Tôi học tiếng Đức

23/09/201509:49(Xem: 5452)
Tôi học tiếng Đức
Germany

Tôi học tiếng Đức

NH – Hoàng Thị Doãn



Sau hai tháng ở trại tị nạn để hoàn tất các thủ tục giấy tờ, tôi được sở lao động cho đi học tiếng Đức trong 10 tháng.

Lần này tôi đi học không phải với tâm trạng „một sớm sương thu đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi …“ cũng không còn dư âm của những tiếng trống trường xưa vẫn mãi còn vang vọng để lòng tôi lại thấy nao nao mỗi độ thu về mà tôi phải lầm lũi lội tuyết để đi trong băng giá lạnh lùng. Ôi, 10 tháng đi học cực hình như đi lao động khổ sai vậy. Tôi đã già rồi, đầu óc có còn chỗ trống đâu mà nhét chữ vào, nhất là cái thứ chữ hiểm hóc đó; nhưng nếu không chịu đi học thì lại càng khổ nữa, vừa dốt vừa lãnh tiền trợ cấp quá ít làm sao đủ sống! Sự kiểm soát những ngày đi học rất nghiêm ngặt, nghỉ học ngày nào trừ tiền ngày đó. Một ngày học 5 tiếng, quá sức nặng nề đối với tuổi già như tôi, vậy mà cũng phải cố gắng nhồi nhét được chữ nào mừng chữ đó, thật tội nghiệp cho thân tôi biết là bao!

Những ngày  còn ở lại Việt Nam, theo lời khuyên của hai đứa con ở Đức, tôi đã phải cố gắng đi học môn sinh ngữ này. Ngày đi buôn chợ trời, tối đi học ở trung tâm đêm, ngặt một nổi thứ tiếng này không mấy ai ưa nên học hết lớp 1 hoặc quá lắm đến lớp 2 là đa số bỏ cuộc. Tôi muốn học cho hết cuốn sách căn bản (lớp 4) cũng không có lớp nào học, đành tối về nhà tự học thêm lấy một mình!

Ngày đầu tiên khi đến trường sinh ngữ ở đây, tất cả phải qua một kỳ thi xếp lớp. Trước đó, tôi có hỏi ý kiến các con tôi là có nên bỏ giấy trắng để được xếp vào lớp vở lòng không vì tôi muốn học lại từ đầu, nhưng các con tôi không tán thành, cho rằng học như vậy phí quá so với sức học của tôi.

Cũng nhờ có học trước ở Việt Nam và nghe lời khuyên của các con nên khi vào thì tôi có làm được phần nào bài vở. Hai ngày sau đến xem kết quả, một mình tôi được lệnh là ngồi chờ ông Hiệu trưởng giải quyết, tôi hoang mang vô cùng, không biết sự việc gì sẽ xảy ra cho mình đây! Thì ra với bài trắc nghiệm đã làm, tôi được xếp vào một lớp có trình độ cao hơn các người quen đã cùng đi thi với tôi. Nghe vậy tôi sợ quá, năn nỉ xin cho tôi vào lớp 1 nhưng ông Hiệu trưởng cương quyết không cho, cũng bảo rằng học như vậy nó phí đi. Eo ôi, tôi bị đưa vào một lớp mà ông thầy giảng bài toàn tiếng Đức, tôi như người từ cung trăng rơi xuống, chẳng hiểu mô tê gì cả, đầu óc quay mòng mòng, cứ sợ ông Thầy kêu lên hỏi tôi biết trời trăng gì mà trả lời. Cuối giờ học, sợ quá tôi chạy đến văn phòng xin đổi lớp ngay. Ngày mai lại tôi được đưa vào một lớp tương đối có trình độ thấp hơn, nhưng khi bước vào thấy toàn mũi lõ mắt xanh tôi lại một phen hoảng hồn! Một mình tôi lạc lõng giữa những người xa lạ như vậy làm sao tôi không sợ được.

