11. Chim Phượng Hoàng

29/08/201105:03(Xem: 5574)
11. Chim Phượng Hoàng

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Chim Phượng Hoàng

Tôn giả A-Nan thuậtrằng: Một hôm trên núi Kỳ-Xà-Quật thuộc thành Vương-Xá, có một lần nọ, tôi đãtừng nghe đức Phật nói về tiền kiếp của Ngài như vầy:

Thuở quá khứ xa xưa,có một kiếp nọ Như-Lai làm chim Phượng-hoàng chúa với năm trăm người vợ đẹptheo hầu hạ, cuộc sống vinh hoa phú quý quyền uy hạnh phúc như thế, tưởng đã êmđềm với ngày tháng trôi qua. Nhưng bỗng một ngày kia Phượng-hoàng chúa bay dạotrên khu rừng già để thưởng ngoạn những hoa thơm trái lạ, chợt thấy một nàngPhượng-hoàng trẻ đẹp sắc xanh da trời với bộ lông tuyệt mỹ, dáng bay dịu dàng,tiếng hót thanh tao, khiến cho Phượng-hoàng chúa khởi tâm đắm sắc, mê mẩn dụctình, bỏ năm trăm vợ hiền trẻ đẹp để theo nàng Phượng-hoàng yêu kiều diễm lệkia. Nàng Phượng-hoàng trẻ đẹp mới nầy khó tánh, kén ăn kén ở lại thích chiềuchuộng, làm cho Phượng-hoàng chúa phải chiều lòng để cho đẹp dạ nàng. Vì thế,ngày ngày Phượng-hoàng chúa phải bay đi khắp đó đây để tìm những trái cây ngonngọt thơm tốt đem về để làm đẹp lòng nàng Phượng-hoàng tình nhân.

Lúc bấy giờ Hoàng-hậuthành Vương-Xá đau nặng, nhà vua đã mấy phen cho mời các ngự y, danh y trongnước đến xem bệnh hột thuốc, nhưng bệnh tình Hoàng-hậu vẫn không thuyên giảmchút nào. Một hôm, Hoàng-hậu bị cơn bệnh hoành hành mê sảng thiếp đi, trong cơnmê sảng chiêm bao thấy có người đến mách rằng, bệnh của lệnh bà chỉ có ăn thịtPhượng-hoàng chúa mới hết, bằng không thì chẳng bao lâu nữa sẽ phải chết. Khithức giấc, Hoàng-hậu lo sợ khóc lóc đem điềm chiêm bao tâu cho vua nghe. Vualấy làm lo âu liền triệu tập quần thần để đoán mộng. Các thầy đoán mộng tâu vuarằng: "Nếu căn cứ vào điềm chiêm bao của Hoàng-hậu, thì chỉ còn có cách làăn thịt chim Phượng-hoàng chúa, hoàng hậu mới hết bệnh".

Thế rồi, nhà vuatruyền lệnh rằng: "Ai bắt được chim Phượng-hoàng chúa về dâng lên vua thìsẽ được trọng thưởng ngàn lượng vàng và gả công chúa làm vợ".

Khi lệnh nhà vua vừatruyền ra, các người thợ săn vội vã thi đua nhau đi khắp núi rừng để tìm bắtchim Phượng-hoàng chúa với hy vọng được trọng thưởng và làm chồng công chúa.Những thợ săn không quản ngại ngày đêm đi lùng tìm, họ dùng đủ trăm phương ngànkế bủa vây khắp nơi để tìm cách bắt cho được Phượng-hoàng chúa. Chẳng bao lâu,một trong số những thợ săn đã theo dõi biết được tông tích nơi ẩn trú củaPhượng-hoàng chúa và nàng Phượng-hoàng tình nhân.

Gã thợ săn này biếtrằng con Phượng-hoàng chúa không dễ gì bắt được nó. Trong lúc suy tư tìm phươngcách, thì anh ta nghĩ ra một diệu kế, lấy mật và bánh bột nhồi trộn lẫn nhaurồi tự trét lên thân mình anh ta. Ðồng thời chọn mua trái cây thơm ngọt gắndính lên khắp mình anh nhìn như một đống trái cây. Xong rồi, gã thợ săn giảtrang ngồi yên bất động trên một cành cây cổ thụ, kiên nhẫn đợi chờ mấy ngàyliền.

