Khổ trong Tam Pháp Ấn

03/03/202617:38(Xem: 559)
Khổ trong Tam Pháp Ấn

phat thanh dao
KHỔ TRONG “TAM PHÁP ẤN”

Thích Nữ Hằng Như



I.DẪN NHẬP

Sống trên đời ai cũng khổ. Người giàu cũng khổ. Người nghèo cũng khổ. Người đẹp, người xấu cũng đều khổ. Có những cái khổ tự nhiên xảy ra trên thân mình như: đói quá, bao tử cồn cào, đau bụng, nhức đầu, nhức răng, nóng sốt... là những cái đau trên cơ thể, khiến mình vô cùng khó chịu. Những cái khổ này không ai muốn, nhưng dẫu sao nó cũng cần thiết, vì nó báo động cho chúng ta biết mức độ nguy hiểm tác động lên cơ thể của mình để sớm trị liệu. Nếu không có những cái khổ tự nhiên này, thì con người chỉ là một tảng đá vô tri.

Khổ cũng có nhiều loại khổ. Chung quy không ai muốn khổ, nhưng cái khổ vẫn xuất hiện trong đời sống của mỗi người, không phân biệt chủng tộc quốc gia hay tầng lớp xã hội.

Trong giáo lý nhà Phật, Khổ là pháp ấn thứ hai trong “Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ và Vô ngã”. Khổ này được dịch từ tiếng Pali là “dukkha”. Dukkha là một thực tại cơ bản của cuộc sống, “không chỉ là nỗi buồn bực, khó chịu thông thường”, mà bao gồm ý nghĩa của “sự bất toàn, không hoàn hảo, không ổn định, vô thường, tạm bợ và sự không thỏa mãn trong vòng luân hồi v.v... “
“Dukkha” được dịch sang tiếng Việt một cách tổng quát là “khổ đau”.

II. KHỔ TRONG KINH “TỨ DIỆU ĐẾ”

Trong Tứ Diệu Đế, Đức Phật giảng về khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Không phải vì thế, mà đức Phật cho rằng con người không có hạnh phúc. Thực ra sống ở đời, cũng có lúc con người cảm thấy rất hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thế gian chỉ là thứ hạnh phúc tạm bợ.

Như định nghĩa ở trên những gì “tạm bợ, vô thường” đều được hiểu là “dukkha”. Như vậy chúng ta thấy rằng “dukkha” không chỉ có nghĩa là “khổ sở, bất toại nguyện, không vừa ý” mà còn bao hàm cả “hình trạng lạc và hỷ “ của con người sống trong thế gian này. Tại sao vậy? Đó là vì tất cả mọi sự vật, sự kiện đều mang đặc tính Vô thường. Nên ngay khi con người đang hưởng sự khoái lạc thích thú, thì sự tiếc nuối phiền muộn sẽ đến ngay sau đó. Vì thế người ta thường nói: “ Trong niềm vui đã chứa sẵn nỗi buồn”, “Trong sự sống đã chứa sẵn sự chết”.

Khái niệm “dukkha” có thể được nhìn từ 3 khía cạnh:

1. Phương diện sinh lý: Khổ là cảm giác khó chịu, bức bối, đau đớn như cảm giác đau đầu, nhức răng, đau nhức toàn thân... Đây là sự đau đớn bức bách về thể xác, con người thường gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Ngoài ra có bốn cái khổ cơ bản về thân, mà ai cũng phải trải qua trong một đời người như:

- Sanh khổ: Ngay đứa bé từ lúc sắp sửa ra đời, cả mẹ và con đều trải qua những giờ phút vật vả đau đớn. - Lão khổ: Nỗi khổ của tuổi già. Khi cơ thể suy yếu, các giác quan không còn hoạt động bén nhạy như lúc còn trẻ: mắt mờ, răng rụng, đi đứng không vững. - Bệnh khổ: Nỗi khổ khi đau ốm, thân thể bị đào mòn bởi tứ đại không hài hòa, sinh ra bệnh tật. - Tử khổ: Nỗi khổ của sự chết. Nỗi sợ hãi khi cái chết đến gần, sợ phải lìa xa thân xác và những gì mình sở hữu trên đời như: tài sản, chồng, vợ, con cái....

Đó là bốn giai đoạn của một đời người: Sinh, lão, bệnh, tử. Giai đoạn nào con người cũng phải đối đầu với “dukkha”!
2. Phương diện tâm lý: Nỗi khổ về tâm, do những mất mát thua thiệt trong cuộc đời gây ra. Chẳng hạn như: - Ái biệt ly khổ: Yêu thương người mà phải chịu cảnh chia xa. - Oán tăng hội khổ: Người mình không ưa, không thích mà cứ phải đối mặt nhau hoài.- Cầu bất đắc khổ: Không đạt được những ước mơ về tình yêu, tiền tài, danh vọng, địa vị...

Những điều bất toại nguyện vừa kể, khiến tâm lý con người ta luôn bị rối loạn buồn phiền. Đó là những nỗi khổ thuộc về tâm.
3) Khổ do chấp thủ vào ngũ uẩn: Đức Phật dạy “dính chấp vào năm uẩn cho nó là ta, của ta, tự ngã của ta là khổ .” Năm uẩn này là năm yếu tố nương vào nhau để tạo thành con người, gồm thân thể, cảm giác, niệm tưởng, tâm hành và nhận thức. Ý niệm chấp ngã cho rằng đây là “thân thể tôi, tâm tư tôi, tình cảm tôi, nhận thức của tôi”... chấp ngã hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ, từ đó mọi đau khổ phát sinh.

Tóm lại về mặt hiện tượng, khổ đau là cảm giác khổ về thân như khổ vì sinh, già, bệnh, chết. Sự bức xúc, lo lắng, không toại nguyện là khổ về tâm. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, và ngã hóa năm uẩn. Nỗi khổ do năm yếu tố tạo nên con người là sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hài hòa gây ra phiền não, Hán ngữ gọi là “Ngũ uẩn xí thịnh khổ ”

Trên đây là tám cái khổ được đức Phật giảng trong kinh Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là giáo lý cốt lõi của Phật Giáo, là bài thuyết pháp đầu tiên, sau khi đức Phật giác ngộ dưới cây bồ đề. Đây là con đường giúp chúng sanh nhận thức về bản chất của đời sống là khổ đau. Từ đó tìm ra cách vượt qua khổ đau, để đạt được giải thoát.

Tứ Diệu Đế bao gồm bốn phần chính: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế. Mỗi đế đều mang một thông điệp quan trọng về sự hiểu biết: Thế nào là Khổ, nguyên nhân gây khổ, chấm dứt khổ và con đường tu tập giải thoát khổ.

Nguyên nhân sâu xa và căn bản khác chính là vô minh và khát ái. Vô minh là sự thiếu hiểu biết, không thấy được bản chất thật sự của sự vật và hiện tượng. Trí tuệ trong Phật Giáo không phải là sự hiểu biết thông thường, mà là sự thấy rõ được bản chất “vô thường, khổ, vô ngã” của mọi pháp.
Vì vô minh cho nên không nhận ra bản chất của sự vật, hiện tượng, luôn chuyển biến, vô thường. Không nhận diện được tất cả mọi thứ đều nương nhau mà sanh khởi, nó không độc lập, không tồn tại trường cửu, nên chúng Vô ngã. Vì vô minh nên nghĩ tưởng sai lầm, chấp ngũ uẩn là ta, của ta, tự ngã của ta. Vì tưởng nghĩ sai lầm như vậy, cho nên áp đặt: “ta giận hờn, ta phiền não, ta tổn thương” cho ra kết quả “ta khổ đau”!

III. KHỔ TRONG TAM PHÁP ẤN

Pháp ấn thứ nhất là Vô thường. Trong đời sống hằng ngày, tất cả mọi hiện tượng xảy ra trên đời đều vô thường, biến đổi. Hôm nay đoàn tụ vui vẻ, ngày mai, ngày kia cũng phải chia xa. Hôm nay khỏe mạnh yêu đời, tuần sau đổ bệnh chán đời. Hôm nay thành công vui vẻ, ngày mai thất bại buồn khổ. Cho nên sau niềm vui thì nỗi buồn sẽ đến. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng thuộc pháp hữu vi đều vô thường biến đổi, không có điều gì đứng yên một chỗ. Người có tuệ giác về vô thường sẽ không phản kháng, chống đối khi vô thường xảy ra. Ngược lại, người không hiểu, không thấy vô thường là một chân lý, thì lúc nào cũng muốn những gì tốt đẹp ở mãi bên mình, không bao giờ muốn đổi thay.

Chính cái “muốn”, cái “tham” ấy là nguồn gốc của khổ. Khổ không nằm ở sự việc, ở hoàn cảnh bên ngoài, mà nằm ở chỗ phản ứng của tâm đòi hỏi sự việc, hoàn cảnh đó, phải theo ý muốn của mình. Khi tâm phản kháng chống lại sự thật về vô thường, thì khổ từ đó phát sinh.

IV. BÁT CHÁNH ĐẠO, CON ĐƯỜNG DIỆT KHỔ

Trong Bát Chánh đạo, đức Phật giảng rằng để đạt được sự giải thoát, đầu tiên con người phải nhận diện và hiểu rõ bản chất của khổ đau. Chỉ khi nhận thức được khổ đau con người mới có thể bắt đầu tu tập. Bát chánh đạo bao gồm 8 yếu tố, từ việc giữ đúng đạo đức, giữ tâm yên lặng, đến việc phát huy trí tuệ. Tất cả đều hướng tới việc giảm bớt khổ đau và đi đến sự giác ngộ.

1. Chánh kiến: Nhận thức đúng đắn về đạo đức của đời sống, cái nào thiện cái nào ác. Hiểu rõ lời dạy của đức Phật về Tứ đế, đồng thời hiểu đúng bản chất của sự vật và cuộc sống do Duyên sanh, nên chúng Vô thường, Khổ, Rỗng không (Vô ngã). 2.Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn không bị chi phối bởi tham sân si. 3. Chánh ngữ: Lời nói chân thật, từ tâm, không đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung dữ, căm thù. 4. Chánh nghiệp: Hành động đúng đắn không sát sanh, lừa gạt, trộm cắp, hành dâm phi pháp. Thực tập lòng từ bi đối với mọi người không phân biệt thân sơ, thương ghét. 5. Chánh mạng: Mưu sinh bằng nghề nghiệp chân chính, không bằng những nghề phi pháp, gian xảo, độc ác hại người. 6. Chánh tinh tấn: Nỗ lực trong việc loại bỏ những yếu tố tiêu cực. Ngăn chặn điều ác chưa sanh và đã sanh. Phát huy tâm thức lành mạnh tốt đẹp đã sanh và chưa sanh. 7. Chánh niệm: Nhớ nghĩ đúng đắn. Tỉnh thức trong từng khoảnh khắc không bị cuốn theo những suy nghĩ phiền não. 8. Chánh định: Tập trung tư tưởng đúng đắn, tâm không dao động do suy nghĩ lung tung. Mục đích đạt được sự an tĩnh trong tâm.

Bát chánh đạo là phương pháp thực tiễn giúp con người vượt qua khổ đau trong cuộc sống. Mỗi yếu tố trong Bát Chánh Đạo đều đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hành giả thanh lọc tâm, phát triển trí tuệ, và đạt được sự giải thoát cuối cùng. Những nguyên lý và phương pháp này có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh ngay trong đời sống hiện tại, chẳng những giúp chúng ta vượt qua khổ đau, mà còn sống một cuộc đời bình an và hạnh phúc .

V. CHUYỂN HÓA KHỔ ĐAU TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY

Chỉ những vị A-la-hán lúc nào cũng an trú trong Chánh định mới thoát khổ. Còn chúng ta là phàm nhân sống trong đời thường, thì luôn bị vô thường, khổ chi phối.

Muốn thoát khổ không phải tìm kiếm một cuộc sống lúc nào cũng an lành hoàn hảo, cũng không phải trốn tránh những khó khăn, bất hạnh, hay những điều làm mình không vừa ý. Đã biết tất cả mọi thứ trên đời này đều biến đổi không thường hằng, nên chúng ta cần tập cách sống chấp nhận sự thật về vô thường khi nó đến. Vì nếu không chấp nhận thì vô thường vẫn đến, và nó sẽ tác động vào cảm thọ của chúng ta. Những xúc cảm dù vui hay buồn tự nó cũng đổi thay. Biết như thế thì chúng ta hãy nhìn vô thường khi nó đến, một cách trung thực, không chê, cũng không khen, nghĩa là không can thiệp. Đó là chúng ta đang thực hành Chánh niệm, tức quan sát biết rõ pháp đến pháp đi, bằng cái tâm yên lặng bình thản. Mình không nuôi dưỡng nó bằng cách suy diễn, trách móc, hay mong cầu... thì phiền não tự yếu đi và biến mất.

Tóm lại, khổ đến không đáng sợ, vì khổ cũng vô thường. Khi khổ xuất hiện, với cái nhìn của chánh niệm tỉnh thức, nó yếu dần rồi biến mất. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật dạy: “Tâm có tham thì biết tham. Tâm có sân thì biết sân. Tâm có si thì biết si, không bênh vực cũng không chống đối.” Chỉ quán sát đối tượng đang xảy ra với tâm hoàn toàn không phản ứng. Phản ứng là khi cảm thọ buồn phiền xuất hiện, thì chấp liền “tôi đang buồn, tôi đang bị xúc phạm, tôi đang bị tổn thương v.v...” Khi có chủ thể “tôi” tức bản ngã xuất hiện, lập tức sinh ra việc đổ lỗi, phản kháng, hay mong cầu. Có đổ lỗi, phản kháng hay mong cầu là có khổ!

