Ánh mắt Thế Tôn

30/08/201307:11(Xem: 7902)
Ánh mắt Thế Tôn

Sakya_Muni_64






Theo quan niệm dân gian, đôi mắt mỗi người được coi là cửa sổ của tâm hồn. Thế thì ai ai cũng có hai cửa sổ. Cửa sổ rộng rãi thì nhà được sáng sủa, thoáng mát; cửa sổ chật hẹp thì nhà bị u tối, nóng bức. Cửa sổ là phương tiện giúp ta nhìn ra bên ngoài, thấy cảnh thấy người mà mở lòng giao tiếp. Cửa sổ còn có tác dụng làm tăng vẻ đẹp của căn nhà, nên thường được trang trí lộng lẫy, gây cảm xúc cho chủ thể và đối tượng:

“Ai bảo anh là thi nhân cho đời em đau khổ

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ cho vướng nợ thi nhân”

Cửa sổ của căn nhà là như vậy, còn cửa sổ của tâm hồn thì sao? Xưa nay biết bao ngôn từ hoa mỹ hay ngữ khí e dèø trước ánh mắt của từng người tại thế:

“Người khôn con mắt đen sì,

Người dại con mắt nửa chì nửa thau”

“Những người ti hí mắt lươn,

Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”

“Những ai con mắt lá răm,

Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền”

Cụ thể nhất là theo phong tục Việt Nam, ông cha ta thường nhờ người mai mối dẫn con đi coi mắt vợ chứ không bao giờ đi coi mũi vợ, tai vợ, hay miệng vợ. Vì sao? Vì đôi mắt kia hẳn đã lưu lộ ít nhiều sắc thái thẩm mỹ, hay ẩn tàng tư chất kế thừa của một dòng tôc. Biện pháp tuyển chọn dâu con như thế tuy có vẻ phiến diện nhưng không kém phần thực dụng và hiệu quả.

Thế Tôn là bậc Đạo sư của nhân thế, là Đấng cha lành của muôn loài. Với Ngài thì không hề thấy khuôn mẫu nào là mày ngài mắt phượng. Ánh mắt là ánh mắt, cũng như con người là con người; không có con người Bà-la-môn hay con người Sát-đế-lỵ. Chỉ có ánh mắt từ bi, trí tuệ hay sân hận, vô minh; tâm hồn vị tha, lân mẫn hay ích kỷ, bạo tàn. Có thể nói suốt đời Thế Tôn, từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, rồi xuất gia tu tập, hàng phục chướng duyên, chứng nhập Phật trí, thuyết pháp độ sanh, cho đến lúc sắp nhập niết bàn, nằm giữa hai cây Sa-la, Ngài luôn tiếp xúc với vạn loại hữu tình bằng ánh mắt từ bi vô lượng: Từ nhãn thị chúng sanh.

Ngay từ thời niên thiếu, thái tử Tất-đạt-đa đã thể hiện lòng thương yêu chim muông thú vật. Một hôm, Tất-đạt-đa và Đề-bà-đạt-đa đang chơi trong hoa viên, thấy đàn thiên nga bay qua, Đề-bà-đạt-đa trương cung bắn rơi một con. Tất-đạt-đa nhanh tay bế chim vào lòng, vuốt ve âu yếm. Đề-bà-đạt-đa nhào tới đòi chủ quyền. Tất đạt-đa không trả lời, chỉ đưa mắt nhìn người em họ với mật ý:

“Hình phạt, ai cũng kinh,

Sinh mệnh, ai cũng tiếc,

Lấy ta suy ra người,

Chớ giết, chớ bảo giết.”

Đến khi trưởng thành, sau khi thắng giải tranh tài kết hôn với công chúa Da-du-đà-la, Tất-đạt-đa ngồi trên lưng bạch tượng diễu qua kinh thành Ca-tỳ-la-vệ, Đề-bà-đạt-đa thua cuộc tỷ thí, ganh tức trong lòng, và cũng để khoa trương sức mạnh phi thường của mình, xông ra cản đường, tóm lấy yên cương, đấm chơi vào đầu voi một cú, thế là cả voi lẫn thái tử té nhào xuống đất. Tất-đạt-đa đưa tay xoa nhẹ chỗ voi bị đấm, đỡ nó đứng lên, rồi quay nhìn Đề-bà-đạt-đa bằng ánh mắt từ hòa, khuyến cáo:

“Hại người không ác tâm,

Thanh tịnh và vô tội,

Tội ác dội kẻ ngu,

Như ngược gió tung bụi.”

