Khi Thái tử đản sanh

15/03/201216:41(Xem: 8951)
Khi Thái tử đản sanh
KHI THÁI TỬ ĐẢN SANH
Tỳ kheo Thích Nguyên Các

happy-vesak-contentÐây là giáo lý mà chúng ta có thể tin theo. Không nơi nào trong thế giới tôn giáo, sùng bái và tín ngưỡng mà chúng ta có thể tìm một vị giáo chủ chói sáng như thế! Trong hàng loạt các vì sao, Ngài là vì tinh tú khổng lồ, vĩ đại nhất… Là cách nhận định về đức Thích Ca cũng như phật pháp của một văn hào ở Châu Âu, và một số các khoa học gia, triết gia, các nhà văn hóa đã tuyên bố về Ngài "Con Người Vĩ Ðại Nhất Chưa Từng Có".

Ngài hiện thân một con Người. Con Người ấy thật phi thường, vĩ đại; thể hiện từ việc Người nhập thai, đản sanh, đến trong cuộc sống…

1. Hiện Tượng Kỳ Diệu Khi Thái Tử Đản Sanh

Theo tục lệ xứ Ấn Độ thời bấy giờ, đến kỳ khai hoa nở nhụy, hoàng hậu Maya (Māyā) trở về quê cha, Thiên Tý thành (Devadaha, hay thường gọi nước Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên đường đi, ngang vườn Lâm tỳ ni (Lumbinī), Hoàng hậu dừng chân nghỉ ngơi, thưởng ngoạn giữa ngàn hoa đua nở. Bên tàng cây Vô ưu (aśoka) rợp mát, nền trời xanh bao la, hương muôn hoa tỏa ngát, Hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử. Khi ấy, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cối xanh tươi với hương ngào ngạt, giếng mương sông ngòi trong đầy, tiếng nước chảy như những bản nhạc giao hưởng bất tận; chim chóc reo vang tựa dàn đồng ca, bầu trời có hào quang tỏa khắp. Cùng bao điều kỳ diệu như:

Phật Thuyết Thập Nhị Du kinh《佛說十二遊經》quyển một viết rằng: Vào lúc Thái tử sắp hạ sanh, chư Thiên hội ý với nhau: nay Bồ tát (Thái tử) hạ sanh, tặng Ngài gì đây, có vị hiến kế nói, cõi trời Tịnh Minh có 440 loại châu báu, điêu khắc tinh sảo, đủ các kiểu, cũng như đồ trang sức quý, lấy các thứ đó là xe (từ dùng là xe, nhưng nghĩa là Tượng, tức Voi), tặng Ngài. (諸天皆言:“今菩薩下生,當何以贈送?”各設方計言:“唯淨明天上,四百四寶,奇鏤別異,各有名類,同有寶華,以為車乘”)[1]. Đoạn kinh sau tả rõ, Bồ tát (hay Thái tử), dùng voi, được làm từ các thứ châu báu, cùng tám vạn bốn ngàn vị Thiên tử giáng trần.

Theo lẽ thường, khi sanh nở mẹ thời đau đớn, máu huyết tổn hao, thế nhưng Phật Bản Hạnh Tập kinh《佛本行集經》quyển bảy[2] ghi rằng: Lúc sanh Thái tử, Hoàng hậu rất an lạc, thân thể không hề khó chịu. Thái tử cũng thế, không khóc, thân không dính máu huyết, có Tứ đại thiên vương hộ trì, chư thiên hộ vệ.

Lại, trong Phật Bản Hạnh Kinh《 佛本行經》quyển một, phẩm Như Lai Sanh thuật rằng: khi Thái tử xuất thai…

- Trên không trung, Thiên nữ cùng quyến thuộc đều đến, cử nhạc trời, ca tụng công đức tu hành của Thái tử trong nhiều đời.( 天女空中, 眷屬俱來, 鼓天伎樂, 歌歎功勳, 往古修行.)[3]

- Ngoài ra còn có, Tự Tại thiên vương cùng thiên chúng cũng vân tập đến, dùng tràng phan che, cung kính đảnh lễ Thái tử - bậc Bồ Tát hạ sanh. (來護菩薩, 又有天王, 名尊自在, 與無央數, 巨億諸天, 執持幢旛, 而來雲集, 以恭肅敬, 禮菩薩足.)[4]

Khi đó, từ không trung hai dòng nước thanh khiết, một ấm một mát, như mưa mùa xuân, làm toàn thân sảng khoái. (trích từ Phật Sở Hành Tán: “應時虛空中, 淨水雙流下, 一溫一清涼, 灌頂令身樂”[5]).

