Tưởng rằng đã quên

27/08/201021:33(Xem: 5388)
Tưởng rằng đã quên
hoacucdon_1

Tuy không phải là bạn thân nhưng tôi quen biết anh ấy từ lâu, thời còn ở trung tiểu học. Anh ấy thuộc một gia đình khá giả, bố mất sớm, thông minh học giỏi. Ra trường, làm việc cho một công ty lớn, được cấp nhà ở, và ai cũng có thể thấy ngay anh là một người thành đạt, có một tương lai xán lạn và là niềm hãnh diện cho gia đình. Nhưng…những chữ nhưng thường làm dang dở cuộc đời. Có nhiều chuyện thật oái oăm và không thể lường trước được có thể xảy ra làm thay đổi một cuộc đời. Và những chuyện không ngờ đó một hôm đã xảy ra, đã đưa anh vào cảnh tù tội một cách oan ức. 
 
Thời buổi nhiễu nhương, thực có những điều không thể lý giải được. Công ty anh làm việc tuyên bố phá sản, anh bị vu cáo dính vào một đường dây nào đó trong việc mua bán không hợp pháp và bị tịch thu tài sản, bị kết án năm năm tù. Ở trong tù, anh suy nghĩ lại mới thấy những cái phi lý của cuộc đời, mới nhận ra anh chỉ là nạn nhân của một sự tranh giành quyền lợi của những kẻ thế tục.

Sau năm năm, anh được phóng thích. Vào tù không có một bản án, ra tù không có gì hơn một tờ giấy phóng thích. Anh vội vã về với gia đình nhưng lúc đến căn nhà cũ ở thành phố thì anh mới hay là căn nhà đã thuộc chủ quyền người khác. Mẹ anh về ở với người em gái trong một căn nhà thuê ở ngoại ô. Chán nản, hoang mang và sôi sục những hận thù trong lòng, anh tìm về căn nhà cô em gái, thăm mẹ và em. 
 
Nhưng chỉ vài hôm sau, anh cảm thấy không thể nào tiếp tục ở trong cái thành phố đầy những kỷ niệm trộn lẫn với lừa đảo, hận thù này được. Và anh quyết định bỏ thành phố ra di với một mớ hành trang thu gọn, mặc cho mẹ và em gái năn nỉ, đến một tỉnh ở miền Nam và bắt đầu cuộc đời mới với hai bàn tay trắng.

Ở một nơi, dù không đến nỗi cách xa vạn dặm với chỗ cũ, và cũng tạm gọi là đất khách quê người, anh hùng hục làm việc, không từ bất cứ một thứ công việc nặng nhẹ nào, chỉ để qua thì giờ vàmong quên hết những thù hận lúc nào cũng như lửa cháy trong lòng. Khó thay. Anh thường ngủ với ác mộng, và đêm thì dài vô tận. Anh tự thấy mình là một con người đau khổ, và gặp bất kỳ ai quen biết, anh cũng kể lại cho họ nghe về nỗi hận thù oan ức của anh, những mong trút bớt cho ngừoi khác nỗi đau khổ của mình.

Một hôm anh đi ngang qua một ngôi chùa. Khung cảnh trang nghiêm yên tĩnh làm anh cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái. Thỉnh thoảng có tiếng chuông vọng ra rồi tan dần trong cái tĩnh mịch của buổi chiều tà làm anh tưởng như đang lạc vào một thế giới khác, và trong phút chốc, anh tưởng như quên được những ám ảnh nặng nề trong lòng. Anh tản bộ vào điện thờ và trang nghiêm lễ Phật. Sau đó anh gặp vị hòa thượng trụ trì. 
 
Chuyện trò một lúc, anh lại thấy không thể không kể cho vị hòa thượng này nghe những nỗi khổ tâm của anh. Mỗi lần được thố lộ những khổ đau trong lòng, anh lại thấy được nhẹ nhàng phần nào. Hòa thượng trụ trì nghe anh nói hết tâm tư, rồi mời anh thường lui tới chùa đàm đạo, nghe kinh kệ và tham dự những buổi thuyết giảng về Phật pháp ở chùa, mục đích để có thể giúp anh quên bớt những hận thù đã trở thành một ám ảnh.