Sau một tuần học buồn và cô đơn quá, tôi lại xin cô giáo cho tôi về lại lớp có người quen của tôi nhưng cô giáo không bằng lòng. Cô bảo tôi phải học ở lớp này mới mong khá được, chứ về học với các bạn cứ nói tiếng Việt hoài làm sao giỏi tiếng Đức được. Thế là ngày đêm vò võ một mình, tôi cặm cụi học, hôm nào bài vở nhiều quá, tôi cho cả nhà ăn cơm với trứng luộc. Tôi phải cần cù kiên nhẫn để học, khổ sở vô cùng, học đâu quên đó. Vào lớp tôi sợ nhất là mục kể chuyện - mục này do một Thầy phụ trách - vốn liếng tiếng Đức của mình quá ít ỏi vậy mà một tuần phải một lần nghe đọc truyện và kể lại. Thầy đọc một đoạn rồi ngừng kêu một người kể lại, tôi run quá chừng, cứ sợ đến phiên mình không kể được thật ê cả mặt. Vào những giờ đó ước gì dấu được cái mặt mình xuống gầm bàn thật hạnh phúc vô cùng. Ông Thầy dạy lại quá nghiêm khắc, trong giờ học không cho lật từ điển, không cho xài tiếng Pháp hoặc tiếng Anh . Tôi luôn luôn dấu quyển tự điển dưới hộc bàn, chữ nào không hiểu lẹ lẹ lật ra và cũng chính vì vậy mà tôi đã cống hiên cho cả lớp một trận cười bò lăn bò càng, cười chảy cả nước mắt!

          Số là hôm đó Thầy giảng động từ FEDERN. Tôi không hiểu gì cả nên vội vàng cúi xuống lật từ điển ra. Sau khi tìm ra nghĩa của nó rồi, tôi tự tin ngồi khoanh tay trước mặt đợi Thầy gọi. Đúng như vậy, Thầy bắt tôi giảng nghĩa, tôi không đủ từ để diễn đạt và xin Thầy cho làm một ví dụ. Tôi đã đặt một câu với nội dung là „ Tôi đã làm mất lòng Fred“ (anh chàng ngồi bên cạnh tôi). Không hiểu sao khi vừa nói xong câu đó, cả lớp và Thầy cười ầm lên, có người không nín được phải nằm lăn trên bàn mà cười, còn tôi thì mang vẻ mặt „con nai vàng ngơ ngát đạp trên lá vàng khô“, hết nhìn người này đến nhìn người khác. Sau một trận cười thỏa thích, Thầy đã xin lỗi vì đã cười nhiều quá và cho phép tôi lật tự điển ra xem. Eo ôi! Các bạn ơi, thiên địa ơi! Thay vì nghĩa của nó là „làm mất lông“, tôi đã đọc ra „Làm mất lòng“!

Dần dà với thời gian, tôi kiên nhẫn học, chăm chỉ cần cù nên đã thấy tiến bộ, thật là một điều đáng mừng. Ngàymãn khoá, tôi đã nhận được một cái chứng chỉ với lời phê quá tốt đẹp mà chính tôi cũng không ngờ; tôi đã rưng rưng nước mắt trước sự cảm động của Ban Giảng Huấn. Cũng nhờ đó mà tôi đã vượt qua được nhiều khó khăn khi đi xin việc làm nơi cái xứ nặng đầu óc kỳ thị này.

Ngày nay, dù tiếng Đức của tôi có khá hơn trước, nhưng cũng không làm sao giỏi hoàn toàn như lòng tôi mong ước! Ngôn ngữ là cả một lẽ sống, nhiều khi muốn diển tả hết tất cả ý nghĩ của mình nhưng không đủ từ nên cứ ấm ức trong lòng mãi. Ra đi muộn màng quá nên đành chấp nhận sự thua thiệt của cuộc đời mình vậy!

