Sở Tri Chướng

17/05/202517:25(Xem: 2536)
Sở Tri Chướng

hoasen_10


SỞ TRI CHƯỚNG

 

Là một thuật ngữ âm Hán – Việt, có lẽ khó hiểu với một số Phật tử cũng như những người trẻ. Sở tri chướng nói một cách dễ hiểu là chướng ngại từ chính cái biết của mình. Tại sao cái biết, cái tri kiến của mình lại là chướng ngại? lẽ ra phải là điều phát triển đáng quý chứ, nghe thì tưởng chừng vô lý nhưng thật ra thì rất chính xác, nhất là trong giới học Phật.

Chính cái tri kiến cuả ta làm chướng ngại ta, chúng ta chấp vào cái sở tri của chính mình để rồi mắc kẹt chết cứng và đóng khung mà không thể tiến được.

Con người ta gồm có thân (sắc) và tâm (danh), chính cái tâm mới quyết định, mới là chủ nhân. Cái thân chỉ là kẻ thừa hành, sai đâu đánh đó và gánh lấy cái hậu quả của mọi việc. Trong kinh Suy Niệm Về Nghiệp đức Phật ví cái tâm như con bò còn cái thân như cỗ xe. Muốn cái xe di chuyển thì đánh con bò chứ không phải đánh cỗ xe.

Thân ngũ uẩn danh - sắc là: thọ, tưởng, hành, thức và sắc. Thân tứ đại được cấu thành: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu giác quan này tiếp xúc sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì sanh ra sáu thức. Chúng ta dính mắc và chấp chặt vào sáu thức này mà sanh ra lắm mê lầm.

Thông thường hễ sáu giác quan tiếp thu cảnh trần thì lập tức cảm thọ và tưởng. Thọ và tưởng dính liền nhau, không thể tách rời. Hễ thọ là lập tức tưởng, tuy nhiên từ tưởng đến hành thì lại có một khoảng cách xa. Có khi tưởng sẽ hành nhưng cũng có khi chỉ dừng lại ở tưởng, dù có hành hay không hành thì tất cả đều lưu trong tạng thức. Ví dụ khi mắt ta gặp một người nào đó, lập tức cảm nhận đây là một con người và cũng lập tức sanh tâm phân biệt đây là người da trắng, da đen, da vàng. Đây là một người đẹp hay xấu, cao hay thấp, mắt toét hay mắt xinh, sang trọng hay bần hèn… có vô số điều phân biệt và cái tưởng cũng song hành: người này lười hay siêng, thông minh hay ngu dốt, dễ thương hay dễ ghét… tưởng sâu hơn chút nữa, nếu hợp với cái gu (những điểm thích chủ quan có trong tạng thức) thì ước mơ chiếm hữu hoặc giả là không thích hợp gu của mình thì muốn đập cho một trận (nếu mẫu người ấy trùng hợp với nhũng đặc tính của oan gia trái chủ lưu trong tạng thức). Cái tâm phân biệt, cái cảm thọ và tưởng nó diễn ra nhanh không thể tưởng, vì nhanh quá mà chính bản thân ta cũng không nhận biết. Những đặc điểm phân biệt ấy chính là cái định kiến kiên cố, chính cái sở tri này cản trở chúng ta nhìn nhận sự thật: Đây chỉ đơn giản là một con người, là một sự kết hợp của nhiều yếu tố đất, nước, gió, lửa và thần thức mà thành. Là một con người tạm gọi, là giả danh chứ không thật sự có cái gọi là một con người. Một con người do chúng duyên hợp lại mà sanh ra. Bởi vậy làm sao có xấu – đẹp, sang – hèn, trí – ngu… để rồi yêu – ghét mà chấp chặt vào đó. Những yếu tố mà chúng ta phân biệt: Tốt – xấu, trí – ngu, sang – hèn… là giả tướng, là kết qủa của quá trình tạo tác trong quá khứ. Cái giả tướng với những yếu tố ấy cũng không thật, nó biến hoại, nó thay đổi liên lỉ. Cái biết, cái hiểu (sở tri) của chúng ta hình thành từ môi trường sống, môi trường giáo dục của gia đình và xã hội. Nó không đúng với chánh kiến, chánh tư duy vì vậy mà chúng ta thiếu chánh ngữ, chánh nghiệp… Cái sở tri của chúng ta trở thành cái chướng ngại cản trở chúng ta nhìn ra sự thật. Chúng ta dính mắc trong cái biết, cái hiểu sai lầm, vì kẹt trong cái sở tri ấy mà chúng ta không thể tiến về trước, không thể tiến về phương trời cao rộng được, không thể giải thoát khỏi khổ đau, không thể thoát sanh tử luân hồi.

Mắt nhìn thấy và cảm thọ, phân biệt, tưởng như thế. Tai nghe cũng thế, cho đến mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều như thế! Vì sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà mê lầm nên không thấy “mộng huyễn bào ảnh”, không biết rằng đó cũng chỉ là “Như lộ diệt như điện”, chấp cái biết của mình, lấy đó làm dài lâu, làm cơ sở cho suy nghĩ, nói năng và hành động.

Cái sở tri của người Ấn Độ giáo cho rằng con người được tạo ra bởi thần Brahma. Hàng tăng lữ, Bà La Môn, Sát Đế Lợi được sanh ra từ miệng thần nên cao quý và ở địa vị thống trị. Hàng Chiên Đà La, Thủ Đà La sanh từ bàn chân thần nên là nô lệ, là giai cấp thấp và vĩnh viễn phải chịu như thế. Chính cái tri kiến này đã làm chướng ngại cho sự bình đẳng, yêu thương, tu học, giải thoát. Chính cái biết, cái hiểu sai lầm này đã khiến cho con người khổ đau và gây khổ đau cho nhau, đày đọa lẫn nhau… Nghĩa là tất cả cùng tạo nghiệp xấu và vì thế mà vĩnh kiếp luân hồi, lên xuống trong ba ngã sáu đường. Cái sở tri của chính ta chướng ngại ta giác ngộ. Đức Phật thuyết pháp, nói lời thật, chỉ ra cái “sở tri” sai lầm kia: “Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, chính nghiệp phân chia sự dị biệt cao thấp trong đời” hoặc là: “Không phải do dòng dõi thọ sanh mà một người thấp hèn hay cao quý. Chính hành vi tạo tác  khiến người ta thấp hèn hay cao quý” – (Kinh Suy Niệm Về Nghiệp)

Cái chướng của sở tri cản trở việc hòa hợp, dung thông, thăng tiến. Nhiều chùa Phật giáo Nam Tông và Nguyên Thủy không cho người nữ xuất gia hay thọ đại giới bởi vì cái tri kiến cho rằng: Người nữ không thể đắc ngôi vị chánh đẳng chánh gác, không thể làm chuyển luân vương, không được làm ma vương…Trong khi ấy người tu học theo Bắc truyền lại có cái sở tri chướng ngại là cho rằng người tu học theo Phật giáo Nam truyền, Nguyên thủy là “tiêu nha bại chủng”…

Cái tri chướng trong đạo đã thế, ngoài đời còn ghê gớm hơn. Cái thấy sai lầm, cái biết phiến diện cản trở con người tiếp nhận cái đúng, chướng ngại sự phát triển. Người da trắng chấp vào sắc tướng và văn hóa của mình mà tự phụ cho mình cao cấp, thượng đẳng và từ đó tự cho mình cái quyền “khai hóa” người khác, thực chất là xâm lăng, cai trị, nô lệ người khác, thậm chí họ đánh giết và tàn sát nhiều dân tộc nhược tiểu khác. Cái tri kiến của họ sai lầm, họ không biết sở dĩ họ cia những ưu điểm ấy là cái quả của quá trình tạo tác trong quá khứ. Thuyết đại đồng của người Cộng Sản cũng thế, lúc đầu có vẻ tốt, họ muốn tranh đấu chống lại bất công xã hội, xóa bỏ sự áp bức, bóc lột. Họ mơ tưởng một thế giới đại đồng, bình đẳng nhưng lại làm sai hoàn toàn. Cái tri kiến sai nên họ không thể nhận ra nguyên nhân thật sự của sự bất công và khổ đau. Họ hành động để xóa bỏ bóc lột nhưng chính họ lại trở thành một giai cấp bóc lột mới. Họ cai trị còn tàn bạo hơn những thể chế mà họ tiêu diệt. Họ chấp chặt vào cái biết của họ mà không biết gì nhân – duyên – quả. Cái sở tri của họ quá thô thiển, tàn bạo và mê muội đã cản trở họ thực hiện một thế giới đại đồng như họ từng tưởng.

Trong đạo ngoài đời đều có vô số chuyện về sở tri chướng. Một người học đạo hay học nghề  với cái tâm đơn sơ, trong trắng, chưa có ý niệm gì thì dễ tiếp nhận và tiến bộ nhanh. Còn một người học đạo hay học nghề với cái mớ hiểu biết lêch lạc và định kiến sẽ khó tiếp nhận và phát triển hơn. Chuyện một ông giáo sư đại học đến cật vấn một thiền sư Nhật. Vị thiền sư chẳng nói năng chi, cư bình thản rót nước trà vào cái chung, nước chảy tràn mà ông vẫn cứ rót, điều ấy khiên ông giáo sư phải la lên “dừng lại”. Bấy giờ vị thiền sư mới cười bảo: “Ông hãy làm cạn cái chung của ông trước khi tiếp nhận cái mới”. cái sở tri của ông giáo sư đầy ắp, đó là chướng ngại khiến ông ấy không thể tiếp nhận hay học thiền được.

Cái sở tri, cái biết của mỗi con người hình thành từ nhỏ, chịu ảnh hưởng bởi giáo dục của gia đình và xã hội, tác động bởi những mối quan hệ, từ chính sự học, đọc sách của người ấy, trong đó có một phần tác động lớn từ những chủng tử trong tiềm thức. Bởi vậy mà có trường hợp anh em một nhà nhưng sở tri khác nhau, quan điểm khác nhau, kẻ đi xuống người đi lên. Học trò chung lớp, chung thầy, chung một nền giáo dục nhưng có kẻ phát triển theo hướng chánh ngược chiều với số đông, ấy là vì họ vượt qua cái sở tri của mình.

Có rất nhiều Phật tử chúng ta cũng đi chùa, tụng kinh, niệm Phật… nhưng vì cái biết không đúng đã làm chướng ngại trong việc nhìn nhận giáo lý căn bản, không chịu làm theo lời Phật mà cứ mê xin xăm, bói quẻ, hầu đồng, cúng sao giải hạn, cầu cúng quỷ thần…Ngay cả nhiều vị xuất gia cũng thế, vì cái sở tri mà chướng ngại việc thực hành chánh pháp. Nhiều vị lơ là điều cốt lõi của Phật pháp, chỉ thích phù diễn tắc trách, nặng về hình tướng, màu sắc, âm thanh… Nhiều người vì cái sở tri mà không hành như lý như pháp, chỉ thích kết giao quan gia, quyền lực thế tục, mua thần bán thánh, kinh doanh tâm linh, mặc cả danh lợi, biến chốn A Lan Nhã thành cái chợ mua bán danh lợi, quyền lực và kiến tạo vây cánh cát cứ.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 0525