Liền ấy, Thái tử bước bảy bước, tay chỉ trời tay chỉ đất nói: “天上天下, 唯我為尊, 三界皆苦, 吾當安之” [6]. Nghĩa là, cõi trời cõi người, duy chỉ có ta là bậc tôn trưởng, ba giới đều khổ, ta sẽ làm cho được an lạc. Câu nói này, mỗi bộ kinh ghi chép, lời văn có phần khác nhau, xong nghĩa thì không. Như, Dị Xuất Bồ Tát Bản Khởi kinh quyển một là: “天上天下, 尊無過我者”[7] (trên trời dưới nhân gian, bậc tôn trưởng không ngoài Ta). Hay trong Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả kinh quyển một lại chép: “我於一切天人之中最尊最勝, 無量生死, 於今盡矣”[8] (trong tất cả trời người, ta là tối thắng, sanh tử bao đời, kiếp này sẽ chấm dứt.)

Nội dung cũng nói về cuộc đời đức Thích Ca, nhưng trong Phật Bản Hạnh Tập kinh, Phật Bản Hạnh kinh, kinh văn không có phần Thái tử bước bảy bước và nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Hoặc như hiện tượng, khi Thái tử đản sanh, thiên địa chấn động, ba ngàn đại thiên thế giới đều sáng rực. (應時天地大動,三千大千剎土莫不大明)[9]. Chỉ thấy trong Tu Hành Bản Khởi kinh quyển một, phẩm Bồ Tát Giáng Thân mà thôi. Điều này cho thấy, trong quá trình kinh văn từ truyền miệng, đến thành văn bản chữ viết, quá trình đó kinh điển đã có sự thêm bớt nhất định. Cũng vậy, những hiện tượng khác thường của đất trời vạn vật, sảy ra lúc Thái tử hạ sanh, trong kinh điển không phải đều như nhau.

2. Diệu Tướng Nơi Thân Thái Tử

Sau khi hoàng hậu Maya hạ sanh Thái tử, phái đoàn trở lại thành Ca tỳ la (Kapilavatthu). Thái tử được đặt tên là Tất Đạt Đa(梵 Siddhārtha,巴 Siddhattha)với nghĩa là, mọi sự đều thành tựu. Cái tên cũng đã thể hiện ý vi diệu, của đấng siêu phàm. Về hình tướng, Thái tử hội đủ hảo tướng của bậc Chuyển luân vương, hay đấng Như lai, đó là Ba mươi hai tướng tốt (Dvātrimsánmahā-purusa-laksanāni). Theo Phật Bản Hạnh Tập kinh, Trung A Hàm Tam Thập Nhị Tướng kinh, kinh Ðại Bát Nhã, cũng như y cứ vào Phật Quang Ðại Từ Ðiển quyển một bản chữ Hán, thì các diệu tướng đó là:

1. Lòng bàn chân bằng phẳng (足下安立, 皆悉平滿), 2. Bàn chân có xoáy tròn như bánh xe có ngàn nan hoa (雙足下有千輻輪相, 端正處中, 可喜清淨), 3. Ngón tay thon dài (手指纖長);

TatDatTa002-contentTatDatTa003-content

Tướng hảo 2. Tướng hảo thứ 3.

4. Gót chân bằng và rộng (足跟圓好), 5. Ngón tay chân (tròn búp) thon đầy (手足指間具足羅網), 6. Tay chân mềm mại (手足柔軟), 7. Mu bàn chân nổi cao đầy đặn (足趺高隆), 8. Đứng thế vững trãi (踹如鹿王), 9. Tay dài quá gối (曲二手過膝), 10. Nam căn ẩn kín (陰馬藏相), 11. Mỗi chân lông chỉ sanh một sợi lông, hình xoáy (皮膚一孔一毛旋生), 12. Các lông nơi thân đều, mịn (身毛上靡), 13. Da mịn màng (皮膚細軟), 14. Thân sáng chói như ánh kim (身毛金色), 15. Thân thể trong sạch, thanh tịnh (身體淳淨), 16. Miệng hàm tiếu (口中深好可喜方正), 17. Hàm như hàm sư tử vương (頰車方正如師子王), 18. Hai vai đầy đặn (兩肩平滿), 19. Thân tướng trang nghiêm (身體上下縱橫正等), 20. Bảy chỗ đều đầy đặn (七處滿好), 21. Đủ bốn mươi răng (具四十齒), 22. Răng khít (諸齒齊密), 23. Răng đều đặn (齒不疎缺不齹不齵), 24. Răng trắng đẹp (牙白淨), 25. Thân thanh tịnh (身體清淨), 26. Giọng nói như Phạn vương âm (聲如梵王), 27. Lưỡi rộng dài, mềm mại, màu hồng nhạt (舌廣長大柔軟紅薄), 28. Ăn gì cũng là mỹ vị (所食之物皆為上味), 29. Mắt xanh trong (眼目紺青), 30. Lông trắng xoáy giữa hai chân mày (bạch hào), (眉間白毫右旋宛轉具足柔軟清淨光鮮), 31. Lông mi dài cong, mắt sáng (眉眼睫如牛王), 32. Đầu có nhục kế (頂上肉髻高廣平好).