Nguyên Hạnh - HTD
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/08/2018(Xem: 12850)
Nếu chúng ta từ phương diện thư tịch nhìn về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam, cho thấy số lượng kinh sách trước tác hay dịch thuật của người Việtquá ư khiêm tốn,nội dung lại thiên về thiền họcmang đậm nét cách lý giải của người Hoa về Phật học Ấn Độ, như “Khóa Hư Lục”, “Thiền Uyển Tập Anh” (禪苑集英), “Thiền Tông Chỉ Nam”, “Thiền Tông Bản hạnh”…Điều đó minh chứng rằng, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu nặng cách lý giải Phật học của người Hoa. Nguyên nhân nào dẫn đến sự ảnh hưởng này, theo tôi ngoài yếu tố chính trị còn có yếu tố Phật giáo Việt Nam không có bộ Đại tạng kinh bằng Việt ngữ mang tính độc lập, để người Việt đọc hiểu, từ đó phải dựa vào sách của người Hoa, dẫn đến hiểu theo cách của người Hoa là điều không thể tránh. Nếu thế thìchúng ta nghĩ như thế nào về quan điểm độc lập của dân tộc?Tôi có cảm giác như chúng ta đang lúng túng thậm chí mâu thuẫngiữa một thực tại của Phật giáo và tư tưởng độc lập của dân tộc.
13/08/2018(Xem: 6012)
Nếu “lá sầu riêng„ chúng ta ví biểu tượng của sự hy sinh, kham nhẫn, nhịn nhục, chịu sầu khổ riêng mình không muốn hệ lụy đến ai, thì Lá Sầu...Chung, một giống lá mới trồng hôm nay phát sinh từ lòng nhỏ nhen, ích kỷ sẽ đem sầu khổ chung cho bao người. Đó là nội dung của vở bi kịch sau đây qua sự diễn xuất của hai mẹ con. Kính mời Quí vị thưởng thức. Đây, bi kịch “Lá Sầu Chung„ bắt đầu.
11/08/2018(Xem: 19792)
Bà hiện còn khỏe, minh mẫn, sống ở Nha Trang. Bà thành hôn với nhà văn B.Đ. Ái Mỹ 1940, cuộc tình sau 47 năm (tức năm phu quân mất 1987), bà sinh hạ 14 người con: 7 trai, 7 gái. Tất cả 14 người con của bà đều say mê âm nhạc, thích hát và hát hay, nhất là người con thứ ba - Qui Hồng. Hơn ½ trong số này cầm bút, làm thơ, viết văn, vẽ, điêu khắc và dịch thuật. Người có trang viết nhiều nhất là người con thứ 10: Nhà văn Vĩnh Hảo, với 13 đầu sách đã phổ biến… Bà là nữ sĩ nổi tiếng không những về thơ ca mà còn cả thanh sắc, thêm vào tính tình hiền diu, đằm thắm nên được văn thi hữu thời bấy giờ quí trọng. Bà là nữ sĩ nổi danh từ thập niên 30 vế cả ba mặt Tài, Sắc và Đức.
09/08/2018(Xem: 12968)
Nghĩ Về Mẹ - Nhà Văn Võ Hồng, Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Tựa cửa hôm mai là lời của mẹ Vương Tôn Giả. Mẹ bảo Vương: "Nhữ chiêu xuất nhi vãng lai" mày sáng đi mà chiều về, "tắc ngô ỷ môn nhi vọng" thì ta tựa cửa mà trông. "Mộ xuất nhi bất hoàn" chiều đi mà không về, "tắc ngô ỷ lư nhi vọng" thì ta tựa cổng làng mà ngóng. Hai câu mô tả lòng mẹ thương con khi con đã lớn. Trích dẫn nguyên bản để đọc lên ta xúc cảm rằng bà mẹ đó có thật.
09/08/2018(Xem: 9500)
sáng hôm nay, chúng tôi vào lớp đựơc nửa giờ thì đoàn Thanh niên Phật Tử kéo đến đóng cọc chăng dây chiếm nửa sân trường. Tiếp tới, họ chia nhau căng lều đóng trại. Tôi thì thầm hỏi Nhung: --Không nghỉ lễ mà sao họ cắm trại? Nhung che miệng - sợ thầy ngó thấy - nói nhỏ: --Ngày rằm tháng Bảy, lễ Vu Lan. Tôi mừng quá: ngày mai được nghỉ lễ.
06/08/2018(Xem: 11000)
