Chiên Tranh và Hòa Bình

15/01/201303:49(Xem: 11270)
Chiên Tranh và Hòa Bình


Chien Tranh va Hoa Binh

Chiến tranh và hòa bình (tiếng Nga: Война и мир) là nhan đề một tiểu thuyết của Lev Nikolayevich Tolstoy, xuất bản rải rác trong giai đoạn 1865 - 1869.


Lịch sử
Tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình được Lev Tolstoy khởi thảo vào năm 1863 và gửi in tại nhà Russki Vestnik từ năm 1865 đến năm 1869 thì hoàn thành, không kể nhiều năm tiếp theo liên tục được chính tác giả sửa chữa trong các lần tái bản. Người ta thống kê được chừng 10 ngàn bản nháp mà Lev Tolstoy dùng để sửa trứ tác của mình. Nhan đề của nguyên tác là Війна и мір, trong đó, Мір của văn phạm Nga thế kỷ XIX có nghĩa là nhân loại ; sang đến thập niên 1930 khi chính quyền Soviet quyết định ấn hành tất cả trứ tác của Lev Tolstoy, nhan đề và nội dung đã được sửa lại theo văn phạm cách tân. Những bản in hiện đại bị nhiều học giả chỉ trích là không thể truyền tải nguyên vẹn ý tưởng của tác giả[1]. Chiến tranh và hòa bình được liệt vào hạng danh tác trong các ấn phẩm thuộc trào lưu lãng mạn Nga thế kỷ XIX.
Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]
Tác phẩm mở đầu với khung cảnh một buổi tiếp tân, nơi có đủ mặt các nhân vật sang trọng của giới quý tộc Nga tại kinh kỳ Sankt-Peterburg. Bên cạnh những câu chuyện thường nhật của giới quý tộc, người ta bắt đầu nhắc đến Hoàng đế Napoléon I và cuộc chiến tranh chống Pháp sắp tới mà Nga sắp tham gia. Trong số những tân khách hôm ấy có công tước Andrei Bolkonsky - một người trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có, có cô vợ Liza xinh đẹp mới cưới và đang chờ đón đứa con đầu lòng. Và một vị khách khác là Pierre người con rơi của lão bá tước Bezoukhov, vừa từ nước ngoài trở về. Tuy khác nhau về tính cách, một người khắc khổ về lý trí, một người hồn nhiên sôi nổi song Andrei và Pierre rất quý mến nhau và đều là những chàng trai trung thực, luôn khát khao đi tìm lẽ sống. Andrei tuy giàu có và thành đạt nhưng chán ghét tất cả nên chàng chuẩn bị nhập ngũ với hy vọng tìm được chỗ đứng của một người đàn ông chân chính nơi chiến trường. Còn Pierre từ nước ngoài trở về nước Nga, tham gia vào các cuộc chơi bời và bị trục xuất khỏi Sankt-Peterburg vì tội du đãng. Pierre trở về cố đô Moskva, nơi cha chàng đang sắp chết. Lão bá tước Bezoukhov rất giàu có, không có con, chỉ có Pierre là đứa con rơi mà ông chưa công nhận. Mấy người bà con xa của ông xúm quanh giường bệnh với âm mưu chiếm đoạt gia tài. Pierre đứng ngoài các cuộc tranh chấp đó vì chàng vốn không có tình cảm với cha, nhưng khi chứng kiến cảnh hấp hối của người cha lúc lâm chung thì tình cảm cha con đã làm chàng rơi nước mắt. Lão bá tước mất đi để lại toàn bộ gia sản cho Pierre và công nhận chàng làm con chính thức. Công tước Kuragin không được lợi lộc gì trong cuộc tranh chấp ấy bèn tìm cách dụ dỗ Pierre. Vốn là người nhẹ dạ, cả tin nên Pierre rơi vào bẫy và phải cưới con gái của lão là Hélène, một cô gái có nhan sắc nhưng lẳng lơ và vô đạo đức.
