Vết Cũ Trăng Soi

21/04/201719:21(Xem: 16572)
Vết Cũ Trăng Soi


Vang Trang

Vết Cũ Trăng Soi

​​

 

Sao lại soi trăng tìm vết cũ

Mà không là vết cũ trăng soi

Nhân ảnh mờ sương phảng phất non đoài

Nghiệp thức đó dõi theo từng gót ngọc

​​

 

Trí nhớ cũ một thời vang vọng

Trí quên nay vưu vật muôn vàn

Trải tâm từ hóa giải nghiệp châu loan

Để tâm năng xuôi theo dòng trường thức

 

Thức trường khởi một sinh thể thực

Giải kết cho người thanh thản cho ta

Quá khứ cách ngăn hiện tại ngọc ngà

Mọi tồn tại là phút giây hiện hữu

​​

 

Thôn Vỹ Dạ đẹp hàng cau trường cữu

Sánh vai cùng hàng dừa ngọt lòng nhân

Quá khứ rời xa hiện tại thật gần

Chỉ hiện tại mới thật là hiện hữu.

Trần Việt Long

6 April 2017



vang trang-2

Soi Trăng Tìm Vết Cũ

 

Nước mắt em – Ngục tù giam hãm

Chôn chân anh từ cuộc luân hồi

Ngần năm lưu luyến mờ cay mắt

Mịt mù hồn hoang lạc vết hương

 

Mười ba năm vụt vèo thoáng mộng

Biệt ly từ độ dạ tương sầu

Mây nước cô liêu vờn thăm thẳm

“Đêm Tàn bến Ngự” ngóng chơ vơ

 

Xuân về khơi nỗi buồn thiên cổ

Hồn phủ rêu phong tự thủa nào

Trên ni dưới nớ sầu ngơ ngác

Tháng ngày hiu hắt bóng thiên di

 

Mai nhủ lòng an nhiên xa phố

Nhạt màu son phấn nhạt mù tăm

Đối bóng soi trăng tìm dấu cũ

Lạnh lùng sương rớt bến phù hư

 

04.04.2017

Lê Diễm Chi Huệ

 


vang trang

Đêm Liêu Trai

 

Em hong tóc đợi anh về ve vuốt

Rưng rưng chờ giọt lệ rớt xanh xao


Như thường lệ Diễm thắp nhang bàn thờ mỗi đêm. Từ khi Bảo trở về từ bên kia thế giới, nàng đốt thêm một cây nhang cho Bảo với lời nhắn gửi là nàng vẫn bình yên. Bình yên bởi nàng bây giờ sống lặng lẽ, một ngày như mọi ngày chỉ giao thiệp với một vài người – rất thân hoặc rất sơ- chưa đếm đủ một lóng tay. Bao nghiệp chướng, vô minh và nước mắt đã đi qua. Là người sống nội tâm từ nhỏ, Diễm sở hữu một tâm hồn mong manh, mẫn cảm, buồn vui khác người.  Sự trở về của Bảo đánh thức một hình ảnh, một quá khứ nằm sâu trong tiềm thức khiến nàng trở nên như một kẻ mộng du. Bảo đã cho nàng hiểu rằng thế giới vô hình là có thật. Sống và chết dường như không có khoảng cách. Miền tâm thức vô định liên kết giữa thực thể hữu hình và vô hình đan xen bởi dòng nghiệp thức như một chuỗi dài bất tận. Cuối cùng ở cái tuổi không còn rực rỡ hoa mộng nhưng vẫn còn trong thềm xuân sắc, Diễm tìm đến bến cô liêu như một cuộc truy hoan đầy thi vị. Điều mà nàng không thể ngờ rằng bao năm qua nàng vẫn có Bảo. Bảo vẫn ngóng trông theo bước chân nàng dù không còn thân xác.  Đi về giữa khoảng thinh không bao bận, trầm mình trong đọa đày mà nàng chẵng hề hay biết. Diễm chỉ nhớ mỗi lần nàng buồn bã đều nghĩ đến Bảo, khổ đau cũng nghĩ đến Bảo như một nguồn an ủi vô  biên. Nàng đi bên cuộc đời với trùng trùng nỗi nhớ, mịt mù bâng khuâng.