Sau khi chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác dưới cội Bồ-đề, sợ chánh pháp được tuyên dương sâu rộng, ác pháp khó bề tung hoành, ba ái nữ kiều diễm của Mara là Rati, Arati và Trishna ra sức thuyết phục Thế Tôn dừng bước bằng những lời hát ca quyến rủ, ngữ nghĩa nồng nàn:

“Bạn ơi, mùa xuân đến rồi, mùa của tình tự yêu đương, của phấn hương tú lệ. Thảo mộc đang bừng rộ nở hoa; chúng ta phải vui lên nào. Đôi mắt của bạn đẹp làm sao, chúng lung linh như ánh đèn huyền diệu; bạn có nhiều biểu hiện vạn năng. Hãy ngắm chúng em. Chúng em được sinh ra đời để mang lại nguồn vui, nguồn hạnh phúc cho cả nhân loại và chư thiên.”

Trishna cất giọng ngâm:

“Hỡi người yêu quý của em ơi,

Từng cánh hoa xinh trải khắp cây,

Hương hoa thoang thoảng quyện đâu đây,

Chim reo vui nhộn vang cành lá,

Như trong lồng vàng hót ngất ngây.

Từng cánh ong vờn hoa nhởn nhơ,

Đê mê hút trọn nhụy hoa mơ,

Kìa những dây leo ôm cổ thụ,

Vươn gió hờn ghen động phất phơ,

Giữa cảnh rừng xanh đẹp ý thơ,

Ơi hồ nước bạc lặng như tờ,

Như nụ cười tình duyên thiếu phụ,

Mừng đón trăng về thỏa ước mơ.”

Thế Tôn vẫn thản nhiên, mỉm cười với ánh mắt cảm thông hậu ý nhưng không kém phần chuyển tải nghĩa lý vô thường:

“Nhìn hình hài xinh đẹp,

Một khối nặng khổ đau,

Bịnh tật nhiều lo nghĩ,

Có gì vĩnh cửu đâu!”

Rồi một hôm, trên đường về Xá-vệ, Thế Tôn đi ngang qua một cánh đồng vừa thu hoạch. Điền chủ Bharadvaja cùng gia nhân đang mở tiệc ăn mừng linh đình. Thấy Thế Tôn từ xa đi đến, Bharadvaja chạy ra dang hai tay chận Thế Tôn, nói:

- Ông đạo, mời ông đi ngay cho. Ở đây chúng tôi đang làm việc, đang vui mừng với thành quả lao động cày bừa của chúng tôi.

- Ta cũng đang vui mừng với thành quả cày bừa của ta. Thế Tôn mỉm cười nói.

- Ông mà cũng có trâu bò, cày bừa, ruộng nương và hạt giống?

- Có chứ!… Hiểu biết trong sạch là hạt giống tuyệt vời mà ta gieo trỉa. Tu tập thánh thiện là mưa lành tưới trên mặt đất phì nhiêu, hạt giống sẽ đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái và già chín trên đó. Ta cầm cày kiên cố: lưỡi cày là trí tuệ, chuôi cày là giáo pháp, thành tín là con bò thiến khỏe mạnh kéo cày. Ta cày đến đâu là ái dục trốc gốc như cỏ phơi trên đồng đến đó, và sản phẩm vụ mùa ta thu hoạch chính là hoa trái vô sanh.

Thấy Bharadvaja đứng sững sờ, rồi sụp lạy. Thế Tôn mỉm cười, Ngài thường mỉm cười mỗi khi xúc sự, và nhìn ông với ánh mắt cảm hóa nồng nàn:

“Từ bi thắng sân hận,

Hiền thiện thắng hung tàn,

Bố thí thắng xan tham,

Chân thật thắng hư ngụy.”

Cũng tại thành Xá-vệ, Vũ nữ Kuvalada rất ngạo mạn về sắc diện tú lệ và vũ điệu bốc lửa của mình. Một hôm, đang quay cuồng trên sàn diễn với hàng ngàn người vây quanh bên dưới, chợt thấy Thế Tôn đi tới, Kuvalada xoay người chỉ tay nói lớn: “Các người thấy chưa? Ngay cả 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Gotama cũng chưa bằng cái nheo mắt của ta.”