Về phần Andrei chàng quyết định gởi vợ cho cha và em chăm sóc sau đó gia nhập Quân đội Nga. Khi lên đường Andrei mang một niềm hy vọng là có thể tìm thấy ý nghĩa cuộc sống cũng như công danh trên chiến trường. Chàng tham chiến trận đánh Austerlitz - nơi Napoléon I đã đánh tan nát quân Liên minh Nga - Áo, bản thân chàng thương nặng, bị bỏ lại chiến trường. Khi tỉnh dậy chàng nhìn thấy bầu trời xanh rộng lớn và sự nhỏ nhoi của con người, kể cả những mơ ước, công danh và kể cả Napoléon I - vốn là một thần tượng của chàng. Andrei được đưa vào trạm quân y và được cứu sống. Sau đó, chàng trở về nhà chứng kiến cái chết đau đớn của người vợ trẻ khi sinh đứa con đầu lòng. Cái chết của Lisa, cùng với vết thương và sự tiêu tan của giấc mơ Toulon - cầu Arcole đã làm cho Andrei tuyệt vọng. Chàng quyết định lui về sống ẩn dật. Có lần Pierre đến thăm Andrei và đã phê phán cách sống đó. Lúc này, Pierre đang tham gia vào hội Tam điểm với mong muốn làm việc có ích cho đời.
Một lần, Andrei có việc đến gia đình bá tước Rostov. Tại đây, chàng gặp Natalia (Natasha) con gái gia đình của bá tước Rostov. Chính tâm hồn trong trắng hồn nhiên và lòng yêu đời của nàng đã làm hồi sinh Andrei. Chàng quyết định tham gia vào công cuộc cải cách ở triều đình và cầu hôn Natasha. Chàng đã được gia đình bá tước Rostov chấp nhận, nhưng cha chàng phản đối cuộc hôn nhân này. Bá tước Bolkonsky (cha của Andrei) buộc chàng phải đi trị thương ở nước ngoài trong khoảng thời gian là một năm. Cuối cùng, chàng chấp nhận và xem đó như là thời gian để thử thách Natasha. Chàng nhờ bạn mình là Pierre đến chăm sóc cho Natasha lúc chàng đi vắng. Natasha rất yêu Andrei, song do nhẹ dạ và cả tin nên nàng đã rơi vào bẫy của Anatole con trai của công tước Vassili, nên Natasha và Anatole đã định bỏ trốn nhưng âm mưu bị bại lộ, nàng vô cùng đau khổ và hối hận. Sau khi trở về Andrei biết rõ mọi chuyện nên đã nhờ Pierre đem trả tất cả những kỷ vật cho Natasha. Nàng lâm bệnh, người chăm sóc và thông cảm cho nàng lúc này là Pierre.
Vào lúc này, nguy cơ chiến tranh giữa Pháp và Nga ngày càng đến gần. Cuối năm 1811, quân Pháp tiến dần đến biên giới Nga, quân Nga rút lui. Đầu năm 1812, quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga. Cuộc Chiến tranh Vệ quốc Nga bùng nổ. Vị tướng già Mikhail Koutouzov được cử làm Tổng tư lệnh quân đội Nga. Trong khi đó, quý tộc và thương gia được lệnh phải nộp tiền và dân binh. Pierre cũng nộp tiền và hơn một ngàn dân binh cho quân đội. Andrei lại gia nhập quân đội, ban đầu vì muốn trả thù tình địch, nhưng sau đó chàng bị cuốn vào cuộc chiến, bị cuốn vào tinh thần yêu nước của nhân dân. Trong trận Borodino, dưới sự chỉ huy của vị Nguyên soái Koutouzov quân đội Nga đã chiến đấu dũng cảm tuyệt vời, với kết quả là chiến thắng lớn lao về mặt tinh thần. Andrei cũng tham gia trận đánh này và bị thương nặng. Trong lán quân y, chàng gặp lại tình địch của mình cũng đang đau đớn vì vết thương. Mọi nỗi thù hận đều tan biến, chàng chỉ còn thấy một nỗi thương cảm đối với mọi người. Chàng được đưa về địa phương. Trên đường di tản, chàng gặp lại Natasha và tha thứ cho nàng. Và cũng chính Natasha đã chăm sóc cho chàng cho đến khi chàng mất.
Sau trận huyết chiến ở Borodino, quân Nga rút khỏi Moskva. Quân Pháp chiếm được Moskva nhưng có tâm trạng vô cùng lo sợ. Pierre trở về Moskva giả dạng thành thường dân để ám sát Napoléon. Nhưng âm mưu chưa thực hiện được thì chàng bị bắt. Trong nhà giam, Pierre gặp lại Platon Karataev, một triết gia nông dân. Bằng những câu chuyện của mình, Platon đã giúp Pierre hiểu thế nào là cuộc sống có nghĩa.
Quân Nga bắt đầu phản công và tái chiếm Moskva. Quân Pháp rút lui trong hỗn loạn. Nước Nga thắng lợi bằng chính tinh thần của cả dân tộc Nga chứ không phải do một cá nhân nào, đó là điều Koutouzov hiểu còn Napoléon thì không. Sau chiến thắng, Koutouzov muốn cho nước Nga được nghỉ ngơi chứ chẳng muốn can thiệp thêm gì vào tình hình châu Âu.
Trên đường rút lui của quân Pháp, Pierre đã trốn thoát và trở lại Moskva. Chàng hay tin Andrei đã mất và vợ mình cũng vừa mới qua đời vì bệnh. Chàng gặp lại Natasha, một tình cảm mới mẻ giữa hai người bùng nổ. Pierre quyết định cầu hôn Natasha. Năm 1813, hai người tổ chức đám cưới. Bảy năm sau, họ có bốn người con. Natasha lúc này không còn là một cô gái vô tư hồn nhiên mà đã trở thành một người vợ đúng mực. Pierre sống hạnh phúc nhưng không chấp nhận cuộc sống nhàn tản. Chàng tham gia vào những hội kín - đó là các tổ chức cách mạng của những người tháng Chạp.
Hệ thống nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: Danh sách nhân vật Chiến tranh và hòa bình
Nhà Bolkonsky[sửa | sửa mã nguồn]
Lão công tước Nicolas Andreievich Bolkonsky, góa vợ, đại tướng tổng tư lệnh quân đội về hưu, thường được mệnh danh là Vua Phổ, cha của Andrei và Maria, một người thông minh ái quốc nhưng bảo thủ, kiêu căng, gàn dở, nghiêm khắc và cương nghị, căm ghét giới giao tế phù phiếm ở Kinh đô. Ông mất năm 1812 tại Smolenska.
Công tước Andrei Nicolaievich Bolkonsky, nhân vật trung tâm của tác phẩm, là con trai của công tước Bolkonsky, có tâm hồn và trí tuệ, tinh thần yêu nước, trọng danh dự, mang nhiều khát vọng và ước mơ cao đẹp. Ra trận với ước mộng trở thành một Napoléon của nước Nga. Đại diện cho tầng lớp thanh niên quý tộc tiến bộ đi tìm lý tưởng sống và tìm được lý tưởng chân chính khi thực sự chung một chiến hào với nhân dân chống ngoại xâm. Chàng mất năm 1812 do bị thương trong trận Borodino
Nữ công tước Maria Nicolaievna Bolkonskaia, con gái lão công tước Bolkonsky, em gái Andrei, dung mạo tầm thường xấu xí nhưng có một tâm hồn đẹp đẽ cao thượng, dịu dàng và mộ đạo, luôn sống vì người khác. Sau khi cha và anh mất, nàng kết hôn với Nicolas Ilitch Rostov năm 1814.
Công tước phu nhân Elisabeta Karlovna Meinena (Lisa), vợ Andrei, thường gọi là Công tước phu nhân nhỏ nhắn, mất năm 1806 sau khi sinh được một đứa con trai.
Tiểu công tước Nicolas Adreyevich Bolkonsky, con trai Andrei và Lisa, một thiếu niên nhiệt thành đa cảm, luôn muốn sống xứng đáng với người cha mà cậu tưởng nhớ và tôn thờ.
Amelia Evgenievna Bourienne, tùy nữ của cô Maria, một thiếu nữ Pháp xinh đẹp và lẳng lơ.
Gia đình Bá tước Rostov[sửa | sửa mã nguồn]
Bá tước Ilya Andreievich Rostov, một ông già hiền lành nhân hậu, vui vẻ, giản dị thật thà, hiếu khách, mất năm 1813.
Bá tước phu nhân Natalia Shishina, vợ bá tước Rostov.
Bá tước Nicolas Ilyich Rostov, con trai bá tước Rostov, anh trai Natasha, là một sĩ quan phiêu kị đẹp trai, nhiệt thành, chất phác, sùng kính hoàng đế Alexandre và rất mực hiếu thảo. Sau chiến tranh, chàng giải ngũ, kết hôn với Maria năm 1814.
Bá tước tiểu thư Vera Ilinichna Rostova, con gái cả của bá tước Rostov, xinh đẹp chững chạc nhưng luôn làm người khác khó chịu. Kết hôn với Alphonse Karlitch Berg Nicolas.
Bá tước tiểu thư Natalia Ilinichna Rostova (Natasha), con gái thứ ba của bá tước Rostov, là thiếu nữ yêu đời và tràn trề sức sống đã mang lại cho Andrei nghị lực vượt qua giai đoạn khó khăn nhất đời chàng: bị thương, vợ mất, con nhỏ. Andrei đã đính hôn với Natasha sau khi vợ Andrei chết, nhưng sau đó Natalia, do nhẹ dạ cả tin, đã phản bội Andrei khi bị Anatole quyến rũ. Cuối cùng, Natasha tái hôn với Pierre.
Pierre Ilyich Rostov (Petia), con trai út của bá tước Rostov, tử trận năm 1812.
Sonya Alexandrovna cháu gái họ của ông bà Rostov, sống trong gia đình từ nhỏ và là người yêu thời thơ ấu của Nicolas.
Alphonse Karlovich Berg Nicolas: sĩ quan chuyên nghiệp, chồng của Vera, thích bợ đỡ để có được công việc nhàn nhã.
Nhà Bezoukhov[sửa | sửa mã nguồn]
Lão bá tước Kiril Vladimirovich Bezoukhov, cha của Pierre, triều thần thời đại nữ hoàng Ecatherina, nổi tiếng giàu có và đào hoa, mất năm 1805.
Bá tước Pierre Kirilovich Bezoukhov (cũng Pyotr), là một chàng trai tốt bụng, ngây thơ hiền lành, bạn của Andrei, bị rơi vào cạm bẫy của thế giới quý tộc sau khi hưởng thừa kế gia sản của công tước Kiril Vladimirovich Bezoukhov, cưới Hélène (Ëlena) con gái công tước Kouraguine. Sau khi chán ghét thế giới quý tộc, chàng ra trận và tìm thấy lý tưởng sống ở đây. Âm mưu ám sát Napoléon bất thành, chàng trở thành hội viên của hội bí mật tiền thân của phái Cách mạng tháng Chạp. Pierre và Andrei đều trở thành những người anh hùng chân chính của nhân dân Nga trong máu lửa chiến tranh vệ quốc. Sau kết hôn với Natasha năm 1813.
Bá tước phu nhân Hélèna Vassilievna Kouraguina (Ëlena), con gái công tước Vassili Sergueievitch Kouraguine, là một người đàn bà đẹp tuyệt trần nhưng ích kỉ, dâm đãng và hư hỏng, trở thành vợ Pierre trong âm mưu của ông bố, lừa Pierre để kiếm chác từ món gia sản đồ sộ mà chàng thừa kế. Mất năm 1812 do bệnh.
