Hạnh Phúc Thay Đức Phật Ra Đời

26/04/201204:37(Xem: 7613)
Hạnh Phúc Thay Đức Phật Ra Đời

Dong Dai Tu (46)

Sự xuất hiện của đức Thích Ca Mâu Ni trong cõi đời này là sự thị hiện vĩnh hằng cho đời sống hạnh phúc. Hơn bao giờ hết, cuộc sống của nhân loại nếu vắng bóng hạnh phúc, thì cuộc sống ấy không còn giá trị tồn tại và cũng không mang lại niềm vinh quang cho muôn ngàn quan điểm hình thành trong tinh cầu vạn hữu. Chính vì thế, đức Phật ra đời mang theo cả một biển hạnh phúc vô biên mà không cần nói, chúng ta vẫn thừa hưởng một kho tàng vô giá trong tuyệt tác của loài người.

Đến và đi trong khung trời huyễn mộng này, chúng ta luôn chạm trán với hai lãnh vực hạnh phúc và khổ đau, nhưng hạnh phúc luôn luôn là điều mà nhân loại cần và khẳng định rõ chính mình để thấy mình tồn tại dù bất cứ trên phương diện nào của cuộc sống. Bản chất của hạnh phúc vốn không màu, không mùi, không vị nhưng nó đã thể hiện rõ trong từng sát na của sự sống. Cõ lẽ do nhận thấy đây là nền tảng căn bản không thể thiếu của nhân loại, nên đức Thích Ca từ cung trời Đâu Suất thị hiện về để xoa dịu nỗi đau của trần thế bằng thông điệp “hạnh phúc” qua ba tạng giáo điển. Thông điệp “hạnh phúc” ấy vang dội khắp muôn nơi, thấu suốt từng chân tơ kẻ tóc của sự đời còn nhiều oan trái đồng thời len lỏi tận cùng ngõ hẻm của giấc mơ muôn trùng thế kỉ để chuyển hóa khổ đau mà nhân loại đã và đang gánh chịu trên nghiệp cảm của tự thân. Như vậy, đức Phật thị hiện dưới nhiều hình thức để cảm hóa chúng sanh qua thông điệp “hạnh phúc” và liên tục chuyển biến trong quá trình vận hành của vũ trụ. Nếu có một ai đó xuất hiện ở đời với năng lực siêu nhiên vô bờ có thể dời sông lấp bể, an bang tế thế, chắc chắn rằng không thể sánh kịp với đức Thế Tôn khi mà mọi biến cố của nhân sinh còn đắm chìm trong khổ ải. Cái khác biệt của đức Phật với các vị giáo chủ khác là ngài không bao giờ cho mình là kẻ siêu nhiên hay đến trong đời là vì huyền cơ của thượng đế, mà ngài đến là theo điều kiện nhân duyên phù hợp với ước mơ của triệu triệu trái tim đang khát tìm đời sống hạnh phúc.

Hồi còn tại thế, đức Phật thường xuyên sống trong định tỉnh quán sát những ai rơi vào trạng thái khổ đau để ngài từng bước nhẹ nhàng đến đó, đem thông điệp hạnh phúc ban tặng cho họ nhằm chuyển hóa nỗi đau mà họ đang gặp phải. Ngài luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi bi ai của kiếp người để tùy thuận hoàn cảnh mà gieo rắc thông điệp “hạnh phúc” cho mọi người. Ngài không hề oán thán từ nan, hay tự ti mặc cảm với bất cứ ai, miễn sao nhân loại sống trong hạnh phúc là ngài yên tâm rồi. Với hạnh nguyện cao cả vô biên ấy, ngài đã dấn thân trọn vẹn cho cuộc thế mà không hề câu nệ bất cứ điều gì. Ngài thổi ngọn gió của hiểu biết thương yêu để cho thông điệp “hạnh phúc” mãi mãi lưu tồn trong vô biên của sự thế, gieo rắc thấm nhuần trong từng ngỏ nghách của thế giới hiện tượng và nội tại. Tâm nguyện ấy, mãi mãi đến nghìn sau vẫn vang vọng như chưa hề gián đoạn khi mọi cảm nhận còn vương víu chúng sanh nơi bến bờ tư tưởng. Hơn hai ngàn năm trăm năm qua, thông điệp ấy vẫn chiếu soi rạng rỡ trên muôn màu khổ đau để chuyến hóa dòng đời quay về với nẻo chánh. Chính ngay nơi dòng biến hiện của khổ đau, đức Phật về đây cho đượm nét hưng quang tuy rất đỗi bình thường và giản dị.

Một chiếc áo cà sa bạc màu cùng năm tháng, một chiếc bình bát cũ kĩ không lấy gì làm hãnh diện, ngài vân du từ đông sang tây trên phương trời của xứ Ấn với một thông điệp “hạnh phúc” mà cả nhân loại đang cần ngài tiếp sức cho sự sống không còn tẻ nhạt buồn chán. Thân thể gần ốm, dáng vóc trơ xương, nhưng một ý chí quật cường mãnh liệt mang thông điệp ấy vung rải khắp nơi đem an vui hạnh phúc cho toàn thể nhân loại. Phương trời nào đó, nếu có bóng dáng ngài đi qua, thì mọi phiền muộn đều vắng bặt trong sự định tỉnh của đời sống cao thượng. Tất cả mọi biến cố đau thương trong đời, nếu gặp ngài, thì hầu như đều phủ phục và quy kính trong yêu thương vô hạn. Ngài không là thần thánh, cũng không phải là người có quyền lực siêu nhiên, nhưng mọi oán ghét và thù hận luôn luôn gần gũi muốn làm bạn với ngài để chuyển hóa khổ đau. Ngay cả một người lang thang cơ nhỡ trong đời không nơi nương tựa, không chỗ trú thân, không cơm ăn áo mặc v.v, nhưng ngài vẫn từ tốn chia sẽ từng hạt cơm đi xin được của trần thể và thuyết giảng đạo lý cho anh ta sống đời sống có hạnh phúc thực sự. Đối với một kẻ cướp giết người không gớm tay, ngài nhẹ nhàng đi từng bước trong sâu thẳm của bến bờ tư tưởng để chuyển hóa anh ta buông dao sống đời phạm hạnh. Sự thị hiện của ngài là sức mạnh lớn lao kết tinh bằng chất liệu yêu thương và hiểu biết. Cuộc đời còn quá nhiều đau thương bất hạnh, ngài về đây cho nhân loại vui mừng.

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, thông điệp “hạnh phúc” ấy của ngài ban tặng cho đời vẫn mãi mãi sáng ngời bất diệt.

Hôm nay đức Phật xuống trần

Ba ngàn thế giới tần ngân đón mừng

Môi cười, mắt lệ rưng rưng

Trần gian ngóng đợi qua từng phút giây

Ngài về xoa dịu nơi đây

Một vùng đau khổ kéo vây nhân tình

Hạnh phúc, thông điệp uy linh

Ngài đem ban rãi chúng sinh muôn loài.

Trên bước đường hành đạo của ngài, không phút giây nào bị xao lãng trong hiện hữu của kiếp người. Ngài luôn vận dụng những thiện pháp để trao tận tay từng cá thể thông điệp “hạnh phúc” này. Hơn ai hết, ngài thấu hiểu chỉ có hạnh phúc mới xoa dịu nỗi đau của nhân thế từ quá khứ đến vị lai. Các pháp vốn hòa hợp trong tương quan tương duyên, ngài thị hiện trong biển đời ô trược với trung dung vạn hữu chứ không hề cách biệt xum la vạn tượng. Do vậy, mọi phiền não nhơ uế của nhân sinh tuy sát cánh bên ngài nhưng không bao giờ gây nhiễm ô cho ngài. Ngài cũng không có ý niệm phải chế ngự chúng theo kiểu cách của một bậc thánh với quyền năng siêu nhiên, ngược lại, ngài bình thản đón nhận chúng như những người bạn thâm giao để chuyển hóa chúng qua thông điệp “hạnh phúc”. Một khi mọi phiền não được chuyển hóa, nhân sinh được sống trong yên bình an lạc. Nếu tâm con người trở nên tỉnh lặng, thì thế giới này tràn nghập an vui, không có thù hận và chiến tranh. Vì thấu đạt sự tình như vậy, ngài vân du khắp chốn bất kể nắng mưa để tuyên giảng thông điệp “hạnh phúc”.