Bỗng vào một buổi maikhi ánh bình minh vừa rạng chiếu chân trời, chim chóc khắp nơi trên cành cây kẽlá reo hò thi đua nhau bay đi tìm mồi, thì Phượng-hoàng chúa cũng như mọi ngàybay đi tìm trái cây ngon ngọt cho tình nhân. Khi Phượng-hoàng chúa bay qua đámrừng già, thoạt ngửi thấy mùi thơm ngọt thoảng trong gió, liền tìm bay đến chỗphát ra mùi thơm, lượn mấy vòng trên không quan sát kiếm tìm. Phượng-hoàng nhìnkỹ thì thấy trên cây cổ thụ một đống trái cây thơm tốt, nên lòng rất mừng rỡ tựnhủ rằng: "Ðỡ quá! Sao mà nhiều trái cây ngon ngọt thế nầy! Từ đây ta sẽkhông còn phải mất thì giờ khổ công ngày ngày tìm kiếm trái cây cho người yêuquý của ta nữa!"

Chẳng ngần ngại,Phượng-hoàng đáp nhanh xuống cây cổ thụ quán sát một hồi thấy rõ một khối tráicây tươi tốt thơm ngọt. Tin chắc không còn ngại ngùng e sợ, Phượng-hoàng liềnbay đến đậu trên đống trái cây, đúng ngay vị trí bả vai của gã thợ săn ngụytrang kia, miệng vừa cắn trái cây, chân dính mật. Nhanh như chớp, gã thợ sănchụp lấy. Phượng-hoàng kinh hãi thét lên mấy tiếng vùng vẫy. Nhưng đã quá chậmrồi. Phượng-hoàng run rẩy van xin: "Ông ơi! Chắc ông đã phải khổ cực lắmmới bắt được tôi. Vì tôi mà ông đã phải ngồi bất động cực nhọc như thế nầy.Chắc là để đổi lấy điều gì lợi ích lớn lao lắm đây, nên ông mới tốn hao khổcông thế nầy? Nếu ông chịu thả tôi ra, tôi sẽ dẫn chỉ cho ông một núi vàng. Nơiđó, ông sẽ trở thành giàu sang triệu phú. Còn mạng tôi đây có đáng gì đâu! Xinông thương xót tha cho".

Gã thợ săn đáp:"Sao lại không đáng? Nhà vua đã hứa rằng, hễ ai bắt được ngươi đem nộp,thì sẽ được thưởng ngàn lượng vàng và được gả công chúa làm vợ. Còn núi vàngkia làm sao bằng công chúa? Bộ ngươi muốn đùa với ta sao chớ?"

Nói xong, kẻ thợ săntrói chặt Phượng-hoàng đem về dâng nạp lên vua. Ðược chim Phượng-hoàng chúa,nhà vua rất đỗi vui mừng, liền truyền lệnh làm thịt nấu cho Hoàng-hậu ăn để hếtbệnh.

Phượng-hoàng chúathưa: "Muôn tâu Thánh-thượng! Thánh thượng là bậc chí tôn trong thiên hạ,ân đức trùm khắp cả bốn phương. Nay vì cứu mạng sống của Hoàng-hậu mà tôi phảihy sinh, thì tôi cũng không lấy gì làm tiếc cái thân mạng hèn hạ nầy. Nhưng tâuThánh-thượng, tôi vốn biết bùa phép linh thiêng kỳ diệu, có thể cứu Hoàng-hậura khỏi ngặt nghèo mà không cần phải ăn thịt tôi. Nếu Thánh-thượng tin thương,thì xin cho một thau nước, tôi sẽ vẽ thần chú linh phù trong nước rồi đem dângcho Hoàng-hậu uống và tắm thì bệnh hết ngay. Nhược bằng không hiệu nghiệm, tôixin chịu tội mất mạng cũng chẳng muộn. Còn nếu Hoàng-hậu lành bệnh, xin Ngàithả tôi về lại với núi rừng". Nhà vua lấy làm ngạc nhiên, nhưng vẫn nhậnlời và ra lệnh cận thần bưng thau nước đến.

Quả đúng như vậy. Saukhi Hoàng-hậu uống và tắm nước linh phù xong, thì cảm thấy mạnh khỏe và sắcdiện Hoàng-hậu trở nên trẻ đẹp hơn trước. Nỗi sầu lo ưu buồn của nhà vua và củacả hoàng triều cũng liền theo đó không còn nữa. Ðược tin Hoàng-hậu bình phụcnhư thường, từ trong thành nội cho đến ngoài nhân gian, khắp mọi cõi lòng trànngập nguồn vui.

Sau khi Hoàng-hậu trởnên mạnh khỏe trẻ đẹp hơn xưa, nhà vua vô cùng mừng rỡ và thầm khen tài nghệthần bí của Phượng-hoàng. Nhà vua muốn giữ Phượng-hoàng ở lại hoàng cung. Nhưngtrước đó nhà vua đã hứa thả Phượng-hoàng về với núi rừng, khi Hoàng-hậu lànhbệnh. Trong lúc đó, Phượng-hoàng để thử ý nhà vua, xem có con thiết tha cầnmình nữa không, nên xin nhà vua giữ lời hứa. Riêng về nhà vua lúc nầy thì mảibận vui với Hoàng-hậu, nên chẳng còn để ý tới Phượng-hoàng nữa.

Trước khi rời khỏicung vua để bay về núi rừng sống lại cuộc đời mây nước trời cao rừng thẳm baola, Phượng-hoàng còn tâu với vua lần chót rằng: "Muôn tâu Bệ-hạ! Ðể trả ơnBệ-hạ tha sống, xin Bệ-hạ cho phép tôi được đáp xuống hồ sen bán nguyệt đọcthần chú linh phù, để nhân dân trong nước của Ngài nếu ai có bệnh tật mà uốngnước hồ nầy thì cũng sẽ được tiêu trừ". Nhà vua cả mừng bằng lòng ngay. Từđấy, nhân dân trong nước, hễ ai có bệnh tật gì đến xin lấy nước hồ sen uống thìđều được lành bệnh ngay.

Phượng-hoàng bay đậutrên nóc cung điện bái chào nhà vua và hoàng triều lần cuối trước khi từ biệt.Từ trên nóc cung điện, Phượng-hoàng nói lớn lên rằng: "Trên đời nầy có bakẻ điên: Kẻ thứ nhất là tôi. Kẻ thứ nhì là gã thợ săn, và kẻ thứ ba làBệ-hạ".

Nói xong thấy nhà vuavà cả hoàng triều nhìn chim Phượng-hoàng với dáng điệu ngơ ngác ngạc nhiên,Phượng-hoàng liền nói tiếp: "Chư Phật đã từng nói, nữ sắc cắt giết mạngngười. Tôi vì mê sắc đẹp của tình nhân mà bội bạc bỏ năm trăm người vợ hiềnchung tình ngày đêm săn sóc cho tôi. Tôi vốn là vua của loài Phượng-hoàng, trờicao mây nước vốn là giang sơn của tôi. Thế mà vì nữ sắc, tôi phải ngày ngày đemthân làm tôi mọi đi kiếm tìm thức ăn ngon ngọt để về cung phụng cho một conPhượng-hoàng mái, để đến nỗi phải rơi vào tay gã thợ săn xuýt nữa toi mạng. Ấylà tôi điên.

Còn gã thợ săn kia,tôi đã thật tình khẩn khoản chỉ núi vàng cho gã để đổi lấy mạng sống của tôi,để gã trở nên người giàu sang triệu phú. Nhưng gã vì quá ước mơ được lấy côngchúa. Lời hứa của đàn bà chẳng khác sương sáng cành hoa, mây chiều lãng đãng,có chắc gì đâu? Nghe thì hay ho êm dịu, thấy thì đẹp như hoa nở bướm lượn,nhưng tất cả đều là ảo tưởng huyễn mộng, không có gì thật cả. Sự nghiệp danhgiá của kẻ nam nhi sẽ lại tan tành trong nháy mắt vì nữ sắc. Như gã thợ sănkia, vì nghe lời hứa của nhà vua, say sưa sẽ được công chúa, mà mất cả núivàng, mất cả giàu sang và mất cả công chúa. Ấy là kẻ điên thứ hai.