Thế Tôn bình thản theo từng bước thiền hành. Gần tới sân khấu, Thế Tôn ngước mắt mỉm cười, nhìn vữ nữ với hàm ý:

“Thành này xây bằng xương,

Trét tô bằng thịt máu,

Già chết và kiêu mạn,

Hủy báng chứa nơi đây.”

Tay chân của Kuvalada bỗng nhiên rũ rượi, mặt mày choáng váng, ngã quỵ xuống sàn. Khán giả nhốn nháo; có người lớn tiếng nói: “Cho đáng kiếp chua ngoa, hỗn láo!” Về sau, nàng quy Tam bảo và là một trong những cận sự nữ trung kiên của Tăng đoàn.

Buồn nhất là anhh chàng Chí Thiện, một thanh niên Phật tử thuần thành, muốn xuất gia theo Phật, cầu đạo giải thoát, nhưng bị Mật Thủ, người bạn chí thân mai mỉa, cho rằng đi tu là ngu dại, là ăn bám xã hội, là bất trung với xã tắc, bất hiếu với tổ tiên, bất nghĩa với vợ con, trốn tránh trách nhiệm với đồng bào đồng loại v.v… Chí Thiện đâm ra hoài nghi, đau buồn, đến tinh xá Kỳ Viên không dám gặp Thế Tôn. Đọc được tâm tư phiền muộn của Chí Thiện, Thế Tôn nắm tay chàng dẫn về tinh xá, nói:

- Con có gì vướng kẹt trong lòng thì tâm sự với Thầy, đừng để lâu ngày thành nội kết. Con biết đấy: Giang sơn dễ đổi, tập khí khó dời!…

Chí Thiện đưa tay lau nước mắt, đảnh lễ Thế Tôn, thuật lại tự sự, và nói:

- Con hoang mang quá, bạch Thế Tôn!

- Hừ!… Có vậy mà hoang mang. Thế Tôn nhìn Chí Thiện, mỉm cưới, rồi vỗ vai chàng khẳng định:

“Người ngu biết mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí,

Người ngu cho mình trí,

Thật đáng gọi chí ngu!”

Chí Thiện lại lau nước mắt, khấu đầu dưới chân Thế Tôn một lát, rồi đứng lên, và được phép khoác áo màu gạch từ đó.

Tìm hiểu cuộc đời Thế Tôn, ta thấy ánh mắt Ngài lúc nào cũng trao truyền năng lượng và sưởi ấm lòng người qua mọi tình huống. Năm mới, ước mong vạn loại hữu tình và vô tình đều được an bình trong ánh từ quang của Đạo Phật.