VI. KẾT LUẬN

Sống ở đời, sẽ có lúc mình buồn, giận, lo âu, sợ hãi. Những cảm thọ ấy vốn là hiện tượng tự nhiên. Tu tập không phải để diệt những cảm xúc đó, cũng không phải đối lập, tạo ra một phiên bản riêng, chiều theo ý muốn mình, mà là để có trí tuệ thấy rõ sự vận hành của “thân, thọ, tâm, pháp”. Cho nên con đường thoát khổ, không nằm ở chỗ tìm kiếm những điều kiện thuận lợi ở bên ngoài, mà thực chất là nằm ở chỗ quay về bên trong, thấy rõ những gì đang trói buộc tâm mình, cho dù sự trói buộc đó là hạnh phúc hay khổ đau cũng không bám víu, vì hạnh phúc hay khổ đau đều vô thường. Chấp trước vào vô thường thì sinh khổ.

Giáo lý nhà Phật dạy rằng tất cả mọi hiện tượng trong thế giới này đều đang trong trạng thái di động không ngừng, và do đó không có gì là thực sự ổn định. Nếu ta cứ dính mắc vào chúng, thì chúng ta khó tránh khỏi phiền não. Cho dù sống ở thời đại nào cái khổ cũng xuất hiện chi phối con người. Khi nhận thức được rằng khổ đau là một phần của đời sống, chúng ta sẽ không còn chối bỏ, hay tránh né nó, mà sẽ học cách đối diện và vượt qua.
Muốn vượt thoát khổ, không phải lúc nào cũng cầu mong tâm được bình yên, mà là ngay cả trong lúc sóng gió phiền muộn tràn đến, thái độ của tâm vẫn định tỉnh, sáng suốt quan sát “cái đang là” của đối tượng một cách bình thản. Ngay lúc đó tâm được tự do, thoát khổ.
Bài học về Khổ, không chỉ đơn thuần là những lời dạy trên mặt lý thuyết, mà là bài học thực tiễn mang tính ứng dụng cao trong đời sống hằng ngày. Vô thường mang đến sự không toại ý, không toại ý thì khổ. Vô thường và khổ là hai chân lý trong tam pháp ấn, pháp ấn thứ ba là vô ngã.
Chúng tôi tạm ngưng phần chia sẻ về đề tài “Khổ Trong Tam Pháp Ấn” tại nơi đây. Kính chúc tất cả quý vị hữu duyên, nhận ra khổ cũng chỉ là một pháp vô thường, nó sanh rồi cũng diệt, để khi giáp mặt với khổ, tâm chúng ta bình thản, không bị “vô thường làm khổ”! Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
(Sinh hoạt với Hội thiền Tánh Không Houston, Texas ngày 01/3/2026)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/12/2014(Xem: 7285)
Nhiều người , do chỉ nhìn sơ lược bên ngoài, nói đạo Phật là “sắc sắc không không” một cách mơ hồ. Điều này dễ dẫn đến nhìn đạo Phật như là một lối sống bi quan, yếm thế. Từ khi có thêm lối suy nghĩ của văn hóa Tây phương vào đầu thế kỉ 20, chữ Không và Giải thoát càng thêm bị hiểu lầm.
11/12/2014(Xem: 6227)
Khi bậc Thế Tôn Đại Giác nói rằng: "Vì một đại sự nhân duyên của chúng sanh ở thế gian Ta bà mà Như Lai xuất hiện ra đời." Vậy từ khi Chánh Giác Thế Tôn xuất hiện đến bây giờ chúng ta những người con của đấng Đạo Sư nhận được những sự lợi lạc gì trong đại sự nhân duyên đó. Lời của đấng Chánh Biến Tri là chân thật ngữ.
11/12/2014(Xem: 5990)
Thế giới ngày nay sở dĩ lúc nào cũng xảy ra chiến tranh, binh đao tàn sát lẫn nhau là bởi nhân trộm cướp, giết hại mà ra. Con người chiếm đoạt tài nguyên để phục vụ lợi ích bản thân, chiếm không được thì tìm cách sát phạt, triệt tiêu nhau bằng nhiều hình thức, cuối cùng gây thù chuốc oán không có ngày thôi dứt.
08/12/2014(Xem: 6275)
Trên trang trực tuyến của CNN vào tháng Tư 2014, có một bản tin kèm theo hình ảnh, mang tựa đề “The images tell a story of anguish and forgiveness” (Những hình ảnh thuật lại một câu chuyện về lòng tha thứ và hỷ xả) do hai phóng viên của CNN tường thuật đã gây ra nhiều xúc động. Bộ ảnh này của một nhiếp ảnh gia của một hãng tin chụp được tại một cuộc xử tử bằng cách treo cổ vừa diễn ra lúc bình minh vào vài ngày trước tại thành phố Noor, tỉnh Maznadaran, miền Bắc nước Ba Tư (Iran). Hình thức trừng phạt này vẫn còn được chấp nhận và rất phổ thông ở đây.