Nói chung, sự hiện thân của đức Từ Phụ Thích Ca làm cho thế giới đang rưng rưng lệ bỗng hóa thành nụ cười rạng ngời trên khuôn mặt của vạn hữu. Ngài về đem cả niềm hạnh phúc vô biên cho toàn thể chúng sanh đang ghánh chịu nhiều khổ não. Ngài thấu hiểu được khổ, nguyện nhân của khổ mà tất cả muôn loại phải vướng mắc do sự tạo tác của chính họ, nên ngài khởi bi tâm giáng trần để chỉ dạy phương cách thoát khổ cho họ đi đến bến bờ hạnh phúc. Bất cứ nơi đâu còn tồn tại khổ đau, ngài đều dấn thân để chuyển hóa. Sự chuyển hóa ấy vang dội cả ba ngàn đại thiên thế giới và đặc biệt như chưa từng có sự kiện nào vĩ đại hơn trong lịch sử loài người.

Hôm nay, ngài lại về với chúng sanh để chia sẽ những buồn đau trong cõi đời ô trược này, cũng thêm một lần nữa nhân loại reo mừng kính đón ngài trong hạnh phúc vô biên. Đâu đó trên hành tinh, những chúng sinh vất vưởng lang thang vô định hướng lại có dịp để hàn huyên tâm sự với ngài nhằm chuyển hóa khổ đau.

“Bảy đóa sen vàng nâng gót tịnh

Ba ngàn thế giới đón Như Lai”.