(Tịnh Minh, đã đăng trong Tuần Báo Giác Ngộ, số 366, ngày 1/2/2007, Mừng Xuân 2007, Đinh Hợi)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/01/2011(Xem: 3448)
Trong Việt Nam Phật Giáo sử luận, tập một, khi bàn về sự liên hệ giữa thiền và thi ca, giáo sư Nguyễn Lang viết: "Thi ca không có hình ảnh thì không còn thi ca nữa, cũng như đi vào lý luận siêu hình thì thiền không còn có thể là thiền nữa" Nhưng thế nào là hình ảnh, giáo sư Nguyễn Lang giải thích:
04/01/2011(Xem: 70390)
QUYỂN 5 MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI BỐN (Năm 574 trước TL) 91 CÁC LOẠI CỎ Đầu Xuân, khi trời mát mẻ, đức Phật tính chuyện lên đường trở về Sāvatthi. Thấy hội chúng quá đông, đức Phật bảo chư vị trưởng lão mỗi vị dẫn mỗi nhóm, mỗi chúng phân phối theo nhiều lộ trình, qua nhiều thôn làng để tiện việc khất thực. Hôm kia, trời chiều, cạnh một khu rừng, với đại chúng vây quanh, đức Phật ngắm nhìn một bọn trẻ đang quây quần vui chơi bên một đám bò đang ăn cỏ; và xa xa bên kia, lại có một đám trẻ khác dường như đang lựa tìm để cắt những đám cỏ xanh non hơn; ngài chợt mỉm cười cất tiếng gọi:
21/12/2010(Xem: 2740)
Năm đầu tiên (528 TTL): Sau khi thành đạo vào đêm rằm tháng Vesakha (tức tháng Tư âm lịch), Đức Phật đến ngụ tại khu vườn nai (Lộc uyển), vùng Chư thiên đọa xứ (Isipatana) tức Sa-nặc (Sarnath) ngày nay, gần thành Ba-na-lại (Benares). Tại đó, Ngài giảng bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, hóa độ năm anh em đạo sĩ Kiều-trần-như (Kodañña) và cư sĩ Da-xá (Yasa).
24/11/2010(Xem: 18859)
Bộ Ảnh về Cuộc Đời Đức Phật, Bộ hình phác họa về lịch sử, cuộc đời đức Phật do một họa sĩ người Thái Jamnuon Jhanando thực hiện. Những lời giải thích do cá nhân chúng tôi chú thích, nếu có sai sót xin nhờ quý vị chỉnh sửa dùm cho đúng. Kính tri ân…
16/10/2010(Xem: 9102)
Đây là bài thuyết giảng về "Đức Phật của chúng ta" một đề tài dễ làm cho Phật tử ngạc nhiên, vì Đức Phật của chúng ta là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rồi còn gì mà phải đặt vấn đề. Nhưng vấn đề sở dĩ được đặt ra là nhiều khi chúng ta chưa có được một cái nhìn thấu triệt tất cả tinh tường, đức tướng, hạnh đức, tin đức của đức Phật chúng ta. Do vậy, bài này, một phần giúp chúng ta trả lời những thiếu sót như vậy... Chính thái độ hóa thần thông để giáo hóa chúng sanh đã làm nổi bật giá trị tâm lý hoằng pháp mà Đức Phật của chúng ta đã dùng để hoằng hóa độ sanh.
16/10/2010(Xem: 9471)
Đức Thích Ca Mâu Ni đã vì một đại nguyện lớn lao, một lòng từ vô lượng mà khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giài thoát.
12/10/2010(Xem: 7181)
Lời người dịch: bài này được trích dịch từ một tập sách nhỏ có tựa đề “ 101 điều về Giáo Lý” (Dharma 101) là những câu hỏi thường xuất hiện trong quá trình tu học của người Tây Phương. Những câu hỏi (Đức Phật là ai ? Đức Phật ở đâu ?, niềm tin quan trọng ra sao ?, tại sao chúng ta phải cúi chào ? bạn là ai ? nghiệp là gì ?) có thể nghe quen thuộc đối với nhiều người nhưng câu trả lời có thể không quen thuộc. Điều này có thể do có sự khác biệt về quan điểm hay về sự hiểu biết giữa các vị Thầy, hoặc sự khác biệt giữa các truyền thống. Ba Thừa chính yếu của Phật Giáo tại Á Châu (Tiểu Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa) có sự khác nhau về lý tưởng, pháp tu và cách trình bày. Ví dụ những câu hỏi về sự giác ngộ có thể có câu trả lời của một vị Thầy Đại Thừa ở Đông Á khác với câu trả lời của một đạo sư Kim Cang Thừa của Tây Tạng. Một câu hỏi về ý niệm của tánh không Phật Giáo sẽ có hai câu giải đáp khác nhau bởi một vị Sư Nam Tông ở Đông Nam Á và một vi Thầy bên Đại Thừa. Nhưng ở Tây Phương, nơi
08/10/2010(Xem: 9902)
Người ta luôn hỏi câu này, Phật đã đi đâu và hiện nay ngài đang ở đâu? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời cho những ai không có một sự tu tập về đời sống tâm linh. Bởi vì người đời thường nghĩ về cuộc sống theo cách của thế gian. Họ khó có thể hiểu được khái niệm một vị Phật. Vài nhà truyền giáo nào đó tiếp cận các Phật tử và nói rằng Phật không phải là một vị thần mà chỉ là một con người. Ngài đã chết và không còn nữa. Vậy thì làm sao người ta có thể tôn sùng một người cũng đã chết? Những chúng ta phải hiểu rằng, Đức Phật được tôn xưng là Thiên Nhân Sư, vị thầy của chư thiên và loài người. Bất cứ khi nào chư thiên có gặp khó khăn, họ đều gặp ngài để xin lời khuyên. Thế rồi họ nói rằng vị chúa tể của họ vẫn hằng sống, và đó là lý do tại sao người người cầu nguyện với Ngài.
06/10/2010(Xem: 3627)
Đức Phật tướng hảo trang nghiêm, kim dung từ bi, hàng sơ học chỉ có thể dựa vào thánh tượng mới có thể nhận thức được Phật. Chủng loại thánh tượng của Đức Phật rất nhiều...
03/10/2010(Xem: 3113)
Ngài luôn luôn cổ súy tinh thần tự lực của mỗi người để tìm lấy sự giải thoát cho chính mình và điều này như là một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật...