêu người khác là đã đến được bến bờ tự do, không phải lênh đênh trên biển cả, trong khi đó hàng trăm ngàn người đã chết ngoài biển khơi mịt mù!

 

Rồi em lại gặp được một người đã yêu thương em hết lòng, đó là anh Nguyễn. Anh Nguyễn vẫn còn độc thân, có công ăn việc làm vững chắc; dù biết rằng em đã có một đời chồng và hai con nhưng anh ấy vẫn một lòng yêu thương và xin cưới em. Em còn trẻ, hơn nữa qua xứ người một thân một mình bơ vơ cô quạnh, cuối cùng em đã nhận lời làm vợ anh Nguyễn Họ đã sống với nhau những tháng ngày thật hạnh phúc, anh Nguyễn đã chăm sóc, thương yêu lo lắng cho em từng ly từng tí. Ai cũng mừng cho cuộc đời em đã được đền bù xứng đáng, em đã có một nơi nương tựa vững chắc. Mỗi lần đi làm đều có chồng đón đưa, em đã sống những ngày mật ngọt, ấm êm.

     Nhưng rồi, cũng lại chữ „nhưng“ quái ác, anh Nguyễn lại bị bịnh và chỉ trong một thời gian ngắn, thật bất ngờ, anh ấy đã ra đi!

 

Nhận được điện thoại báo tin, tôi quá bàng hoàng sững sốt, không tin đó là sự thật; sao cuộc đời lại quá đắng cay nghiệt ngã đối với em như vậy?

Vội vã chạy đến nơi, chỉ còn thấy anh Nguyễn nằm bình yên như ngủ, trút bỏ lại đằng sau tất cả ưu tư phiền muộn của cuộc đời; còn em gục đầu bên xác chồng, đôi mắt vô hồn làm lòng tôi quặn thắt! Em như con đò nhỏ chao đảo giữa bão táp đại dương, niềm đau đang giày xéo tâm can, đôi vai rung lên theo nhịp thổn thức làm nước mắt tôi cũng tuôn tràn theo em.

Thôi hết, từ nay em lại trở thành một thân một mình, sao bao nhiêu khổ đau của cuộc đời này lại dồn hết lên đôi vai yếu ớt của em như vậy?`Tôi đứng sững như trời trồng, cổ họng khô cứng, tôi lo em sẽ không đủ sức chịu đựng muôn ngàn đớn đau như thế này!

Kể từ hôm đó tôi luôn luôn túc trực bên em, phụ giúp em lo ma chay; ngày đưa đám em lại muốn tôi là người điều khiển chương trình tang lễ, rồi 7 tuần cúng thất, tôi theo em lên chùa đều đặn.

Chỉ còn một mình, em không đủ sức trả tiền thuê hằng tháng cho căn nhà rộng mênh mông của 2 vợ chồng, đành phải kiếm một chỗ ở nhỏ hơn. Nhờ con tôi giới thiệu và đứng ra bảo lãnh nên đã thuê cho em được một căn hộ ở gần nhà tôi, chỉ cách một trạm xe U-Bahn nên rất tiện lợi cho em những khi tối lửa tắt đèn.

Ngày ngày, sau khi đi làm về, em tìm khuây khỏa bằng cách ra nghĩa trang thắp nhang cho chồng, ngồi bên mộ tỉ tê một hồi rồi mới chịu ra về. Nhiều khi chán nản cùng cực vì cô đơn quá, em muốn trở về Huế để ngồi yên dưới mái nhà xưa, bên mẹ bên con, nhưng em phải sống, phải làm việc hết mình để còn lo cho những người thân yêu đó. Đúng là em đã can đảm, đã có một sức mạnh, sức mạnh ấy là tình thương, là nước mắt hướng về quê nhà với một trái tim hiếu thảo và nhân hậu bao la!