Miền đất võ Bình Định cũng là miền đất Phật, miến “Đất LànhChim Đậu”, được nhiềuchư thiền Tổ ghé bước hoằng hóa và chư tôn thiền đức bản địa xây dựng mạnh mạch Phật đạo từ trong sâu thẳm, qua nhiểu giai đọan, thời gian, đã xây dựng nên hình ảnh Phật giáo Bình Định rạng rở như ngày hôm nay. Đặc biệt trước tiên có thể kề đến Tổ Nguyên Thiều ( 1648 – 1728 ), Hòa thượng Thích Phước Huệ ( 1875 – 1963 ), Hòa Thượng Bích Liên-Trí Hải ( 1876 – 1950 ), v…v…Nêu chúng ta tính từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần ( 1619 – 1682 ), khi Tổ Nguyên Thiều từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang An Nam và an trú ở Quy Ninh (tức Bình Định ngày nay) vào năm Ất Tỵ (1665 ) và kiến tạo chùa Thập Tháp Di Đà , thí Phật giáo Bình Định đã thực sự bước vào trang sử chung trong công cuộc hoằng hóa của Phật giáo Việt Nam. Hơn thế nữa, Tổ Nguyên Thiều còn là cầu nối giữa Phật giáo hai nước An Nam và Trung Hoa, trao đổi nhiều kinh điền có giá trị để cùng nhau tu học. Điều này cho thấy, lý tưởng Từ Bi và con đường hoằng
05/08/2018(Xem: 5153)
Thời gian như bóng câu qua cửa sổ, mới đó mà đã mấy chục năm theo bốn mùa thay lá thay hoa và đời riêng của mỗi người có quá nhiều đổi thay. Ngồi nhớ lại những kỷ niệm thời còn đi dạy trường Sương Nguyệt Anh, biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn ngập tràn làm xao xuyến cả tâm tư! Hình ảnh buổi lễ bế giảng năm học 1978 bỗng rõ lên trong ký ức tôi như một đóm lửa nhóm trong vườn khuya. Năm đó tôi dạy tới ba bốn lớp 12, lớp thi nên cả Thầy trò mệt nhoài. Không đủ giờ ở lớp nên nhiều khi tôi phải vừa dạy thêm vào sáng Chủ Nhật, vậy mà các em vẫn đi học đầy đủ. Tới ngày bế giảng Cô trò mới tạm hoàn tất chương trình, như trút được gánh nặng ngàn cân ! Hôm đó, tôi lại được Ban Giám Hiệu phân công trông coi trật tự lớp 12C1, có nghĩa là phải quan sát bắt các em ngồi ở sân trường phải yên lặng chăm chú theo dõi chương trình buổi lễ, nghe huấn từ của ban Giám Hiệu.
03/08/2018(Xem: 5866)
ĐA TẠ VÀ TRI ÂN Những nhà dịch thuật kinh sách Nam Tông, Bắc Tông và Mật Tông Không hiểu từ bao giờ khi đã bước vào thế giới triết học, khoa học và tôn giáo của Đạo Phật, mặc dù nghe rất nhiều pháp thoại đủ mọi trình độ tôi vẫn không tin có THỜI MẠT PHÁP. Vì sao vậy? Có lẽ lý do tôi biện minh sẽ không được nhiều người chấp nhận, nhưng theo thiển ý của tôi, từ khi nền công nghệ văn minh vi tính hiện đại phát triển, ta không cần chờ đợi một quyển sách được in ra và chờ đợi có phương tiện thích nghi để giữ nó trong tủ sách gia đình, ta vẫn có thể theo dõi qua mạng những bài kinh luật luận được dịch từ tiếng Pali hay Sankrit hoặc những bản Anh Ngữ, Pháp ngữ mà người đọc dù có trình độ học vấn vào mức trung trung vẫn không tài nào hiểu rõ từng lời của bản gốc.
03/08/2018(Xem: 21877)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của
29/07/2018(Xem: 6301)
Nhà văn Hoàng Mai Đạt --cũng là Chủ Bút Nhật Báo Viễn Đông -- cho biết số báo ra mắt đã mất nhiều tháng mới làm xong, nhưng hy vọng tương lai sẽ được chư tôn đức Tăng Ni và quý cư sĩ hỗ trợ để thuận lợi cho việc hoằng pháp. Số ra mắt Tinh Tấn Magazine in trên giấy láng, nhiều màu, dày 90 trang, khổ báo tạp chí. Trong số ra mắt Tinh Tấn Magazine, có nhiều bài tập trung chủ đề Quan Thế Âm Bổ Tát hoặc chủ đề từ bi, trong đó có bài: Hạnh Nguyện Cứu Độ Chúng Sanh của Đức Quán Thế Âm (tác giả HT Thích Tịnh Từ);