01. Tứ Diệu Đế

21/11/201819:51(Xem: 3378)
01. Tứ Diệu Đế
cau do Phat phap

HÀNG DỌC:

1  Cái khổ phải hội ngộ với người mình ghét.

2  Mong cầu càng nhiều thì thất vọng càng lớn.

4   Là quả vị cao nhất trong Thanh Văn thừa.

5   Bốn cái khổ đầu trong Tám Khổ.

7   Đau đớn khi phải chia ly với người mình yêu thương.

8   Là quả dự lưu (quả vị đầu tiên trong Thanh Văn thừa).

9   Chấp thân ngũ ấm tứ đại giả hợp này là Ta.

10  Vị này có phước trí hoàn toàn, đáng làm nơi phước điền cho chúng sanh cúng dường.

11  Tâm lực biết được tâm niệm, sở cầu của kẻ khác.

13  Cái thân người khổ vì sự xung đột và chi phối của sắc thọ tưởng hành thức.

14  Niết bàn chưa hoàn toàn (từ Tu đà hoàn đến A na hàm).

18  Giai đoạn hơi nóng trong Tứ gia hạnh.

19  Dukkha, Đế đầu tiên trong Tứ Diệu Đế.

20  Đây là con đường, phương pháp tu hành để diệt khổ và được vui (trong Tứ Diệu Đế).

21  Là chân lý chắc thật trình bày nguyên nhân của bể khổ trần gian.

 

HÀNG NGANG:

3  Năm (5) nguyên nhân đầu trong 10 phiền não gốc của Tập Đế.

6  Quả vị thứ ba trong Thanh Văn thừa (Bất lai).

12 Nhãn lực soi thấy khắp muôn loài cùng sự sanh hóa trong thế giới bao la.

15 Niết bàn hoàn toàn (khi đạt đến quả vị A-la-hán).

16 Chấp chặt sự hiểu biết sai lầm của mình (trong Tập Đế).

17 Bốn đức quý trọng, cao cả tuyệt đối của tánh tịnh Niết bàn.

21 Nhĩ lực nghe khắp mọi nơi.

22 Quả vị Nhất lai trong Thanh Văn thừa.

23 Là chân lý chắc thật, trình bày rõ rang quả vị an lành, tốt đẹp khi đã diệt trừ khổ. 


cau do Phat phap-giai dap

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/02/2011(Xem: 6238)
Đây là bốn phương pháp thu phục, đưa chúng sanh hữu tình từ vô minh phiền não trở về giác ngộ giải thoát, từ khổ đau trở về an vui, từ sinh tử trở về Niết-bản, từ tà kiến sai lầm trở về chánh pháp chánh kiến mà đức Đạo sư dành dạy cho các hàng đệ tử của Ngài, nhất là đối với các hàng Bồ-tát.
25/01/2011(Xem: 5412)
Sự hiện hữu hay hủy diệt của một thực tại giả hợp, chúng luôn luôn tùy thuộc vào nhân và duyên có được, từ nơi định luật vô thường khởi-diệt của nhân sinh và vũ trụ, đã nói lên tính dung thông vô ngại của nguyên lý Duyên khởi tính không các pháp đối với cuộc sống.
25/01/2011(Xem: 5919)
Hành giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình, trong muôn nghìn pháp môn mà đức Đạo sư đã để lại.
22/01/2011(Xem: 7317)
Người cư sĩ tại gia, ngoài trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, xã hội còn có nhiệm vụ hộ trì Tam Bảo. Cho nên trọng trách của người Phật Tử tại gia rất là quan trọng...
14/01/2011(Xem: 5120)
Chư Chánh Đẳng Giác, Độc Giác, Thinh Văn Giác đều có nguyện lực và đều có ba giai đoạn: Nguyện trong tâm (ý), nguyện thành lời (khẩu) và nguyện bằng hành động (thân) ba-la-mật. Như đức Phật Sakyā Gotama đã phát nguyện ở trong tâm suốt 7 A-tăng-kỳ, nguyện thành lời suốt 9 A-tăng-kỳ, và nguyện bằng hành động ba-la-mật suốt 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp(2). Như vậy là đức Phật Sakyā Gotama phải thực hành ba-la-mật trải qua 24 vị Phật tổ, kể từ Phật Dīpaṅkāra (Nhiên Đăng) cho đến Phật Kassapa (Ca Diếp).“Nguyện lực” hay “quyết định lực” là 01 trong 10 ba-la-mật (pāramī) (1) theo kinh điển truyền thống. Nó là năng lực của ý chí tiếp sức cho tư tác (cetanā) hoàn thành tâm nguyện của người học Phật và tu Phật.
31/12/2010(Xem: 4600)
Rõ ràng, đối với đạo Phật, tâm là cơ sở, là đối tượng, đồng thời cũng là công cụ của việc thực nghiệm đời sống tâm linh. Tâm là gốc của sinh và tử...
28/12/2010(Xem: 4345)
Phật tử Chơn Từ Bi hỏi: Con nghe nói đạo Phật là chánh tín nhân quả, lấy tứ diệu đế làm nền tảng là minh triết đạo Phật? Tại sao bây giờ con thấy trong các chùa, kể cả chùa Ban tri sự Phật giáo Tỉnh và các Huyện vẫn cúng sao giải hạn một cách công khai trong những ngày đầu năm và hàng tháng? Như vậy có trái với lời Phật dạy hay không?
28/12/2010(Xem: 4417)
Một trong các phương pháp thực tập sự kham nhẫn là học hạnh chịu đựng của đất. Đất có thể bao dung hết muôn loài vật trên thế gian này. Đất nuôi sống thiên nhiên, cỏ cây, hoa trái để nuôi dưỡng chúng sinh. Từ đất con người khai thác các loại tài nguyên khoáng sản để có điều kiện gia tăng sản xuất, nâng cao đời sống để nhân loại và muôn loài vật tồn tại.
26/12/2010(Xem: 10874)
Thượng tọa Henepola Gunaratana thọ cụ túc giới vào năm 12 tuổi, trong một ngôi chùa nhỏ ở làng Malandeniya, quận Kurunegala thuộc quốc gia Miến Điện. Thầy bổn sư của ngài là thượng tọa Kiribatkumbure Sonuttara Mahathera. Vào tuổi 20, ngài được thụ phong đại đức ở Kandy, năm 1947. Ngài hoàn tất chương trình giáo dục tại đại học Vidyalankara và đại học Phật học ở Colombo. Ngài sang Ấn độ trong 5 năm để làm việc thiện nguyện cho hội từ thiện Mahabodhi, giúp đỡ người Harijana ở những thành phố Sanchi, Delhi, và Bombay. Mười năm sau đó, ngài sang Mã lai, làm cố vấn tôn giáo cho hội Sasana Abhivurdhiwardhana, hội từ thiện Phật giáo, và Liên đoàn thanh niên Phật tử Mã Lai. Ngài cũng là giáo sư dạy các trường Kishon Dial, Temple Road Girls, và Trụ sở Nguyên tắc Phật học hội ở thủ đô Kuala Lumpur.