Ba mươi hai tướng tốt nêu trên, trong kinh luận có đôi chỗ khác nhau. Vì Ðại Bồ Tát cũng có đủ 32 tướng, như Chuyển Luân Vương, nhưng trong đó lại còn có 7 tướng thù thắng hơn Chuyển Luân Vương.

3. Lời Kết

Các hiện tượng kỳ diệu nêu trên, nếu đứng ở góc độ khoa học mà nhìn, thì có đôi chỗ khó mà chấp nhận được. Thế nhưng, điều đó không quan trọng, vì đến nay, có rất nhiều hiện tượng, sự việc khoa học vẫn chưa chứng minh được. Hơn nữa, tất cả chỉ để khẳng định, một vĩ nhân, bậc giác ngộ - phật Thích Ca đản sanh chắc chắn có những điều kỳ diệu phi thường. Hay, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp là những gì đi nữa, cũng chỉ để nói, vẻ đẹp hoàn hảo của đức Thế tôn.

Vĩnh Nghiêm, ngày trăng tròn tháng 2

ĐT: Đại Chánh Tân Tu Tạng Kinh, Cty TNHH Xuất bản Tân Văn Phong, Đài Loan xb, 1983



[1] ĐT, q4, no. 195, p. 146, b27-29.

[2] ĐT, q3, no. 190, p. 686.

[3] ĐT, q4, no. 193, p. 59.

[4] nt.

[5] ĐT, q4, no. 192, p. 1, b15-16.

[6] Tu Hành Bản Khởi kinh. ĐT, q3, no. 184, p. 463, c13-16.

[7] ĐT, q3, no. 188, p. 618, a19.

[8] ĐT, q3, no. 189, p. 625, a27-28.

[9] ĐT, q3, no. 184, p. 463, c13-16.