Nữ công tước Catherina Semionova, cháu họ của lão bá tước, thường gọi là Catisha, hoặc cô Lớn
Nữ công tước Olga Semionova,cháu họ của lão bá tước, thường gọi là cô Nhỡ.
Nữ công tước Sophia Semionova, cháu họ của lão bá tước, thường gọi là cô út.
Nhà Kouraguine[sửa | sửa mã nguồn]
Công tước Vassili Sergueievich Kouraguine, cũng Basile, triều thần, một con người xảo quyệt mưu mô, hay tính toán để tư lợi.
Công tước phu nhân Alina Kouraguina, vợ công tước Kouraguine.
Thiếu công tước Hyppolyte Vassilievich Kouraguine, con trai cả của công tước Kouraguine, một anh chàng đần độn, lố bịch, thường bị đem ra làm trò hề.
Thiếu công tước Anatole Vassilievich Kouraguine, con trai công tước Kouraguine, em trai Hélène, một thanh niên đẹp trai nhưng hoang đàng, phóng đãng, người đã quyến rũ Natasha sau khi nàng đính hôn với Andrei. Mất năm 1812 do bị thương.
Gia đình công tước Droubetzkoi[sửa | sửa mã nguồn]
Công tước phu nhân Anna Mikhailova Droubetzkoia, quả phụ, bạn thân của bá tước phu nhân Rostova, một người đàn bà không có liêm sỉ, hay cầu cạnh, bợ đỡ để con trai thăng tiến.
Công tước Boris Droubetzkoi, quân nhân, lợi dụng, bợ đỡ để thăng tiến, người yêu thời thơ ấu của Natasha, sau cưới cô Julia Karaguina vì gia sản kếch sù của cô.

war and peace
Công tước phu nhân Julia Karaguina, một thiếu nữ xấu xí và giả dối nhưng giàu có, bạn thân của nữ công tước Maria, sau cưới Boris Droubetzkoi.
Tuyến nhân vật phụ[sửa | sửa mã nguồn]
Maria Dimitrievna Akhrossimova, mẹ đỡ đầu của Natasha, có biệt hiệu Hung long vì tính tình thẳng thắn cương trực đến lỗ mãng nhưng ai cũng yêu mến.
Vassili Dmitrievitch Denissov, bạn đồng ngũ của Nicolas Rostov, từng thầm yêu Natasha, tính tính can đảm, ngay thẳng, vui tươi.
Fiodor Ivanovich Dolokhov, bạn của Anatole, Rostov, một kẻ phóng đãng, đốn mạt, từng theo đuổi Sonia, dụ dỗ Nicolas vào cờ bạc, bị Pierre thách đấu súng do nghi ngờ y có dan díu với Hélène, nhưng trong quân ngũ là một anh hùng quả cảm, một người con chí hiếu.
Anna Pavlovna Scherera (cũng Annette), ngự tiền phu nhân, một người đàn bà của giới giao tế phòng khách, khinh người mà dối trá, ý kiến thay đổi như chong chóng, chuyên làm mụ mối.
Bilibine, nhà ngoại giao, bạn của Andrei, thuộc phe thân Pháp.
Joseph Alexeievitch Bazdeiev, ông già trong hội Tam điểm, khuyên Pierre vào hội, Pierre coi là ân nhân.
Platon Karataiev, bạn tù của Pierre, thuộc tầng lớp bình dân, nhân hậu, giản dị, qua những câu chuyện của mình đã làm Pierre hiểu ra nhiều ý nghĩa cuộc đời gần gũi hơn hẳn những lí thuyết nặng nề của hội Tam điểm. Bị xử tử năm 1812.
Alexandre I (1777-1825) Hoàng đế Nga, trị vì từ 1801 đến 1825.