Bước đến vách tường, đưa tay tắt bóng điện trần nhà rồi tiến về phía cây đàn dương cầm ở góc phòng, bật cây đèn ngủ để ánh sáng lờ mờ, ấm cúng hắt ra căn phòng khách mênh mông rồi đến chiếc sofa xoả mái tóc đang bối cao và đặt lưng xuống nằm nghỉ. Diễm lim dim hồi tưởng lại đoạn đối thoại mấy tháng trước…

“Em càng nhớ anh càng khổ”

“Nhưng làm sao em quên được”

“Đừng khóc!”

“Hôm nay em hát anh nghe không?”

“Đêm Tàn Bến Ngự”

“Ừ, em hát trong xe đó”

“Mấy hôm nay về ghé thăm. Chiều nay về ghé bữa cơm nhưng ngồi chơi không ăn. Thấy đồ ăn ngon!”

“Anh ngồi ở đâu?”

“Ở chén cơm đó!”

“Từ khi anh về mỗi buổi cơm tối em đều để một cái chén và đôi đũa mời anh ăn chung”

“Anh có nhớ em không?”

“Nhớ mới ghé thăm”

“Anh biết bao năm em nhớ anh không?”

“Biết chớ!”

“Lâu lâu anh về cho em mơ đi”

“Em sợ mà”

“Không dạo ni em không sợ nữa”

“Có chuyện anh mới về. Bình thường anh không về làm phiền”

“Anh ở dưới kia, lâu lâu anh mới ghé”

“Anh thấy em già hơn không?”

“Đẹp!”

“Mấy hôm nay về thăm, thương quá. Thương em nhưng không dám hun”

“Sao không hun?”

“Không có được. Ở dưới người ta không cho”

Bảo nói đến đây, Diễm không dằn lòng được, nàng sụt sùi khóc.

“Không có khóc!”

“Anh có hun tóc em không?”

“Không được, anh chỉ được hôn chân em thôi”

“Em trên này có chuyện anh về”

“Ở dưới đó người ta biết hết. Họ nói cho anh nghe”

“Tại sao anh ở lâu, tội em em chịu”

“Tội chung”

“Là sao?”

“Em làm anh gánh. Anh làm em gánh”

“Cộng nghiệp mà!”

“Anh đi nhưng tâm hồn anh luôn bên em”

“Vậy em làm gì anh cũng biết hả? Em khóc anh biết không?”

“Biết hết!”

“Sao biết?”

“Người bên kia thế giới mà”

“Em ơi càng thương càng khổ. Khổ người ở lại và người ra đi”

“Nói chút đi rồi anh sắp đi!”

“Là sao Bảo, anh đừng đi”

“Sao anh phải đi?”

“Có tín hiệu báo”

“Không, anh đừng đi”

“Không được khóc!”

“Sao không cho em khóc?”

“Khóc anh buồn!”

“Đi không được!”

Bảo giơ tay đấm vào ngực. Diễm không dám khóc to nhưng giọng mếu máo

“Anh về cho em khóc được không?”

“Về đã hay!”

“Anh ơi, anh ơi!”

“Nghe!”

“Đã nói không khóc mà!”

“Anh còn thương em không?”

“Thương”

Diễm bật khóc thành tiếng nhưng một vài phút sau, nàng lấy lại bình tĩnh

“Em không khóc nữa . Em xin lỗi”

“Anh đi, ở lại mạnh giỏi”

​​

“Anh ơi, em thương anh nghe”

“Nghe rồi, thôi đi”

….

Diễm  rùng mình, toàn thân ớn lạnh. Từ bao giờ, tất cả các giác quan của nàng trở nên nhạy bén lạ lùng, nhất là thính giác. Diễm có thể cảm nhận sự  hiện hữu của Bảo bất cứ lúc nào Bảo xuất hiện, chỉ cần cái ớn lạnh, âm thanh gõ nhẹ bên tai là nàng biết ngay. Diễm nhớ lại có lần hỏi Bảo:

“Anh về khi nào thì cho em tín hiệu để em biết”

“Em sẽ biết”

“Em người trần mắt thịt sao biết được”

​​​​

“Lúc đó sẽ hay!”