 

Tôi biết niềm đau của em không ai chia xẻ nổi, trong tất cả những mất mát trên đời này, chỉ có mất tiền là nhẹ nhàng vì mình cũng có thể kiếm lại được, còn mất mát nào cũng đau đớn cả. Biết vậy nhưng tôi cũng phải an ủi khuyên lơn em, giúp cho em được việc gì tôi cũng không từ nan và em đã nhận tôi như một người mẹ thứ hai trên xứ người. Tôi cố hết sức đem lòng thương yêu của mình để xoa dịu trái tim tan nát của em được phần nào hay phần đó vì chỉ có tình thương mới hàn gắn bớt được mọi khổ đau của cuộc đời.

Là một Phật tử thuần thành nên em đã đặt hết niềm tin của mình vào phép Phật nhiệm mầu, tìm khuây trong lời kinh tiếng kệ. Lên chùa, quỳ trước Phật đài, nhìn bóng dáng từ bi của chư Phật, em cảm thấy tâm mình được bình an hơn. Tâm bình thì giọt sương đọng trên ngọn lá, tâm động thì giọt sương là nước mắt và tâm an nhiên tự tại thì giọt sương đó là hạt kim cương. Cổng tam quan của mỗi ngôi chùa không phải chỉ là cái mốc êm đềm trên một quãng đường học trò thời trẻ dại, hình ảnh ấy chính là nơi tu dưỡng và nơi tái tạo cuộc sống trong suốt cuộc hành trình viên miễn của kiếp nhân sinh và tiếng chuông chùa bồng bềnh dội vào những tầng mây cao như mời gọi lảng  khuây.

*

*     *

Chỉ có ánh sáng của Đạo Pháp mới mở lòng từ bi cứu độ chúng sanh cũng như vầng trăng có bao giờ thiếu vắng, vầng trăng ấy vẫn không ngừng đi tìm bóng tối để soi sáng vô minh. Từ đó, em đã biết tự mỉm cười với chính mình trong ý nghĩ: „Cơn bão nào rồi cũng qua“; những gì hiện hữu hôm nay rồi cũng sẽ tan theo vô thường, chợt đến rồi chợt đi mà thôi:

„Thiên thượng phù vân như bạch y“.

 

München....