Napoléon Bonaparte, Hoàng đế Pháp, đối đầu với Mikhail Koutouzov ở bên kia chiến tuyến.
Mikhail Ilarionovitch Koutouzov nguyên soái tổng tư lệnh tối cao của quân đội Nga trong liên minh Nga-Áo chống lại đội quân xâm lược của Napoléon Bonaparte, là người giản dị và bình thường, đại diện chân chính của cuộc chiến tranh yêu nước, hiện thân của trí thông minh và lòng dũng cảm của dân tộc Nga.
Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]
Chiến tranh và hòa bình là tiểu thuyết lớn nhất của Lev Tolstoy về nhiều phương diện, trên hết vì tính nhân văn trong bối cảnh chiến tranh là trọng tâm[2].
Về nghệ thuật, tác phẩm kết cấu dựa trên sự thống nhất hai mặt của chủ nghĩa anh hùng nhân dân và truyện kể lịch sử. Cốt truyện được xây dựng trên hai biến cố lịch sử chủ yếu đầu thế kỉ 19: cuộc chiến tranh năm 1805 và 1812, đồng thời phản ánh cuộc sống hòa bình của nhân dân và giai cấp quý tộc Nga vào các giai đoạn 1805-1812, 1812-1820. Các tình tiết và cốt truyện nói trên lại kết cấu tập trung xung quanh hai biến cố lịch sử chủ yếu: chủ đề nhân dân gắn bó khăng khít với chủ đề lịch sử, và đề tài chiến tranh quán xuyến toàn bộ tác phẩm đan chéo với đề tài về hòa bình[3]. Bởi vậy, truyện kể lịch sử cùng với chủ nghĩa anh hùng nhân dân là hai mặt cơ sở thống nhất tạo thành kết cấu hoàn chỉnh của sử thi, tạo nên mọi tình tiết trong tác phẩm và được hình tượng hóa theo quá trình xây dựng tác phẩm.
Một trong những đặc điểm nổi bật khác của Chiến tranh và hòa bình là nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Số phận nhân vật với những tâm trạng tinh tế đều gắn bó mật thiết với bước thăng trầm của lịch sử. Đây chính là điểm cách tân của Tolstoy về thể loại anh hùng ca, từ đó sáng tạo nên loại anh hùng ca hiện đại trong lịch sử văn học Nga và văn học thế giới[4].
Bản dịch Việt văn[sửa | sửa mã nguồn]
Chiến tranh và hòa bình đã được dịch Việt văn một số bản dịch 4 tập, trong đó có:
Bản dịch Chiến tranh và hòa bình của Hoàng Thiếu Sơn, Trường Xuyên, Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, bao gồm xuất bản phẩm lần đầu tiên tại Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội: tập 1 với phụ lục tóm tắt nội dung và bảng tra danh từ riêng gồm 586 trang in năm 1961, tập 2 gồm 602 trang, tập 3 gồm 638 trang chia làm 3 phần gồm 34 chương có tóm tắt nội dung và bảng tra danh từ lịch sử, địa lý cuối sách; tập 4 gồm 544 trang đều in năm 1962. Tất cả các tập đều có cỡ 13×19 cm. Sau đó bản dịch này được tái bản có sửa chữa bổ sung, in tại Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội: tập 1: 719 trang in năm 1976; tập 2: 592 trang in năm 1976, tập 3: 558 trang in năm 1979; tập 4: 477 trang. In lại tại Nhà xuất bản văn học Hà Nội năm 2001: tập 1: 825 trang; tập 2: 724 trang; tập 3: 705 trang.
Bản dịch Chiến tranh và hòa bình của Nguyễn Hiến Lê, in lần đầu tại Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn 1969: tập 1: 758 trang, tập 2: 729 trang; tập 3: 733 trang; tập 4: 716 trang. Bản in tại Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1993, tập 1: 612 trang, tập 2: 594 trang, tập 3: 585 trang, tập 4: 616 trang, cỡ giấy 19 cm. Tái bản in tại Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh in năm 2000, tập 1: 816 trang, tập 2: 778 trang, tập 3: 731 trang, tập 4: 809 trang, cỡ giấy 18 cm.