Từ đó, anh thường lui tới ngôi chùa trên, chuyên trò với hòa thượng trụ trì. Về sau, anh xin được ở lại chùa sau khi đi làm việc về. Dần dần, anh bỏ luôn công việc, xin hòa thượng xuống tóc quy y và trở thành một Ty-kheo, hàng ngày tụng kinh niệm Phật, nghe hòa thượng giảng kinh. Anh là một người thông minh nên hiểu và thuộc kinh một cách dễ dàng, và anh chuyên tâm tu hành, mục đích chỉ muốn được thân tâm an lạc, quên đi những thù hận dai dẳng. Mấy năm sau, anh được hòa thượng trụ trì cho thay ngài để thuyết giảng với Phật tử về Phật pháp.

Trong một lần nói về đề tài “Làm thế nào để quên thù hận”, ban đầu, anh thấy rất hứng khởi. Hôm đó anh đứng trên bục giảng trước hàng trăm Phật tử, bắt đầu nói về lòng từ bi, hỷ, xả…và thực tế nhất là anh đem trường hợp chính bản thân của mình để làm thí dụ. Anh thao thao bất tuyệt kể lại chuyện hơn mười năm trước, anh bị những nỗi oan khiên như thế nào…
 
Những hình ảnh ngày xưa như hiện rõ trước mắt. Ngực anh ngột ngạt, đôi mắt đỏ dần và giọng nói của anh bắt đầu sắt lại. Nỗi thù hận tràn ngập sống lại trong lòng, biến anh thành một người khác, dù anh đang mặc y phục của một nhà sư. Hội trường im phăng phắc, mọi người nhạc nhiên nín thở. May thay, vị hòa thượng xuất hiện như một vị cứu tinh. Ngài đến gần, vỗ vào vai anh nhè nhẹ và nói nhỏ: “Con hãy bình tâm lại”. Anh giật mình tỉnh lại, như vừa trở về từ một thế giới nào khác.

Tối hôm đó, anh ngồi sám hối với thiền sư trụ trì gần như suốt đêm và anh thấy công phu hàm dưỡng của anh chưa đến đâu. Anh muốn từ giã ngôi chùa mà anh cho là vẫn chưa giúp đỡ được gì anh trong việc tu tập. thiền sư nhìn anh thương xót và hỏi: “Con chỉ luôn luôn nhớ đến những khổ đau người khác tạo ra cho con, thế có bao giờ con nghĩ đến một chút hạnh phúc của một người nào đã đem lại cho con chưa?”. 
 
Anh trả lời: “Chưa có ai đem hạnh phúc đến cho con cả”. Thiền sư cười: “Nếu thế thì trước tiên con nên oán hận mẹ con, là người đã đem con đến với cuộc đời đau khổ này. Từ lúc sinh ra con đến nay, bà không sống với con được bao lâu, và con cũng chưa làm một điều gì để trả hiếu cho mẹ. Nếu con không bao giờ có thể quên những thù hận trong lòng thì ta e sẽ có ngày con sẽ thù hận chính con vì con đã quên mất người thân yêu nhất trong đời con mà chưa có một chút gì gọi là báo đáp. Ngày mai con có thể rời chùa, và đi đâu, tự mình con lựa chọn”.

Anh ngồi yên suy nghĩ và bỗng nhiên anh nghĩ đến mẹ anh. Phải rồi, anh đã lớn lên trong vòng tay của mẹ, nhưng khi vừa lập nghiệp, thành công trong cuộc sống, tính ra anh chưa ở với mẹ anh được bao lâu cho đến khi bị tù tội. Hận thù làm anh quên mất mẹ, bây giờ ngồi nhớ lại, đúng là anh chỉ là đứa con vừa vô dụng, vừa bất hiếu. Một thời gian dài tù tội rồi xa xứ, anh chưa làm được một điều gì để cho mẹ được vui lòng, mà chỉ nghĩ đến những thù hận ăn sâu trong tâm khảm. 
 
Bây giờ anh chẳng biết mẹ anh già như thế nào và sức khỏe ra sao. Bất giác anh rùng mình. Quả là anh đã từng có hạnh phúc; và anh chỉ mất hạnh phúc khi anh rời xa mẹ. Khi anh bị hàm oan, người mẹ đã từng hết lòng mang lại hạnh phúc cho anh thì anh chưa bao giờ nghĩ tới, chỉ vì anh bận tâm với những oán hờn. 
 
Bấy lâu nay, những hận thù đã tiêu hủy cuộc đời của anh, đã làm cho anh sống không khác gì một xác chết. Anh chẳng làm được một điều gì ích lợi cho bản thân và gia dình. Nghĩ đến mẹ, anh chợt ý thức được bốn chữ “bản lai diện mục” và nhận ra rằng, mẹ là chỗ để quay về. Trong phút chốc, những oán thù trong lòng anh tiêu tan. Anh quỳ xuống lạy vị thiền sư xin sám hối. 
 
Vị thiền sư chỉ cười nhân ái và nói: “lâu nay thầy không bao giờ nhắc đến điều đó với con, vì thầy nghĩ chưa đến lúc. Bây giờ con đã ngộ ra được, thì không cần phải ở đây, con cũng sẽ được thanh thản. Có những điều cần nên quên đi để cuộc sống có ý nghĩa, nếu những điều đó chẳng giúp ích gì cho cuộc sống hiện tại của con. Đi đi, hãy trở về với gia đình và bất cứ lúc nào trở lại đây, nếu còn duyên, thầy sẵn sàng chờ đợi con”.

Anh bạn tôi từ giã vị thiền sư, trở về nơi chốn cũ. Ít lâu sau, vị thiền sư nhận được một lá thư ngắn: “Bạch Thầy, con đã về với gia đình. Cuộc sống luôn luôn có những khó khăn, nhưng con tâm nguyện sống thế nào cho thật tử tế theo lời Thầy dạy để được thân tâm an lạc”.

Câu chuyện chỉ đến đó vì tôi chưa bao giờ gặp lại sau khi anh ấy rời chùa.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 162
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/10/2012(Xem: 6066)
Ông Don Jacquish ở Mỹ đã tỉ mẫn trồng hàng cây số hoa hướng dương để phục vụ khách tham quan gây quỹ nghiên cứu bệnh ung thư, sau khi vợ ông qua đời.
15/10/2012(Xem: 7487)
Sáng nay, 11-10-2012, đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (China Central Television’s – CCTV) thông báo tin nhà văn Mạc Ngôn (Mo Yan) đang sinh sống ở Bắc Kinh được giải thưởng Nobel Văn chương năm 2012 chỉ cách 10 phút sau khi Hàn Lâm Viện Thụy Điển thông báo tin trúng giải. Tiếp theo là báo chí toàn quốc Trung Hoa đã rộn ràng thi nhau không tiếc lời ca tụng “vinh dự nước nhà”.
10/10/2012(Xem: 16249)
Không hiểu tại sao người ta gọi con vật ấy là chó. Cái tên này không gây nên một ấn tượng đẹp theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là đối với tôi, một người không mấy ưa loài động vật này. Lý do, có lẻ từ một kỷ niệm thuở mới lớn.
03/10/2012(Xem: 8302)
法住天寒極地空花如雪鎖禪扃生死遙程幾許夢回故里 雲行色没浮漚暮影凝烟参晚课唄吟長夜有時聲斷洪洲 Âm: Pháp Trụ thiên hàn cực địa, không hoa như tuyết tỏa thiền quynh, sinh tử diêu trình, kỷ hứa mộng hồi cố lý. Vân hành sắc một phù âu, mộ ảnh ngưng yên tham vãn khóa, bái ngâm trường dạ, hữu thời thanh đoạn hồng châu Ôn dịch nghĩa: Cực thiên Bắc, tuyết dồn lữ thứ, sắc không muôn dặm hoa vàng, heo hút đường về, non nước bốn nghìn năm soi nguồn đạo PHÁP Tận hồng châu, chuông lắng đồi thông, bào ảnh mấy trùng sương đẫm, mênh mông sóng cuộn, dòng đời quanh chín khúc rọi bóng phù VÂN
01/10/2012(Xem: 6088)
Trong thơ văn Phật giáo có hai câu thơ quen thuộc : Thấy nguyệt tròn thì kể tháng Nhìn hoa nở mới hay xuân. Các bạn trẻ hôm nay có thể nghĩ rằng đó chỉ là văn chương, là nói quá, thậm chí là nói không thật. Không phải vậy đâu. Thời nay của các bạn, gần như nhà nào cũng có tờ lịch treo tường, có xấp lịch gỡ từng ngày một. Hồi xưa thì không. Năm mươi năm trước, ở mỗi làng chỉ có chừng hai nhà mua được cuốn lịch Tàu, ghi ngày tháng âm lịch.
11/09/2012(Xem: 5788)
Mỗi khi đọc Lại-Tra-Hòa-La trong kinh Trung A Hàm 1 thì lúc nào tôi cũng liên tưởng đến nhân vật Siddharta trong tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch) của Hermann Hesse. Và tôi vẫn nghĩ rằng thế nào thì Hermann Hesse cũng có đọc Trung A Hàm, vì đọc tiểu sử của văn hào Đức từng đoạt giải Nobel Văn chương vào năm 1946
13/08/2012(Xem: 5498)
Năm nay, thời tiết tháng ba bỗng lạnh hơn những năm trước rất nhiều (hay tại mình già hơn năm trước mà cảm thấy thế?) Gió tháng ba này cũng lạ! chúng mang cái buốt giá căm căm của tháng ba miền Bắc Việt Nam, chứ không phải là gió xuân của Cali ấm áp Hoa Kỳ như thuở nào. Ai bảo đất trời tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông không có chợt nắng chợt mưa, như chúng sanh chợt cười, chợt khóc!
09/08/2012(Xem: 18593)
Âm vang của tiếng vọng “Hòa Bình” là niềm khao khát của nhân loại nói chung và của từng dân tộc nói riêng. Thế kỷ 20 với hai cuộc thế chiến hãi hùng đã đẩy đưa nhân loại xuống vực thẳm của điêu linh và chết chóc. Chiến tranh đồng nghĩa với tàn phá và hủy diệt, và cũng chính trong đêm đen tột cùng của chiến tranh, tiếng vọng “Hoà Bình” đã vang lên để thức tỉnh lòng người. Hòa bình đồng nghĩa với cọng tồn và an lạc, là niềm ước ao của mọi tâm hồn hướng thiện. Chiến tranh xuất phát từ tham, sân, si, thì hòa bình phải khởi đi từ lòng nhân ái và lửa Từ Bi. Đó là ý niệm bàng bạc trong toàn bản trường ca thi phẩm của Tuệ Đàm Tử, tức Hòa Thượng Thích Giác Lượng
24/06/2012(Xem: 17480)
Bạch Xuân Phẻ là nhà thơ không xa lạ gì với nhiều người. Anh còn có biệt-hiệu là Tâm Thường Định. Thơ anh đã xuất-hiện trên nhiều trang mạng, trên báo-chí trong và ngoài nước. Anh đã cho ấn-hành bốn tập thơ “Hương Lòng”, “Mẹ, Cảm-Xúc Và Em”, “AWAKEN: Buddhism, Nature, and Life”, và “Tưởng Niệm và Tri Ân”.
23/05/2012(Xem: 4964)
Một vầng sáng giữa trời. Hoa đốm trên không chăng? Hay biểu tượng trầm mặc của người thơ? Là trăng. Trăng ư? Thiên cổ lại có trăng là Mẹ Mẹ của nhân gian trong cơn đại mộng li bì. Của muôn vạn con trăng nhảy múa giữa mắt người hôn trầm vạn tưởng. Mặt gương tròn lớn.