Nguyên Hạnh HTD

Ý kiến bạn đọc
27/04/201500:22
Khách
Một câu chuyện buồn trong một khung cảnh bất an của một đất nước lắm nhiêu khê cìm nổi được tái tạo qua ngòi bút giản dị, trong sáng nhưng đấy ắp tình người và đạo lý của một người vưa là chị cả vừa là bạn hiền của tôi, chị Hoàng thị Doãn.
Em chúc chị luôn thanh an, vui khoẻ để tiếp tục công hiến cho bè bạn bốn phương những bài viết đậm đà như vầy mãi nghen chị,
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/05/2017(Xem: 21656)
Dịch thơ vốn là chuyện khó. Dịch thơ chữ Hán của một đại thiền sư khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử tại Việt Nam là Tổ Sư Trần Nhân Tông (1258-1308) lại còn vô vàn khó khăn hơn nữa, bởi vì thơ chữ Hán của Thiền SưTrần Nhân Tông ngoài phẩm chất văn chương trác việt còn chứa đựng nội dung uyên áo của Thiền, của Phật Pháp.
01/05/2017(Xem: 7376)
Giới thiệu sách ”Hoàng đế ASOKA: từ Huyễn thoại đến sự thật”
28/04/2017(Xem: 22986)
Trong cuộc sống con người, không phải lúc nào cũng may mắn, suôngsẻ, có khi người ta đứng trên đỉnh vinh quang nhưng cũng có khi rớt xuống bùn. Vẫn có câu: Khi con chim còn sống, nó ăn kiến. Khi chim chết, kiến ăn nó. Thời gian và hoàn cảnh có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Vì vậy, đừng nhục mạ, đừng làm khổ bất cứ ai trong đời sống này, vì những hành vi đó đều quay ngược lại với ta.
21/04/2017(Xem: 14611)
Sao lại soi trăng tìm vết cũ Mà không là vết cũ trăng soi Nhân ảnh mờ sương phảng phất non đoài Nghiệp thức đó dõi theo từng gót ngọc
16/04/2017(Xem: 18501)
Trong kho tàng thi ca cổ điển Việt Nam, Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử rất đặc biệt: Ngài không chỉ là một bậc minh quân lỗi lạc hiếm có, mà còn là một vị thiền sư đã liễu ngộ Phật pháp (được người đương thời tôn xưng là Điều Ngự Giác Hoàng hay Phật Hoàng, trở thành vị tổ sáng lậpdòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo Việt Nam), đồng thời, cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc.
11/04/2017(Xem: 9596)
Khác với hầu hết những cộng đồng sắc tộc tại Úc Châu, người Việt đã đến đây thật đông đảo trong một thời gian tương đối ngắn, khi mà xã hội văn hóa đa nguyên của đất nước định cư nầy hãy còn trong tình trạng non trẻ. Sự hiện diện của một cộng đồng thiểu số Châu Á mà hình dáng bên ngoài dễ nhìn thấy dễ nhận dạng, đã là một thách đố lớn lao cho giới lãnh đạo chính trị tại Úc, và sự bao dung của công chúng Úc nóí chung. Trong sự thiếu vắng của các cơ sở yểm trợ lúc khởi đầu, người Úc gốc Việt đã học hỏi phương cách thích nghi vào môi trường văn hóa xã hội mới để trở thành một cộng đồng sinh động, có nhiều đóng góp vật thể và phi vật thể cho nước Úc.
06/04/2017(Xem: 7068)
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố uý Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
02/04/2017(Xem: 6875)
Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long là một nhóm đặc thù trong cộng đồng Việt-Úc mà Tập san được xuất bản và phát hành mỗi năm lại còn là một nét riêng hiếm có trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ngọc Hân tiếp xúc với hội trưởng sáng lập và đương nhiệm, trưởng ban kỹ thuật và một bỉnh bút bên ngoài tổ chức để tìm hiểu về động cơ thành lập, tiến trình phát triển và tương lai của Nhóm và Tập San nghiên cứu trong xã hội văn hóa đa nguyên Úc Châu.
01/04/2017(Xem: 4813)
Dọc suốt hai bên xa lộ, trên những cánh đồng hoang, trên những triền núi đổ xuống thung lũng, và đây đó nơi những khu vườn nhỏ nép bên đường, hoa bướm, cúc dại, cúc vạn thọ, cho đến thủy tiên vàng, và nhiều loài hoa dại khác đã cùng trổ sắc vươn lên, chào đón mùa xuân mới. Từ vệ đường, vươn khỏi những ngọn lá xanh mướt là những cánh hoa vàng, đặc biệt là bồ-công-anh, như hàng triệu mặt trời nhỏ, tủa cánh mạnh mẽ, vàng rực, sáng cả một vùng trời đất (*). Nắng ấm mùa xuân tưởng chừng như tô thêm sắc vàng óng ả cho muôn hoa. Xuân trên đồng hoang, hoa vàng, hoa trắng trải dài bất tận.
01/04/2017(Xem: 7161)
Sinh hoạt của cộng đồng Người Việt ở nước ngoài rất đa dạng nhưng không phải tại đâu cũng có tổ chức nghiên cứu văn hóa và đặc biệt là ấn phẩm nghiên cứu văn hóa người Việt. Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long và tập san nghiên cứu có thể là một ngoại lệ đáng ghi nhận. Chúng tôi thảo luận với Chủ bút, Tiến sĩ Huỳnh Long Vân về nội dung của Tập San Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long, được xuất bản và phát hành liên tục tại Sydney từ năm 2007.