Còn Bệ-hạ được mộtdanh y cứu sống Hoàng-hậu, cứu bệnh tật muôn dân, đem lại sự an lành cho thiênhạ. Ấy thế mà Bệ-hạ để cho danh y ấy ra đi không một lời khẩn khoản nài nỉ,không một chút tiếc nuối. Bệ-hạ chỉ biết vui với Hoàng-hậu, sẵn sàng chém đầubất cứ ai, miễn là được Hoàng-hậu vui vẻ bên vua. Nếu tôi không có thần chúlinh phù thì chắc cái đầu tôi cũng bay đi rồi, và giờ nầy thân tôi đã vào bụngHoàng-hậu. Thế có phải Bệ-hạ là kẻ điên thứ ba không?" Nói xong,Phượng-hoàng cất cánh bay cao vào khoảng trời mây bao la cao rộng xanh biếc.

Thuật câu chuyện xong,đức Phật nói với đại chúng rằng: "Người thợ săn trong mẩu chuyện mà ta mớivừa kể chính là tiền thân của Ðề-Bà Ðạt-Ða. Còn Hoàng-hậu đòi ăn thịt chimPhượng-hoàng kia chính là tiền thân vợ của Ðề-Bà Ðạt-Ða ngày nay. Nhà vua thuởđó chính là tiền thân của Xá-Lợi-Phất. Chim Phượng-hoàng chính là tiền thân củaNhư-Lai đây vậy".

Ðức Phật còn nói tiếp,thuở ấy, tuy đọa làm thân súc sanh, nhưng ta đã phát tâm tu Bồ-Tát hạnh, hànhBồ-Tát đạo với tâm từ bi hỷ xả cứu độ thế nhân. Chẳng qua vì một niệm si mê đắmsắc dục tình mà ta đã phải lụy thân làm kiếp con Phượng-hoàng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/04/2017(Xem: 4624)
Cách đây hơn 2600 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời tại xứ Ấn Độ cổ xưa, cội nguồn của nền văn minh sông Hằng và thế giới. Một sự kiện trọng đại thật là hy hữu và hiếm có, Đức Thế Tôn thị hiện vào cõi đời này để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Ngài đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước công nguyên, ngoại thành Ca Tỳ La Vệ, ngày nay là xứ Nepal. Khi Đức Thế Tôn thị hiện đản sanh, tiên nhân A Tư Đà đoán rằng sau này Ngài sẽ trở thành vị Vua Chuyển Luân Thánh Vương và nếu xuất gia học đạo sẽ thành Phật. Lịch sử của Đức Thế Tôn có tính siêu việt giống như đoá hoa Vô Ưu mấy ngàn năm mới nở một lần.
13/02/2017(Xem: 6864)
Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. (Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh)
28/05/2016(Xem: 15558)
Phật Tánh đó là Tánh Giác Ngộ, Tánh Phật, Bổn Tánh Lành, Mầm Lương Thiện trong mọi loài chúng sinh. Cũng gọi là Như Lai Tánh, đối nghĩa với chúng sanh tánh. Kinh Phạm võng: Tất cả chúnh sanh đều có sẵn Tánh Giác Ngộ nơi mình (Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh). Nhờ có Tánh Giác Ngộ ấy, bổn tánh lành ấy chúng sanh công nhận và thấu đạt lý nhân quả, hiểu cái thể tự nhiên của mình đồng với Phật. Phật Tánh nơi ta luôn tiến chớ không phải thối, tích lũy chớ không phải tiêu vong, nó tiến tới mãi, nó khiến cho cảnh trần càng tươi đẹp, càng thuần tịnh, nó đưa lần mọi vật đến gần cái tuyệt đẹp, tuyệt cao, tuyệt diệu, tuyệt trong sáng thánh thiện. Mỗi loài đều có nơi mình Phật Tánh, dầu cho loài nào có thấp hèn tới đâu cũng có khả năng thành Phật. Không trừ loài nào, không một ai mà không có khả năng thành Phật.
24/05/2016(Xem: 13227)
Sáng Rằm Tháng Tư Đại Lễ Phật Đản 2640- PL: 2560- DL: 2016 Ghi nhận bằng hình ảnh qua các tự viện ở thành phố Nha Trang - Chùa Long Sơn (đường 23 tháng 10) - Chùa Nghĩa Hòa (đường 23 tháng 10) - Chùa Thiên Hòa (đường Yersin) - Chùa Vương Xá (đường Phương Sài) - Tổ Đình Nghĩa Phương (đường Lý Thánh Tôn) - Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa (đường Sinh Trung) Tâm Không Vĩnh Hữu
09/04/2016(Xem: 18742)
Đôi lời về Xá Lợi Phật_Lạt Ma Zopa Rinpoche_Hồng Như dịch, Bảo Tháp thờ Xá Phật còn sót lại ở Thành Tỳ Xá Ly, Ấn Độ (hình phái đoàn hành hương Phật tích Ấn Độ của Tu Viện Quảng Đức tháng 11-2006)
07/04/2016(Xem: 11421)
“Thị hiện Đản sanh”, là cụm từ được chỉ chung cho tất cả các bậc Thánh nhân, chư Phật, Bồ Tát khởi lên ý niệm tự phát nguyện “Thị hiện”, là muốn và đến các quốc độ Trời, Người (cõi người nhiều hơn) đã định sẵn trong tâm để hóa độ. Sau đó, quán chiếu vào để tìm kiếm, chọn cho mình một người Mẹ trong những gia đình có tâm từ bi, thánh thiện, đạo đức, rồi nhập Thánh thai. Sau khi chào đời, bản thể lớn khôn, trí tuệ cao vời, liền Thị hiện vào dòng đời, dấn thân, lê gót khắp nơi trên mọi nẻo đường bản xứ mình, giáp mặt với mọi giai cấp, để hiển bày các đạo lý mang tính Thánh giáo, Thiện đạo, Thiện nghiệp, giáo lý giải thoát vốn đã và đang có mà khai thị, thị giáo cho các chủng loại chúng sanh Trời, Người thật bình đẳng, ai cũng được thăng tiến lên các nấc thang Chân, Thiện, Mỹ, giải thoát siêu lên các cảnh giới Phật, Thiên, Tiên sau khi xả bỏ ba
27/12/2015(Xem: 17417)
Lễ Vía Đức Phật A Di Đà 2015 tại TV Minh Quang Sydney, Úc Châu, Chủ Nhật 26-12-2015
06/10/2015(Xem: 58411)
Từ Bi, có nghĩa là tình thương yêu rộng lớn đối với muôn loài hữu tình chúng sanh(loài người và súc vật). Tình thương rộng lớn này được xuất phát từ trong tâm, thể hiện qua lời nói và hai hành động: TỪ và BI : Bang vui. Cứu khổ.
25/08/2015(Xem: 4907)
Cung trời Đâu Suất giáng phàm Sanh vào Tịnh Phạn, Cồ Đàm vương gia Chánh Thái tử Sĩ Đạt Tha Sống trong điện ngọc tháp ngà an vui Nhưng lòng Thái tử không nguôi Hằng luôn suy gẫm thân người mong manh Du ngoạn ngoại thành Giải khuây dạo bốn cửa thành Người già run rẩy thân hình kém suy Người bịnh ốm yếu sầu bi Người chết lạnh ngắt thân gầy xanh xao Thân nhân than khóc kêu gào Giàn thiêu hỏa táng xiết bao đau lòng
13/08/2015(Xem: 13140)
Một bài phóng sự của nữ ký giả Nathalie Lamoureux về Lâm-tì-ni (Lumbini), khu vườn nơi đản sinh của Đức Phật, đã được đăng tải và đưa lên trang mạng của tạp chí hàng tuần Le Point của Pháp số ngày 21 tháng 7 năm 2015. Lâm-tì-ni đã từng rơi vào sự quên lãng của con người từ bao thế kỷ và không còn ai biết là ở đâu. Mãi đến năm 1896, dựa theo những lời thuật lại trong nhật ký của nhà sư Trung Quốc Pháp Hiền, sau chuyến hành hương và tu học ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ V, các nhà khảo cổ người Anh đã khám phá ra một trụ đá của hoàng đế A-dục (từ -304 đến -232, trước Tây Lịch) cạnh một ngôi làng nghèo nàn là Rummindei của xứ Népal. Trên trụ đá có ghi khắc các dòng chữ cho biết Đức Phật đản sinh ở nơi này.