Bảo – không hương không sắc-  vất vưởng giữa thinh không, đi đi về về thăm nàng. Một chút da diết, se sắt nhói vào tim rồi giọt nước mắt ứa ra từ đuôi mắt chầm chậm rỉ xuống bên má. Một giọt, hai giọt tiếp nhau rơi lã chã làm ướt đẫm hai má. Nàng bước chậm vào phòng ngủ. Ánh trăng hắt vào những khe hở cửa sổ, những chiếc lá đong đưa nhảy múa như ma mị trên lùm cây hắt vào vách tường.Tiếng giựt nước vang lên từ nhà tắm kế bên phòng ngủ. Vài phút sau, âm thanh gõ nhẹ bên tai, bên gối. Tiếng rệp rạp của vách tường và tiếng chân người từ trên lầu vang lên. Diễm hiểu ngay điều gì đang xảy ra.  Dường như ai đó đang lay nhẹ bên vai.  Nàng khẽ gọi thầm: “Bảo ơi!”

Đêm cho những khát khao rạo rực, những mộng mị yêu đương của những đôi tình nhân trên dương thê’. Đêm cho những vong hồn chưa siêu thoát vất vưởng mịt mù giữa hai cõi âm dương, những ân tình chưa dứt cuộc trả vay. Diễm xoay nghiêng người, đưa tay hất ngược mái tóc dài ra sau mặt gối để không bị gãy.  Diễm cảm giác có bàn tay mát lạnh vuốt lên làn da. Một vệt sáng mờ mờ như một chiếc bóng lóe bên vách tường. Hơi thở  Diễm dồn dập. Đầu nàng lùng bùng và lịm vào giấc…

Tiếng tu hú vọng xa gần bên kia đồi báo hiệu trời hừng sáng. Diễm trở mình, nheo mắt nhìn ra khung cửa sổ. Xung quanh, nhà hàng xóm vẫn im lìm yên giấc. Âm thanh gõ nhẹ không còn bên tai. Diễm kéo cho ngay chiếc đầm ngủ xốch xếch, phía trước bị kéo xệch qua một bên, nhoẻn miệng cười biết rằng Bảo đã đi. Nàng ngồi dậy đưa tay bối mái tóc lòa xòa lên cao khỏi gót và bước vội vào phòng tắm.

04.14.2017

Lê Diễm Chi Huệ
http://www.lediemchihue.com/?p=3815

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/10/2012(Xem: 7497)
Sáng nay, 11-10-2012, đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (China Central Television’s – CCTV) thông báo tin nhà văn Mạc Ngôn (Mo Yan) đang sinh sống ở Bắc Kinh được giải thưởng Nobel Văn chương năm 2012 chỉ cách 10 phút sau khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển thông báo tin trúng giải. Tiếp theo là báo chí toàn quốc Trung Hoa đã rộn ràng thi nhau không tiếc lời ca tụng “vinh dự nước nhà”.
10/10/2012(Xem: 16274)
Không hiểu tại sao người ta gọi con vật ấy là chó. Cái tên này không gây nên một ấn tượng đẹp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là đối với tôi, một người không mấy ưa loài động vật này. Lý do, có lẻ từ một kỷ niệm thuở mới lớn.
03/10/2012(Xem: 8316)
法住天寒極地空花如雪鎖禪扃生死遙程幾許夢回故里 雲行色没浮漚暮影凝烟参晚课唄吟長夜有時聲斷洪洲 Âm: Pháp Trụ thiên hàn cực địa, không hoa như tuyết tỏa thiền quynh, sinh tử diêu trình, kỷ hứa mộng hồi cố lý. Vân hành sắc một phù âu, mộ ảnh ngưng yên tham vãn khóa, bái ngâm trường dạ, hữu thời thanh đoạn hồng châu Ôn dịch nghĩa: Cực thiên Bắc, tuyết dồn lữ thứ, sắc không muôn dặm hoa vàng, heo hút đường về, non nước bốn nghìn năm soi nguồn đạo PHÁP Tận hồng châu, chuông lắng đồi thông, bào ảnh mấy trùng sương đẫm, mênh mông sóng cuộn, dòng đời quanh chín khúc rọi bóng phù VÂN
01/10/2012(Xem: 6104)
Trong thơ văn Phật giáo có hai câu thơ quen thuộc : Thấy nguyệt tròn thì kể tháng Nhìn hoa nở mới hay xuân. Các bạn trẻ hôm nay có thể nghĩ rằng đó chỉ là văn chương, là nói quá, thậm chí là nói không thật. Không phải vậy đâu. Thời nay của các bạn, gần như nhà nào cũng có tờ lịch treo tường, có xấp lịch gỡ từng ngày một. Hồi xưa thì không. Năm mươi năm trước, ở mỗi làng chỉ có chừng hai nhà mua được cuốn lịch Tàu, ghi ngày tháng âm lịch.
11/09/2012(Xem: 5808)
Mỗi khi đọc Lại-Tra-Hòa-La trong kinh Trung A Hàm 1 thì lúc nào tôi cũng liên tưởng đến nhân vật Siddharta trong tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch) của Hermann Hesse. Và tôi vẫn nghĩ rằng thế nào thì Hermann Hesse cũng có đọc Trung A Hàm, vì đọc tiểu sử của văn hào Đức từng đoạt giải Nobel Văn chương vào năm 1946
13/08/2012(Xem: 5504)
Năm nay, thời tiết tháng ba bỗng lạnh hơn những năm trước rất nhiều (hay tại mình già hơn năm trước mà cảm thấy thế?) Gió tháng ba này cũng lạ! chúng mang cái buốt giá căm căm của tháng ba miền Bắc Việt Nam, chứ không phải là gió xuân của Cali ấm áp Hoa Kỳ như thuở nào. Ai bảo đất trời tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông không có chợt nắng chợt mưa, như chúng sanh chợt cười, chợt khóc!
09/08/2012(Xem: 18616)
Âm vang của tiếng vọng “Hòa Bình” là niềm khao khát của nhân loại nói chung và của từng dân tộc nói riêng. Thế kỷ 20 với hai cuộc thế chiến hãi hùng đã đẩy đưa nhân loại xuống vực thẳm của điêu linh và chết chóc. Chiến tranh đồng nghĩa với tàn phá và hủy diệt, và cũng chính trong đêm đen tột cùng của chiến tranh, tiếng vọng “Hoà Bình” đã vang lên để thức tỉnh lòng người. Hòa bình đồng nghĩa với cọng tồn và an lạc, là niềm ước ao của mọi tâm hồn hướng thiện. Chiến tranh xuất phát từ tham, sân, si, thì hòa bình phải khởi đi từ lòng nhân ái và lửa Từ Bi. Đó là ý niệm bàng bạc trong toàn bản trường ca thi phẩm của Tuệ Đàm Tử, tức Hòa Thượng Thích Giác Lượng
24/06/2012(Xem: 17498)
Bạch Xuân Phẻ là nhà thơ không xa lạ gì với nhiều người. Anh còn có biệt-hiệu là Tâm Thường Định. Thơ anh đã xuất-hiện trên nhiều trang mạng, trên báo-chí trong và ngoài nước. Anh đã cho ấn-hành bốn tập thơ “Hương Lòng”, “Mẹ, Cảm-Xúc Và Em”, “AWAKEN: Buddhism, Nature, and Life”, và “Tưởng Niệm và Tri Ân”.
23/05/2012(Xem: 4968)
Một vầng sáng giữa trời. Hoa đốm trên không chăng? Hay biểu tượng trầm mặc của người thơ? Là trăng. Trăng ư? Thiên cổ lại có trăng là Mẹ Mẹ của nhân gian trong cơn đại mộng li bì. Của muôn vạn con trăng nhảy múa giữa mắt người hôn trầm vạn tưởng. Mặt gương tròn lớn.
23/05/2012(Xem: 9634)
Bà già nhìn xuống dòng sông nước đục lờ, dõi theo một khúc gỗ đang trôi lững lờ theo con nước dập dềnh lên xuống đến khúc quanh ở cuối làng, nơi hai ống khói cao nghệu của nhà máy thả lên trời những cụm khói đen bay tản lạc trong gió chiều hoàng hôn. “Mới đó mà đã 20 năm, ông nhỉ?” bà nói mà không nhìn vào ông già ngồi cách mình một sải tay, trên phiến đá bám đầy rêu xung quanh hông.