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/08/2015(Xem: 5052)
Cung trời Đâu Suất giáng phàm Sanh vào Tịnh Phạn, Cồ Đàm vương gia Chánh Thái tử Sĩ Đạt Tha Sống trong điện ngọc tháp ngà an vui Nhưng lòng Thái tử không nguôi Hằng luôn suy gẫm thân người mong manh Du ngoạn ngoại thành Giải khuây dạo bốn cửa thành Người già run rẩy thân hình kém suy Người bịnh ốm yếu sầu bi Người chết lạnh ngắt thân gầy xanh xao Thân nhân than khóc kêu gào Giàn thiêu hỏa táng xiết bao đau lòng
13/08/2015(Xem: 13666)
Một bài phóng sự của nữ ký giả Nathalie Lamoureux về Lâm-tì-ni (Lumbini), khu vườn nơi đản sinh của Đức Phật, đã được đăng tải và đưa lên trang mạng của tạp chí hàng tuần Le Point của Pháp số ngày 21 tháng 7 năm 2015. Lâm-tì-ni đã từng rơi vào sự quên lãng của con người từ bao thế kỷ và không còn ai biết là ở đâu. Mãi đến năm 1896, dựa theo những lời thuật lại trong nhật ký của nhà sư Trung Quốc Pháp Hiền, sau chuyến hành hương và tu học ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ V, các nhà khảo cổ người Anh đã khám phá ra một trụ đá của hoàng đế A-dục (từ -304 đến -232, trước Tây Lịch) cạnh một ngôi làng nghèo nàn là Rummindei của xứ Népal. Trên trụ đá có ghi khắc các dòng chữ cho biết Đức Phật đản sinh ở nơi này.
26/07/2015(Xem: 7247)
Bất cứ một tư tưởng triết học nào cũng đều chịu ảnh hưởng của bối cảnh xã hội, của nền văn hoá và của những tư tưởng triết học khác. Từ đó, tư tưởng của một triết gia có khi chịu ảnh hưởng của những người đi trước hoặc đương thời mà phát triển và quảng diễn thêm, nhưng cũng có khi phản kháng lại, hoặc phê bình để đi đến chỗ toàn thiện, hoặc để bênh vực cho tư tưởng của mình.
02/06/2015(Xem: 18077)
Trước khi ôn lại Tiểu Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, để người đọc nhận định dễ hơn về ngày tháng ghi trong tiểu sử của Ngài, chúng tôi xin nhắc lại là Đức Phật Thích Ca sanh vào năm 624 trước Tây Lịch. Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi vào năm 544 trước Tây Lịch. Sáu trăm hai mươi bốn năm sau, Tây Phương mới bắt đầu chọn năm sinh của Đức Chúa Jesus Christ làm khởi điểm cho Dương lịch. Như vậy tính đến nay là năm 2015 thì Đức Phật đã ra đời được 2,639 năm và chiếu theo Phật lịch khởi đầu từ năm Đức Phật viên tịch (năm 544 trước TL) thì Ngài đã nhập Niết Bàn được 2,559 năm. Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Đông Á như Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên ... từ xưa đều làm Lễ Phật Đản vào ngày mồng 8 tháng Tư Âm Lịch. Tên gọi tắt dành cho ngày Lễ Phật Đản là "Ngày mồng Tám tháng Tư" đã lưu truyền hằng bao thế kỷ, trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ghi đậm vào tâm khảm của mọi người kể cả người theo hay không theo Phật giáo.
15/04/2015(Xem: 11964)
Mãi cho đến tháng 12 năm 1999 mới được công nhận và tuyên bố Đại lễ Phật Đản Quốc tế (lễ Vesak – Tam hợp) tại trụ sở Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, New York City (Hoa Kỳ) vừa qua.
01/01/2015(Xem: 5341)
Từng đợt lá thay nhau úa vàng, héo khô, lả tả rơi theo gió mùa. Từng cơn mưa nặng hạt, rơi xuống những mảnh đất đã cằn khô, nứt nẻ. Mưa tuyết rơi xuống làng mạc yên ngủ, phủ đầy những đồng cỏ hoang. Máu lệ rơi trên xác thân người hiền, kẻ ác, người vô tội, kẻ vô minh. Khổ đau đổ xuống những thân phận giàu-nghèo, sang-hèn, tự tôn hay tự ti. Ngày tháng rớt theo những tờ lịch, ảo vọng vùi theo thời gian. Thời gian tàn theo bóng nắng, và đời người phai theo phút giây.
24/12/2014(Xem: 25467)
Bộ tranh cuộc đời Đức Phật Buddha life story
21/10/2014(Xem: 13337)
Hans Küng, sinh năm 1928 tại Sursee, Thụy Sĩ, là Giáo sư Thần học hồi hưu thuộc Đại học Tübingen, Đức. Ông đã sáng lập Hiệp hội Đạo đức Thế giới (Stiftung Weltethos) mà hiện nay ông đang là Chủ tịch Danh dự. Với nhiều công trình nghiên cứu khoa học về các tôn giáo và các đóng góp to lớn về nỗ lực liên tôn cho hoà bình thế giới, ông được nhiều giải thưởng cao qúy và được vinh danh là một nhà tư tưởng quan trọng nhất đương đại. "Auf den Spuren des Buddha" là một trích đoạn từ trong tập hồi ký: “Erlebte Menschlichkeit, Erinnerungen“, Piper, München, Zürich, 2. Aufl. 2013, 377-403.
08/05/2014(Xem: 21719)
Đức Phật giáng sinh ở miền Trung Ấn Độ mà hiện nay được gọi là nước Nepal, một nước ở ven sườn dãy Hy mã lạp sơn, là dãy núi cao nhất thế giới và tiếp giáp với nước Tây tạng. Nguyên Ngài là Thái tử nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Phụ hoàng tên là Tịnh Phạn vương Đầu-đà-na (Sudhodana) và Mẫu Hoàng tên là Ma-da (Maya). Họ của Ngài là Kiều-Đáp-Ma (Gautama), được dịch là Cù-đàm và tên Ngài là Tất-Đạt-Đa (Siddhartha).
28/04/2014(Xem: 5585)
Bài dưới đây là một trong loạt những bài thuộc chủ đề "Quan điểm của Phật Giáo đối với sự đau đớn và bệnh tật". Các bài trước đây là: - Đức Phật thuyết giảng về sự đau đớn (Sallatha Sutta/Kinh về Mũi Tên/SN 36.6) - Thái độ của người Phật Giáo đối với sự đau đớn (Ajahn Brahmavamso Mahathera) - Cái chết là một thứ bệnh ung thư (Ajahn Liem) - Y khoa cũng chỉ là phép luyện đan ( Khyentsé Rinpoché) - Không nên trì hoãn sang ngày hôm sau (Eihei Dogen)