chien_tranh_va_hoa_binh__lev_tolstoy

pdf-icon

Chiến Tranh và Hòa Bình. Lev Tolstoy

Dịch giả Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Hoàng Thiếu Sơn, Thường Xuyên.














Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/06/2022(Xem: 4620)
Kính dâng đến vị Thầy mà con quý kính sau nhiều năm cộng tác chung trên trang nhà Quảng Đức, Chủ biên, Trụ trì Tu Viện Quảng Đức kiêm Tổng Thư ký hội đồng điều hành GHPGVNTN Hải ngoại Úc Châu và Tân Tây Lan: TT Thích Nguyên Tạng. Dường như vận mệnh tôi gắn liền với chữ Canh cô, Mậu quả lại mang thân người nữ nên chưa bao giờ tôi được kề cận nương tựa vào sự chỉ giáo thật kỹ lưỡng của một bậc Đạo Sư dù rằng tôi đã có một Sư Phụ Viên Minh tuyệt vời và quý Sư Thúc danh tăng, nhưng quý Ngài vẫn cách xa vạn dặm nên trong suốt gần 9 năm trường chỉ hội ngộ hai lần còn thì chỉ qua online thăm hỏi vắn tắt, những buổi trà đạo, những bài pháp thoại để rồi tự mình học lấy điều hay lẽ phải và chiêm nghiệm thêm thôi.
30/04/2022(Xem: 5485)
Chúng tôi là những nữ sinh vào lớp đệ thất khi trường Lê Quí Đôn Nha Trang mới mở. Thầy Võ Hồng dạy hai môn Vạn vật và Việt văn, Thầy cũng là người chỉ đạo coi sóc lớp tôi. Thầy thường chạy chiếc velo đen, cao người, thật hiền và rất tế nhị. Thầy biết hết lý lịch và tánh tình từng học sinh trong lớp.
26/04/2022(Xem: 11786)
Lão trượng qua cầu Hoài sao chẳng tới Chân vẫn bước mau Tâm như hư thái
12/04/2022(Xem: 6838)
Môn học về tiếng mẹ đẻ của một dân tộc là giá trị tiêu biểu về tính nhân văn của con người và đất nước đó. Thử mở chương trình học về ngôn ngữ bản xứ của các nước có gia tài đồ sộ về ngôn ngữ và văn chương sẽ thấy rõ ràng sự nhất quán về danh xưng của môn học tiếng mẹ đẻ từ cấp tiểu học đến đại học của xứ đó: Trung Văn (中文), Anh Văn (English), Pháp Văn (Française)... Việt Văn (Ngữ Văn)! Các danh xưng Trung Văn, Anh Văn, Pháp Văn… đều có lịch sử suốt nhiều trăm năm; chỉ riêng lịch sử Ngữ Văn thì phải tính bằng số chục.
11/04/2022(Xem: 6154)
Các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cho rằng Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ niên hiệu Vĩnh Bình đời Hán Minh Đế (58-75) căn cứ vào sự kiện vua nằm mộng thấy một người thân vàng ròng bay vào cung điện. Có vị cận thần tâu đó là đức Phật ở xứ Thiên Trúc - đấng Giác ngộ trên cả trời người. Vua liền sai người đến Tây Vực tìm cầu Phật pháp. Thật ra, Phật giáo vào Trung Quốc trước cả đời Hán Minh Đế. Lúc bấy giờ, Đạo giáo đang rất thịnh hành. Thời điểm này, Phật giáo chỉ thuần là một loại tôn giáo tế tự, học thuyết đặc thù của Phật giáo chỉ là quỉ thần báo ứng, gần với thuật cúng tế, bói toán của Trung Quốc. Vì thế, tăng sĩ Phật giáo cùng hoạt động song hành với các đạo sĩ của Đạo giáo. Tín đồ Phật giáo yêu chuộng cả đạo sĩ của Đạo giáo, nên cả hai đều hoạt động mạnh mẽ trong hoàng tộc, chứ không ảnh hưởng lớn đến dân chúng.