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/08/2010(Xem: 13081)
Theo quan kiến của các luận sư Phật học, kinh điển của Phật giáo Đại thừa, thì phần văn lý hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa và linh hoạt như: các bộ Kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Pháp Hoa… được xây dựng trên tinh thần phát triển nội dung nên giáo lý được phân định theo hai phần: Phương tiện môn và Chân thật môn. Về phương tiện môn, như có lần đức Phật ví pháp đó như nắm lá trong tay đã rời khỏi sự sống, còn sự hiểu biết và diệu dụng của Ngài như lá trong rừng luôn luôn xanh tươi, vận hành theo bốn mùa.
24/07/2010(Xem: 5332)
Khổ đau hay hạnh phúc đều là những hậu quả tất yếu mà những hành động trước đó chúng ta đã tạo ra; dù là đồng thời hay dị thời đi nữa, thì chúng cũng bị lệ thuộc vào sự chi phối của luật tắt Nhân quả đứng về mặt hiện tượng.
22/07/2010(Xem: 17761)
Tôi phải thú nhận rằng hình như có điều gì không ổn khi một người suốt đời sống trong thế tục như tôi lại viết lời giới thiệu cho một quyển sách về giáo lý của Đức Phật về sự thành đạt, trí tuệ và bình an nội tâm. Quan điểm của tôi về tôn giáo đã bị chỉ trích nhiều, vì tôi tin rằng hầu hết các tôn giáo đều là một hình thức tâm bị nhiễm vi-rút (virus) làm lây nhiễm chúng sanh bình thường mạnh khỏe –và thường là có tri thức. Chỉ có Phật giáo dường như tách biệt với các tôn giáo khác vì tính chất cởi mở, uyển chuyển và thực dụng. Do đã sống hơn nữa thể kỷ ở Sri Lanka, tôi đã nhìn thấy giáo lý của Đức Phật đã được áp dụng như thế nào bởi nhiều thành phần xã hội, bằng nhiều phương cách khác nhau. Dầu nghe có vẻ lạ, nhưng những người hoàn toàn có lý trí và những kẻ bảo thủ một cách điên cuống đều cho rằng niềm tin và thái độ củ
11/07/2010(Xem: 13136)
Có nhiều bài báo, nhiều công trình khảo cứu công phu viết về con số 0 cả từ thế kỷ trước sang đến thế kỷ này. Quả tình, đó là con số kì diệu. Có những câu hỏi tưởng chừng ngớ ngẩn, chẳng hạn, “số không có phải là con số?”, nhưng đó lại là câu hỏi gây nên những trả lời dị biệt, và ở mỗi khuynh hướng tiếp cận khác nhau, những câu trả lời khẳng hoặc phủ định đều có những hợp lý riêng của chúng. Thế nhưng, hầu như ngoài những nhà toán học thì chẳng mấy ai quan tâm đến con số không; có thể nói người ta đã không cần đến nó từ các nhu cầu bình nhật như cân đo đong đếm.
02/07/2010(Xem: 6249)
Sự hiện hữu của mỗi chúng ta hiện giờ và ở đây là do, từ, bởi nhiều nguyên nhân và điều kiện. Tôi có mặt ở đây là nhờ cha mẹ tôi đã lấy nhau, nhờ gia đình nuôi dưỡng
01/07/2010(Xem: 6612)
Vô thường, phụ thuộc vào sự biến đổi, là tính chất của các pháp hữu vi. Hãy tinh tấn”. Đó chính là lời nhắc nhở cuối cùng của Đức Phật Cồ-đàm đối với hàng đệ tử của Ngài. Và khi Đức Phật đã nhập Niết-bàn, Trời Đế Thích than rằng:
26/06/2010(Xem: 5804)
Quyển luận này nhằm mục đích nhắc nhở người xuất gia phải nổ lực tu hành, để được giải thoát nên được đề tựa là Cảnh Sách; “Qui Sơn Cảnh Sách” là luận Cảnh Sách của Ngài Qui Sơn.Đây là bộ luận mà trong thiền môn nói riêng, giới xuất gia nói chung, coi như kinh của Phật. Thế nên ai xuất gia vào chùa, trong thời gian đầu học làm Sa Di, đều phải học thuộc lòng ba quyển gọi là Phật Tổ Tam Kinh; Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo, Qui Sơn Cảnh Sách.
24/06/2010(Xem: 8631)
Vào năm 1946, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa về sức khỏe là “tình trạng hoàn toàn thư thái cả về thể chất, tinh thần, lẫn các quan hệ xã hội, chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay không bị thương tật”. Định nghĩa này cho thấy thân và tâm của con người dính liền với nhau như hình với bóng, và có sức khỏe có nghĩa “thân tâm an lạc”. Điều hết sức thú vị nằm ở chỗ đối với những ai là con nhà Phật thì không phải đến bấy giờ, tức thời điểm WHO đưa ra định nghĩa, mà từ rất lâu rồi các Phật tử vẫn thường chúc nhau và chúc mọi người: “thân tâm thường an lạc”.
21/05/2010(Xem: 25042)
Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất ra đời với sứ mạng thừa kế sự nghiệp truyền trì đạo giáo cao cả của đức Bổn Sư Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, mà liệt Tổ truyền giáo đã dày công xây dựng trên mảnh đất Việt nam thân yêu này, với một cơ đồ vững chắc tốt đẹp hơn hai nghìn năm lịch sử. Chưa có một Đạo giáo, học thuyết nào trong quá khứ đã có một ảnh hưởng, một thọ mạng, một địa vị hơn thế được, đối với xứ sở này. Thật vậy, lịch sử truyền giáo của Phật giáo Việt nam là một lịch sử gắn liền với lịch sử giữ nước, dựng nước của dân tộc Việt nam. Điều đó không ai phủ nhận được và cũng không có tổ chức nào trong quá khứ có trang sử vẻ