23/11/2014(Xem: 9965)
Theo giáo lý nhà Phật, thì con người là do 5 uẫn kết hợp lại mà thành, đó chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và nếu 5 uẫn này rời ra thì con người không còn nữa. Hay nói ngắn gọn hơn đó chính là Danh và Sắc. Là thân xác và tinh thần của con người chúng ta.
22/11/2014(Xem: 46994)
Có người khách mang đến cho tôi một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực lạc, Ánh sáng và bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên nhiều lắm với tác giả lạ. Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị. Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú XUÂN KÝ, một thời ở Già-lam cùng với chú Sỹ.
19/11/2014(Xem: 6814)
Vô minh có nghĩa là không sáng, không sáng không có nghĩa là không có ánh sáng mà vì ta không nhận ra ánh sáng đó. Cũng vậy hằng ngày chúng ta sống trong ánh sáng mặt trời mà ta không nhận ra gì hết, còn các nhà khoa học thì nhận ra được. Chẳng những nhận ra mà còn đo được tốc độ di chuyển của nó và phân biệt được nó chuyển động bằng sóng hay bằng hạt.
16/11/2014(Xem: 19353)
Lý thuyết nòng cốt của Phật giáo về sự cấu tạo con người và vũ trụ là năm uẩn. Uẩn có nghĩa là sự chứa nhóm, tích tụ: 5 uẩn là 5 nhóm tạo thành con người. Sở dĩ gọi “nhóm” là vì: 1) Tâm vật không rời nhau, tạo thành một nhóm gọi là uẩn. 2) Gồm nhiều thứ khác nhau họp lại, như sắc uẩn là nhóm vật chất gồm 4 đại địa thủy hỏa phong (chất cứng, chất lỏng, hơi nóng, chuyển động) và những vật do 4 đại tạo thành. 3) Mỗi một nhóm trong 5 uẩn có đặc tính lôi kéo nhóm khác, như sắc uẩn kéo theo thọ, thọ kéo theo tưởng, tưởng kéo theo hành... 4) và cuối cùng ý nghĩa thâm thúy nhất của uẩn như kinh Bát nhã nói, là: “kết tụ sự đau khổ”.
04/11/2014(Xem: 6247)
Phật giáo không công nhận có một Đấng Thượng Đế Sáng Tạo, tiếng Anh là The Creator God và thường gọi tắt là God. Các tôn giáo độc thần tin rằng vũ trụ và nhân loại sinh ra từ một Đấng Sáng Tạo, một thời xưa cổ được hình dung như là một ông già tóc bạc râu dài đã sanh ra con người theo mô hình Thượng Đế. Khi khoa học cho biết không thể có một vị như thế, các lý thuyết gia độc thần mới xóa hình ảnh râu dài tóc bạc và diễn giải Thượng Đế Sáng Tạo như một định luật đã sanh ra loài người và quan phòng cho khắp thế giới. Một số tôn giáo Tây phương còn đồng nhất khái niệm Phật Tánh (Buddha-nature) với Đấng Sáng Tạo trong khi chiêu dụ Phật tử cải đạo. Thực ra, Phật Tánh không hề sanh ra gì hết, vì không hề có một nguyên lý duy nhất bao giờ, và tất cả những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là các pháp sanh khởi theo luật Duyên Khởi; hễ đủ duyên thì sanh, hết duyên thì biến mất. Bởi vậy, mới nói Phật Tánh vốn thực là Vô Tự Tánh.
15/10/2014(Xem: 6968)
Có lắm người xuất gia cũng như tại gia cho rằng, chúng ta tu không thể nào giác ngộ thành Phật. Vì đức Phật ra đời có những nhân duyên kỳ đặc, bản chất Ngài đã thánh sẵn rồi; còn chúng ta nào là ham mê dục lạc, nào là tội lỗi đầy đầu, nào là sanh nhằm thời mạt pháp căn cơ yếu kém ngu độn v.v... làm sao tu thành Phật được? Ở đây chúng ta hãy nhìn Thái tử là một con người, thật là người để lấy làm mẫu mực hướng theo tu hành.