09/04/2022(Xem: 10314)
Mục đích của cuộc thi giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các việc xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày, được miêu tả, bằng nhận thức, lý giải và thái độ ứng dụng sống động qua những lời dạy của Đức Phật. Các thể tài có thể gợi ý như là chuyện công ăn việc làm, chuyện gia đình, học đường, chuyện về đại dịch hay chuyện trong nhà ngoài phố.v.v.. Bài tham dự có thể trình bày dưới nhiều hình thức như tác phẩm nghệ thuật, truyện ký, truyện ngắn, tạp bút, thơ… Người viết hoàn toàn tự do chọn đề tài, miễn có liên quan đến tư tưởng Đạo Phật và nội dung có thể chuyển tải được cách ứng dụng giáo lý vào đời sống hàng ngày.
01/04/2022(Xem: 17908)
Nếu có những khúc ngâm đoạn trường trong văn học thi ca làm cho người đọc qua nhiều thế hệ trải mấy nghìn năm vẫn còn cảm xúc đòi đoạn thì Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc là hai khúc ngâm tiêu biểu trong văn chương Việt Nam; cũng như Trường Hận Ca, Tam Lại Tam Biệt và Tần Phụ Ngâm được xem là “tam bi hùng ký” trong văn chương Trung Quốc thời Hậu Đường. Người Việt yêu thi ca thường ưa chuộng dư âm cùng ý vị lãng mạn và bi tráng giàu kịch tính hơn là vẻ bi phẫn và hùng tráng của hiện thực máu xương trong thi ca đượm mùi chinh chiến. Tâm lý nghệ sĩ nầy giúp lý giải một phần câu hỏi còn nằm trong góc khuất văn học là tại sao cho đến nay, hơn cả nghìn năm sau, tác phẩm Tần Phụ Ngâm vẫn chưa có người dịch ra tiếng Việt.
20/03/2022(Xem: 7244)
Với tập sách nhỏ nầy – tác giả không hề nghĩ đó là công trình nghiên cứu; mà chỉ xin được gọi là nén tâm hương, là tấc lòng cảm cựu dâng lên anh linh của người thiên cổ - biểu tỏ sự ngưỡng mộ văn tài và xin được chia sẻ nỗi đau đời, đau người của tiền nhân và hậu học. Sỡ dĩ không gọi là công trình nghiên cứu về Nguyễn Du vì tôi không làm theo hệ thống chương mục của tổng thể tác phẩm, mà chỉ viết theo ngẫu cảm của người đọc đối với mỗi nhân vật trong tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh”, lại nữa; tôi cũng là một cá thể quanh năm đau yếu – khi viết đề tài này là tôi đang nằm tại chỗ, vì xẹp cột sống lưng và bao chứng bệnh khác – phải chăng là đồng bệnh tương lân???
20/03/2022(Xem: 11218)
Những tưởng Ninh Giang Thu Cúc sẽ gác bút sau tập nhận định “Đọc Kiều Thương Khách Viễn Phương” nhưng nào có được - bởi nghiệp dĩ đeo mang nên mới có Kiều Kinh gởi đến quý vị. Với tuổi tác và bệnh trạng – tác giả muốn nghỉ viết để duy dưỡng tinh thần, trì chú niệm kinh và chung sống an yên cùng căn bệnh nghiệt ngã là xẹp cột sống lưng... Thế nhưng; với tiêu chí – còn thở là còn làm việc, tác giả không cam chịu là người vô tích sự vì thế NGTC vẫn viết (dù trong tư thế khó khăn) mong đóng góp chút công sức nhỏ nhoi cho nền Văn học nước nhà.
24/02/2022(Xem: 19755)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.