Thanh Thản đời hưu

14/01/201115:12(Xem: 5099)
Thanh Thản đời hưu


vo dai sinh 

Thanh thản đời hưu

 

Cách đây hơn một tuần, trong lúc chuẩn bị nấu nước pha trà buổi sáng, tự dưng lòng tôi nhớ quay quắt những chén trà năm xưa tôi đã từng chia sẻ với Thầy Tâm Phương trong những buổi sáng tĩnh lặng tại ngôi chùa nghèo Quảng Đức ở Broadmeadows. Tôi đã vội gọi Thầy Tâm Phương và hết sức may mắn Thầy vẫn còn nhớ tên tôi..dù rằng Thầy đã quên mất giọng nói quen thuộc của tôi rồi! Thầy rất mừng vì nghe được qua một số Phật tử  biết cuộc sống của tôi lúc nầy an nhàn lắm. Tôi thưa với  Thầy về cuộc đời  hưu của tôi mấy năm gần đây cũng như nói với Thầy là tôi thèm vô cùng được cùng Thầy nhâm nhi lại những chén trà xưa!

Đời hưu, nghĩ lại, có lẽ sướng thật, một đặc ân của tuổi già! Không có gì hết, không cần gì hết, không muốn gì hết. Hương vị... vô danh thật tuyệt vời!

Nói không phải khoe chớ cuộc đời tôi hình như đi từ thái cực này sang thái cực khác. Lúc nhỏ, cuộc sống cơ cực chắc chẳng ai cơ cực hơn. Bây giờ sống thảnh thơi... cũng chẳng ai thảnh thơi bằng! Thi sĩ Nguyễn Tuân có một câu thơ sáng tác khá lâu rồi... sao mà tiên đoán giống cuộc đời hưu hiện tại của tôi quá: "Cuộc đời vui quá..không buồn được"

Người xưa thường nói cuộc đời có đầy đủ "thư, điểu, thụ, ngư" là cuộc đời thần tiên. Quanh tôi giờ đã có đủ cả. Sách báo đủ loại, chim hót líu lo, cây xanh quanh nhà... lại điểm thêm những con cá vàng tung tăng bơi lội  trong hồ cạnh hòn non bộ chẳng thiếu gì!

Nói về chim, có một câu chuyện khá vui như thế này. Ở một nhà nọ có nuôi một con chim nhốt trong lồng mà hót ra rả suốt ngày. Tiếng hót ra rả đó được diễn dịch mỗi người một kiểu tùy theo tâm trạng, hoàn cảnh người nghe. Bà cụ nhà kế bên chép miệng "khổ chưa, khổ chưa". Lũ trẻ giởn ngoài rào lải nhải "ngộ không, ngộ không". Bà Tư buôn gánh bán bưng lại ganh tỵ "chi khổ, chi khổ" ... không làm gì như mày mà vẫn có ăn, tao tự nguyện biến thành chim! Riêng tôi, tiếng hót của bầy chim nhỏ cạnh nhà thủy tạ sau hè... nghe sao mà buồn ngủ quá! Mới đặt lưng xuống võng kẽo kẹt vài vòng, đọc mới vài hàng quyển sách... đôi mắt đã lim dim theo tiếng ngân nga quen thuộc của chim rồi.

Hồi xưa Mẹ tôi nói khi tôi còn học tiểu học, thầy bói đã nhìn bộ dạng lờ khờ của tôi mà phán rằng " lù khù có ông cù độ mạng". Qua đây, ở tuổi hơn 40, anh Nguyễn Ngọc Diệp xem tử vi tôi và lại phán " số cậu có quới nhân giúp đỡ". Mà thật vậy, về vườn tược, số tôi có cả ông cù độ mạng lẫn quới nhân giúp đỡ.  

Vườn trước nhà đã có anh Lâm Hữu Xưa khéo léo cắt tỉa gọn gàng .Còn vườn sau lại được anh Nguyễn Như Liên năn nỉ... xin làm giúp, có anh Nguyễn Nam Sơn theo vịn giúp vài ngày. Anh Sơn trước năm 1975 là thượng cấp của tôi. Còn anh Liên tôi được gặp một lần trước khi anh rời Melbourne về miền đất ấm Queensland, nhưng sau này trở nên thật gần gũi từ khi anh tình cờ đọc bài viết về Mẹ tôi . Anh Liên bây giờ với gia đình tôi hết sức thân thiết.. . Vợ tôi nhiều lần đã thì thầm lo lắng "sau này khi anh Liên không còn nữa, nhìn vườn hoa nhớ anh chắc khóc hết nước mắt".  Thoạt đầu chỉ dự định xây hòn non bộ với nước chảy róc rách sau nhà theo cố vấn của thầy phong thủy... nhưng khi tôi về Việt Nam sang lại thấy có thêm hai nhà thủy tạ với cây xanh rợp mát... khiến tôi hoa cả mắt và muốn về hưu ngay. 