Thật hạnh phúc thay, đức Phật ra đời mang lại bình yên cho toàn thể muôn loài trong tinh cầu nhỏ bé này. Thông điệp “hạnh phúc” của ngài bây giờ đã bay bổng trên mọi nẻo đường của trần thế, không bị chi phối bởi không gian bao la và thời gian vô tận. Dù trải qua hàng ngàn năm lịch sử, thông điệp ấy vẫn hiện hữu để tiếp sức cho cuộc đời thêm tươi thắm tình yêu thương, và mãi mãi ngàn sau cũng thế.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/07/2015(Xem: 7108)
Bất cứ một tư tưởng triết học nào cũng đều chịu ảnh hưởng của bối cảnh xã hội, của nền văn hoá và của những tư tưởng triết học khác. Từ đó, tư tưởng của một triết gia có khi chịu ảnh hưởng của những người đi trước hoặc đương thời mà phát triển và quảng diễn thêm, nhưng cũng có khi phản kháng lại, hoặc phê bình để đi đến chỗ toàn thiện, hoặc để bênh vực cho tư tưởng của mình.
02/06/2015(Xem: 17601)
Trước khi ôn lại Tiểu Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, để người đọc nhận định dễ hơn về ngày tháng ghi trong tiểu sử của Ngài, chúng tôi xin nhắc lại là Đức Phật Thích Ca sanh vào năm 624 trước Tây Lịch. Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước Tây Lịch. Sáu trăm hai mươi bốn năm sau, Tây Phương mới bắt đầu chọn năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi điểm cho Dương lịch. Như vậy tính đến nay là năm 2015 thì Đức Phật đã ra đời được 2,639 năm và chiếu theo Phật lịch khởi đầu từ năm Đức Phật viên tịch (năm 544 trước TL) thì Ngài đã nhập Niết Bàn được 2,559 năm. Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Đông Á như Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên ... từ xưa đều làm Lễ Phật Đản vào ngày mồng 8 tháng Tư Âm Lịch. Tên gọi tắt dành cho ngày Lễ Phật Đản là "Ngày mồng Tám tháng Tư" đã lưu truyền hằng bao thế kỷ, trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ghi đậm vào tâm khảm của mọi người kể cả người theo hay không theo Phật giáo.
15/04/2015(Xem: 11693)
Mãi cho đến tháng 12 năm 1999 mới được công nhận và tuyên bố Đại lễ Phật Đản Quốc tế (lễ Vesak – Tam hợp) tại trụ sở Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, New York City (Hoa Kỳ) vừa qua.
01/01/2015(Xem: 5196)
Từng đợt lá thay nhau úa vàng, héo khô, lả tả rơi theo gió mùa. Từng cơn mưa nặng hạt, rơi xuống những mảnh đất đã cằn khô, nứt nẻ. Mưa tuyết rơi xuống làng mạc yên ngủ, phủ đầy những đồng cỏ hoang. Máu lệ rơi trên xác thân người hiền, kẻ ác, người vô tội, kẻ vô minh. Khổ đau đổ xuống những thân phận giàu-nghèo, sang-hèn, tự tôn hay tự ti. Ngày tháng rớt theo những tờ lịch, ảo vọng vùi theo thời gian. Thời gian tàn theo bóng nắng, và đời người phai theo phút giây.
24/12/2014(Xem: 24699)
Bộ tranh cuộc đời Đức Phật Buddha life story
21/10/2014(Xem: 12945)
Hans Küng, sinh năm 1928 tại Sursee, Thụy Sĩ, là Giáo sư Thần học hồi hưu thuộc Đại học Tübingen, Đức. Ông đã sáng lập Hiệp hội Đạo đức Thế giới (Stiftung Weltethos) mà hiện nay ông đang là Chủ tịch Danh dự. Với nhiều công trình nghiên cứu khoa học về các tôn giáo và các đóng góp to lớn về nỗ lực liên tôn cho hoà bình thế giới, ông được nhiều giải thưởng cao qúy và được vinh danh là một nhà tư tưởng quan trọng nhất đương đại. "Auf den Spuren des Buddha" là một trích đoạn từ trong tập hồi ký: “Erlebte Menschlichkeit, Erinnerungen“, Piper, München, Zürich, 2. Aufl. 2013, 377-403.
08/05/2014(Xem: 20910)
Đức Phật giáng sinh ở miền Trung Ấn Độ mà hiện nay được gọi là nước Nepal, một nước ở ven sườn dãy Hy mã lạp sơn, là dãy núi cao nhất thế giới và tiếp giáp với nước Tây tạng. Nguyên Ngài là Thái tử nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Phụ hoàng tên là Tịnh Phạn vương Đầu-đà-na (Sudhodana) và Mẫu Hoàng tên là Ma-da (Maya). Họ của Ngài là Kiều-Đáp-Ma (Gautama), được dịch là Cù-đàm và tên Ngài là Tất-Đạt-Đa (Siddhartha).
28/04/2014(Xem: 5448)
Bài dưới đây là một trong loạt những bài thuộc chủ đề "Quan điểm của Phật Giáo đối với sự đau đớn và bệnh tật". Các bài trước đây là: - Đức Phật thuyết giảng về sự đau đớn (Sallatha Sutta/Kinh về Mũi Tên/SN 36.6) - Thái độ của người Phật Giáo đối với sự đau đớn (Ajahn Brahmavamso Mahathera) - Cái chết là một thứ bệnh ung thư (Ajahn Liem) - Y khoa cũng chỉ là phép luyện đan ( Khyentsé Rinpoché) - Không nên trì hoãn sang ngày hôm sau (Eihei Dogen)
12/02/2014(Xem: 11632)
Đức Phật, trong khi không đồng tình với thái độ nhẹ dạ cả tin của một số tín đồ các tôn giáo khác trong việc theo đuổi đức tin thiếu cơ sở chứng thực1, đã nêu ra phương pháp tiếp cận và chứng đắc chân lý gồm 12 bước đi hết sức căn bản và sáng suốt. Ngài cho rằng, trí tuệ (annà) hay chân lý(saccam) - đồng nghĩa với sự giác ngộ, giải thoát khổ đau hay Thánh quả A-la-hán – không đến với con người ngay lập tức nhưng đến do học từ từ (anupubbasikkhà), hành từ
11/02/2014(Xem: 10607)
Là những người bình thường, kinh nghiệm tâm linh thì ít ỏi và nhỏ bé, nhưng chúng ta có thể nhờ kinh luận mà cố gắng hình dung ở nơi các vị thánh, dù tầng thánh thấp nhất, Đức Phật hiện diện nơi các vị đó như thế nào.