Vườn tôi có khá nhiều loại cây, trồng dưới đất có, trong các chậu kiểng có...và có cả các cây lan treo cho hoa đủ hương đủ màu. Anh Lâm Thành Hổ lại còn ưu ái từ Sydney mang xuống tặng hai cây chuối con, bây giờ chuối ở nhà tôi đã có mấy bụi xanh um và mỗi năm cho gia đình tôi vài ba quày chuối ngọt lịm...treo lủng lẳng trong nhà thủy tạ.

Mới mấy năm sống đời hưu trí mà tôi đã có thói quen ngâm nga lúc nào không hay. Mỗi lần nghe tôi ngâm nga, chắc là vụng về, khó nghe lắm, vợ con tôi cười khúc khích, thế nhưng lòng tôi lại cảm thấy hết sức thanh thản, nhẹ nhàng!

Rằng xưa có kẻ từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say...

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi trong đời có điều gì luyến tiếc.. . chắc là tôi không chút do dự trả lời rằng 'về hưu quá trễ'. Sao lại để danh lợi buộc ràng đến hơn 60 tuổi mới đủ can trường về hưu! Đào Tiềm xưa đã có đắn đo gì đâu khi từ quan với câu nói bất hủ ' Chẳng lẽ ta đây chỉ vì 5 đấu gạo mà khom lưng cúi đầu mãi sao?'

Bài ' Qui khứ lai từ' ông sáng tác ở thời điểm đó được dịch lại thành thơ, nay đọc lại lòng vẫn cảm thấy lâng lâng:

Về đi sao chẳng về đi

Ruộng hoang vườn rậm, còn chi không về?

Đem tâm để hình hài sai khiến

Còn ngậm ngùi than vãn với ai?

........

Lối đi lạc chửa xa là mấy

Nay khôn rồi chẳng dại như xưa

Con thuyền thuận nẻo gió đưa

Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo

.......

Cuối cùng rồi, hãy bằng lòng với số phận mình. Cuộc đời tốt nhất là lúc về già giữ được hai tiếng bình an là may mắn lắm rồi.

Đàn chim cạnh nhà tôi vẫn bay lượn, vẫn hót ra rả quanh năm. Với tôi dù đó là tiếng kêu khổ chưa, khổ chưa, hay chi khổ, chi khổ... tôi không màng, miễn là nó đang hàng ngày giúp tôi tìm được sự thanh thản, an nhàn là đủ !  Tôi thật sự chẳng mong gì hơn.

 

Melbourne, mùa đông 2011
Võ Đại Sinh

(cùng một tác giả)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/09/2018(Xem: 16996)
Cảm Đức Từ Bi (sách pdf) của Cư Sĩ Tâm Huy Huỳnh Kim Quang
28/08/2018(Xem: 9832)
Trong bài Đôi dòng cảm nghĩ về cuốn Võ Nhân Bình Định của Quách Tấn và Quách Giao do nhà xuất bản Trẻ phát hành vào năm 2001, Giáo sư Mạc Đường, nguyên viện trưởng viện Khoa Học xã hội TP.HCM có cho biết rằng, họ Quách, mặc dù ông tổ vốn dòng Mân Việt nhưng không chịu sống dưới chế độ Mãn Thanh nên đã rời bỏ Trung Quốc di dân sang Việt Nam. Đến thế hệ Quách Tấn và con là Quách Giao đã trên 300 năm. Vì sống tại Tây Sơn đã nhiều thế hệ “ nên họ Quách có biết dược nhiều sự kiện lịch sử ở địa phương. Nhất là thời đại Tây Sơn và phong trào Cần Vương. Gia phả của họ Quách đều có ghi lại các sự kiện lịch sử quan trọng này.
26/08/2018(Xem: 5208)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ. Tuần trước, rừng ở quận hạt lân cận bị cháy suốt mấy ngày khiến bầu trời mù mịt khói đen, nắng không xuyên qua được, chỉ ửng lên cả một vùng trời màu vàng nghệ lạ thường. Nay thì trời trong không một gợn mây. Bầy quạ đen lại tranh nhau miếng mồi nào đó, kêu quang quác đầu hè. Rồi im. Bầy chim sẻ đi đâu mất dạng gần một tháng hè gay gắt nắng. Bất chợt, có con bướm cánh nâu lạc vào khu vườn nhỏ. Và gió từ đâu rung nhẹ những nhánh ngọc lan đang lác đác khai hoa, thoảng đưa hương ngát hiên nhà. Phép lạ đã đến. Gió đầu thu.
20/08/2018(Xem: 6727)
Đọc “Đường vào luận lý” (NYÀYAPRAVESA) của SANKARASVAMIN (Thương Yết La Chủ), Cầm quyển sách trên tay độ dày chỉ 290 trang khổ A5 được nhà xuất bản Hồng Đức tại Việt Nam in ấn và do Thư Viện Huệ Quang ở Sài Gòn phát hành, lại chính do Giáo Sư Lê Tự Hỷ ký tặng sách giá trị nầy cho chúng tôi vào ngày 14 tháng 7 năm 2018 nầy, nên tôi rất trân quý để cố gắng đọc, tìm hiểu cũng như nhận định về tác phẩm nầy.
15/08/2018(Xem: 12360)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
13/08/2018(Xem: 5621)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
11/08/2018(Xem: 17313)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 12628)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 8750)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 10586)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng