Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn về giáo huấn những giai trình giác ngộ

27/02/201217:30(Xem: 4777)
Đức Đạt Lai Lạt Ma hướng dẫn về giáo huấn những giai trình giác ngộ
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
HƯỚNG DẪN VỀ GIÁO HUẤN NHỮNG GIAI TRÌNH GIÁC NGỘ
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Dharamsala, India, March 26, 1986
Anh dịch: Alexander Berzin
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 02/02/2012

365dalailama_dailyadvicefromheart

Những Giai Trình Giác Ngộ[1]và Bốn Chân Lý Cao Quý

BERZIN: Cách tốt nhất để giảngdạy Những Giai Trình Giác Ngộ ở Đông Âu là thế nào? Đức Thánh Thiện đã đề nghị trong Nghi Lễ ĐạoSư, Cúng Dường Đạo Sư, hay Lama Chopa, phạm vi bắt đầu với bốn chân lý cao quývà giai đoạn giữa. Ngài có thể chi tiếtvề điều này không? Cũng thế, lời khuyênbảo của ngài là gì với điều gọi là sự "Sùng Tín Đạo Sư[2]"và những sự thực tập khởi đầu. Nhữngngười trong thế giới chuyên chế không thể trưng bày những hình ảnh của Đức Phậthay dâng cúng nước trên bàn thờ, vì nó rất đáng nghi ngờ.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôinghĩ không chỉ trong thế giới cộng sản mà trong những nơi khác cũng thế, tốtnhất là bắt đầu với Bốn Chân Lý Cao Quý.

Một cách căn bản, chúngta có thể thấu hiểu Bốn Chân Lý Cao Quý trong hai trình độ [trình độ của sựgiải thoát tạm thời khỏi khổ đau và trình độ giải thoát thật sự khỏi đaukhổ. Mục tiêu của sự giải thoát tạm thờiđáp ứng cho trình độ khởi đầu trong động cơ của Con Đường Tiệm TiếnLamrim. Mục tiêu cho sự giải thoát thậtsự - hoặc là giải thoát khỏi vòng luânhồi hay việc đạt đến giác ngộ hoàn toàn - đáp ứng đến nguyện vọng của trình độ bậc trung (giải thoát) và trình độbậc thượng (giác ngộ)].

Mục Tiêu Giải thoát Tạm Thời

Trên trình độ thứ nhất:

1- Từ việc tích lũynghiệp chướng từ dính mắc và sân giận, chúng ta xây dựng nên nghiệp nhân khôngphước đức. Điều này làm cho phải táisinh trong những tình trạng tệ hại đủ loại.Sự khổ đau của ba cõi khổ [những chúng sinh bị giam hãm trong thế giớikhông có niềm vui (địa ngục), quỷ đói và súc sinh] là sự thảo luận về những vấnnạn ở đây (Khổ đế).

2- Nguyên nhân của điềuấy là thái độ tàn phá, căn cứ trên sự bất giác (si mê) của của hành trạng nhânquả (nghiệp). Giải thích như nguyên nhânthật sự của khổ đau (tập đế).

3- Bước khởi đầu choviệc giải thoát chính chúng ta khỏi việc tái sinh vào những tình trạng tệ hạilà nguyện ước giải thoát khỏi sự khổ đauấy. Giải thích như loại giải thoát [nhưsự chấm dứt thật sự (diệt đế).

4- Những gì được hoànthành điều này là đạo đức tự giác của việc ngăn ngừa khỏi mười điều tàn phá(mười bất thiện nghiệp) - (đạo đế).Được giải thích như những con đường thật sự. Đây là bao hàm của bốn chân lý cao quý.

Nói cách khác, điều thứnhất cho cấu trúc của chính bốn chân lý cao quý. Rồi thì, trong cấu trúc bốn tầng ấy, trêntrình độ thứ nhất [đáp ứng đến mục tiêu của giai đoạn khởi đầu của Con ĐườngTiệm Tiến Lamrim], trong đặc trưng đầu tiên chúng ta có thể khẳng định những tái sinh tệ hại như cănbản. Vì thế, khổ đế giải thích khổ đaucủa những tình trạng tệ hại. Rồithì lấy việc đạt được hạnh phúc và anlạc thật sự của những tình trạng tái sinh khá hơn như những thí dụ của một loạigiải thoát. Điều này có thể được quảquyết như sự giải thoát, việc biến thành hiện thực cho việc giải thoát khỏi khổđau ấy, có thể chứ? Nó giống như sự giảithoát tạm thời. Rồi thì, việc hướng đếncon đường cho việc giải thoát khỏi những nguyên nhân cho sự khổ đau này [đượcgọi là những hành động tiêu cực], hai quy luật quan tâm đến nguyên nhân và hiệuquả liên hệ đến việc quan tâm khổ sở của đớn đau. [Quan tâm đến những nguyên nhân của khổ sởđớn đau trong những tình trạng tái sinh tệ hại,] từ một nguyên nhân nhỏ có thểđưa đến một kết quả lớn, và nếu tiến hành một hành động, nó sẽ không vô hiệu[hay không hậu quả gi]. Thái độ tàn phácuối cùng sẽ đưa đến việc trải nghiệm khổ đau, ngoại trừ chúng ta tự tịnh hóanghiệp nhân của nó sau đó.] Điều này đưađến phía tịnh hóa của Bốn Chân Lý Cao Quý, việc phân rẻ khỏi nổi khổ sở của đớnđau và nguyên nhân của nó, và con đường của việc đạt đến điều ấy. Trong cách này, chúng ta thấu hiểu bốn chânlý cao quý, có phải thế không? Vấn đềchính nhấn mạnh khi giáo huấn con đường tiệm tiến lamrim, trong trường hợp ấy,là bốn chân lý cao quý và nguyện ước cho việc giải thoát.

Rồi thì, trên tất cả, làquy y. Đấy là tuyệt diệu nhất, có phảikhông? Bằng khác đi, nếu chúng ta khôngnhận ra điểm trọng tâm của Giáo lý trong dạng thức của bốn chân lý cao quý, thìtrong trường hợp ấy điều gì chúng ta giải thích như là vấn đề quan trọng nhấtcủa việc tái sinh hoàn toàn rõ ràng?[Không có phạm vi của bốn chân lý cao quý,] nếu chúng ta nghĩ về việctái sinh quý báu của con người, nếu chúng ta chỉ kết luận rằng thân người làquan trọng, điều ấy không thuyết phục cho lắm.

Truyền thống Sakya, conđường và những kết quả của nó (lamdray) được cấu trúc như thế này, với bốn chânlý cao quý trong tâm. Đầu tiên, chúng tacần nghĩ về khổ đau, và duy chỉ trường hợp về việc tái sinh thân người hoàntoàn rõ ràng. Điều này, tôi nghĩ là rấttốt. Đức Phật nói cho cùng, trước nhấtdạy về bốn chân lý cao quý. Giống nhưthế, chúng ta có thể tiến hành một cách dễ dàng trong con đường mà những trìnhđộ bậc trung (giải thoát) và bậc thượng (giác ngộ) của lamrim thích hợp trongcấu trúc của bốn chân lý cao quý để đạt đến sự giải thoát thật sự.

[For further detail,see: Lam-rim Structured According to theFour Noble Truths.]

Tha Thiết cho Giải Thoát Thật Sự

BERZIN: Lưu tâm đến điểm Đức Thánh Thiện cũng nhấnmạnh đến giai đoạn bậc trung ngay từ lúc khởi đầu, có phải điều này liên hệ đếnviệc đặt nhấn mạnh trên những cảm xúc và thái độ phiền não và trên sự giảithích về tâm thức chứ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Vâng, điều này là tốt nhất. Nếu trước đấy, chúng ta không đạt được mộtniềm tin vững vàng thật sự rằng giải thoát là có thể đạt được, thế thì Pháp bảosẽ không phát sinh gì cả. [Nói cáchkhác, chúng ta cần niềm tin chắc rằng các cảm xúc và thái độ phiền não (khổ đếvà tập đế) đang lướt qua như phù du, rằng tâm thức là thanh tịnh bản nhiên (bảnchất ngừng dứt chân thật, tự tính thanh tịnh niết bàn) và vì thế có thể loạitrừ những cảm xúc và thái độ phiền não vĩnh viễn (đạt đến những sự chấm dứtthật sự (diệt đế) qua những con đường chân thật (đạo đế))

Xa hơn, [liên hệ đến bậcthượng,] sẽ hữu ích nếu giải thích một ít về từ ái, bi mẫn và tâm bồ đề. Cho dù người ta có chấp nhận có đời sống quákhứ hay không hay có sự giải thoát khỏi sự tái sinh không thể kiểm soát hay không, nhưng trong cuộc sống này thậtquan trọng để là một người đáng yêu, sống hòa hiệp với người khác.

[See: "Dharma-Lite" Versus"The Real Thing" Dharma.]

Rồi thì , thật tốt đẹpđể nghĩ về bốn vô lượng tâm - nguyện ước rằng tất cả chúng sinh được tự do khỏikhổ đau, được phú cho hạnh phúc, tự do khỏi tất cả những nguyên nhân của khổđau, và không bị cách ly khỏi hạnh phúc.Tiếp theo giái thích những thái độ bình đẳng và hoán chuyển mình vớingười khác. Nói cách khác, tự yêu mến làcánh cửa cho tất cả mọi rắc rối, yêu mến người khác là căn bản cho tất cả mọiphẩm chất tốt đẹp, và, khi chúng ta đạt được sự thực chứng của hai điều ấy, hãytự sử dụng để làm lợi ích cho xã hội.

[See: Exchanging and Equalizing One’sAttitudes about Self and Others.

Vị Trí của sự " Sùng Tín Đạo Sư" trongCon Đường Tiệm Tiến Lamrim

BERZIN: Có bất cứ cần thiết nào để đề cập đến sựtrung tín với đạo sư không? Họ không có những đạo sư.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Khi chúng ta quy y, sự quy y thực sự là nhữngtrân bảo của Đạo Phật (diệt đế và đạo đế). Để có Pháp bảo trên sự tương tục tinh thần của chúng ta, chúng ta cầnnhững phương pháp cho việc phát sinh trong tâm thức chúng ta và chúng ta cần aiđấy biểu thị qua những giải thích vàgương mẫu cá nhân những gì thật sự là Pháp bảo. Chúng ta cũng cần thiện hữu tri thức, Tăng già, được gọi là những ngườiở trong tiến trình hiện thực Pháp bảo một cách thích đáng và đã đạt được thànhcông trên một trình độ nào đó.

[See: Identifying the Objects of SafeDirection (Refuge).]

Như thế đấy rồi thì khichúng ta hỏi, ai là người biểu thị Pháp bảo ngoại trừ vị đạo sư, chúng ta thấytrong từ ngữ Tây Tạng chữ người biểu thị là tenpa cũng là một chữ dành cho vịthầy. Không có vị thầy biểu thị Phápbảo, chúng ta sẽ không thể thực tập. Giống như thế này, chúng ta đi đến đạo sư.

Không nhất thiết, vàkhông có điểm nào, cần phải nói về đạo sư và vấn đề liên hệ đến một người đượcgiải thích trong truyền thống Những Giai Trình Giác Ngộ. Chỉ nói đến trình độ đơn giản. Bởi vì người giảng dạy cho chúng ta là quantrọng, giáo huấn thảo luận về những phẩm chất vị ấy. Rồi thì, cũng tốt thôi để giải thích về nhữngphẩm chất của một vị thầy tâm linh phù hợp với những trình độ khác nhau của vịthầy, như được giải thích trong luật tạng, kinh điển Đại thừa, v.v...

BERZIN: Khi tôi ở Đông Âu lần chót, tôi thật sự đãgiải thích về đời sống quý giá của con người.Tôi thấy rằng nhiều người sống trong những quốc gia ấy cảm thấy đau buồncho họ, rằng dưới hệ thống ấy, họ không thể làm bất cứ điều gì thật sự đầy đủ ýnghĩa hay làm bất cứ điều gì cho đời sống của họ. Họ dường như cảm kích những giáo huấn về đờisống con người quý báu rất nhiều.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Rất tốt, đấy là sự tiếp cận đúng đắn.

Nguyên bản: Advicefrom His Holiness the Fourteenth Dalai Lama on Teaching Lam-rim
Ẩn Tâm Lộ ngày24-02-2012
http://www.berzinarchives.com/web/en/archives/sutra/level2_lamrim/overview/general/advice_hhdl_teaching_lamrim.html


[1] ConĐường Tiệm Tiến Lamrim hay Những Giai Tầng Giác Ngộ

[2]Guru Devotion: mối quan hệ lành mạnhđúng đắn

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/02/2018(Xem: 24170)
Tương quan là có quan hệ qua lại với nhau, tương cận là mối tương quan gần gủi nhất. Vấn đề này, mang tính tương tác mà trong Phật giáo gọi là: “cái này có thì cái kia có, cái này sinh thi cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt…”
06/01/2018(Xem: 20986)
Vài suy nghĩ về việc học chữ Phạn trong các Học Viện Phật Giáo Việt Nam_ Lê Tự Hỷ
08/12/2017(Xem: 25931)
Những pháp thoại trong tác phẩm này là những lời dạy tiêu biểu truyền cảm hứng phi thường mà Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã thuyết giảng tại nhiểu thời điểm. Các pháp thoại này là những gì truyền cảm hứng cho nhiều học trò của họ, như tôi, để buông xả những gì chúng ta đang làm và hiến dâng trọn đời mình đi theo các vị Lama[1]. Khi Rinpoche nói “mỗi người chúng ta cần nghỉ như vậy: tất cả chúng sanh đều vô cùng tử tế với tôi trong quá khứ, họ tử tế với tôi trong hiện tại, và họ sẽ tiếp tục tử tế với tôi trong tương lai. Họ là cánh đồng mà trong đó tôi nhận được tất cả hạnh phúc của mình—quá khứ, hiện tại và tương lai; tất cả các tài đức hoàn hảo của tôi đều xuất phát từ những chúng sanh khác. Do vậy, tôi phải chứng đạt giác ngộ. Chỉ tìm kiếm hạnh phúc miên viễn cho riêng tôi, không mang lại hạnh phúc cho những chúng sanh khác, từ bỏ những chúng sanh khác,không quan tâm đến hạnh phúc của họ, là rất ích kỉ. Do đó, tôi phải chứng đạt giác ngộ, hạnh phúc cao cả nhất, để
19/11/2017(Xem: 9725)
Tình, Tưởng. Cả hai đều thuộc về phạm trù của Tâm con người, không có ở trong các loài súc sinh, mặc dù súc sinh có cái biết bằng Giác (giác hồn, sinh hồn) nhưng, không tinh khôn bằng loài người, do Phật tánh bị chìm sâu bởi thú tính cao vời. Chỉ có loài người, Phật tánh được hiện hữu ở ba cấp thượng, trung, hạ, cho nên loài người là linh vật, chúa tể của muôn loài có khả năng dời núi, lấp sông do bởi cái tâm có tánh giác tinh anh Phật, Bồ Tát, Thánh, Phàm. Nói khác hơn, con người chỉ có một tâm nhưng, nó tự chia ra hai phần : Chủ tể và phụ tể. Nói theo Duy Thức Học; là Tâm vương, Tâm sở. Vai trò của Tâm vương là chủ động tạo tác ra vô số lời nói, hành động thiện, ác. Vai trò Tâm sở là duy trì, bảo vệ những thành quả (sở hữu) mà cũng chính nó tức tâm vương đã sáng tạo ra. Nghĩa là cái Tâm con người, nó vừa tạo tác ra các nghiệp, lại vừa đóng vai
19/11/2017(Xem: 7754)
Con người trong mọi giới ngoài xã hội hiện nay tại các nước có Phật Giáo như Việt Nam, đến chùa xin Quy Y Tam Bảo được thấy rõ, là một tryền thống do con người tự chọn cho mình con đường giải thoát giống như ngày xưa lúc Phật còn tại thế, do tự nhận thức : Đạo Phật là con đường giải thoát, chứ Đức Phật từ ngàn xưa và chư Tăng rại các nước trên thế giới có Phật Giáo hiện hữu hôm nay, không khuyên mọi người phải và nên Quy Y Tam Bảo. Bởi vì đạo Phật, là đạo tự giác, tức là để cho con người tự do tìm hiểu giáo lý Phật. Sau đó thấy được đạo Phật là con đường giải thoát sinh tử khổ đau thực sự mà phương tiện là giáo lý, qua quá trình tự tu, tự giác ngộ, thì mới phát nguyện xin quy y Tam Bảo. Qua đây cho ta thấy đạo Phật không phải là đạo cứu rỗi, bang phước giáng họa cho bất cứ ai.
19/11/2017(Xem: 28544)
Trong kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện, Đức Phật nói lời khẳng định với Bồ Tát Xá Lợi Phất : “Này Xá Lợi Phất, chư Phật chỉ vì một việc trọng đại lớn duy nhất mà thị hiện ra nơi đời (cõi người), đó là “khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến Phật”.
19/11/2017(Xem: 8035)
Trên mặt trái đất đã và đang có núi cao, đồi thấp, suối cạn, ghềnh thác, đất, cát, đá cuội, ao, hồ, sông dài, biển rộng, bầu trời, mây bay, gió thổi, nắng, mưa, bão tố, không khí nóng, mát, lạnh lẻo, các loại cỏ, hoa, cây cối…Đó là chúng sanh không có tình. Muôn loài Súc Vật lớn, nhỏ trên khô, dưới nước, và các chủng loại Con Người. Đó là chúng sanh có tình. Tất cả, đều do vô số Duyên giả hợp lại mà có bản thể, chứ mỗi loài không thể tự có thân (không tự thể), như đã được nói rõ ở bài “Khai Thị Chúng Sanh, Ngộ Nhập Tri kiến Phật”.
29/09/2017(Xem: 7673)
Tu tập tự thân chính là công phu quan trọng nhất trong toàn bộ cái gọi là Phật giáo. Từ việc ổn định một nội tâm phóng tán, giải trừ những ngộ nhận, cho đến khả năng trấn an những nổi đau và tìm thấy một suối nguồn an lạc ,…Tất thảy đều chỉ có thể thành tựu từ sự tu tập và con đường tu tập đó không gì hơn được pháp môn Tuệ Quán, tức con đường quán niệm Tứ Niệm Xứ. Và nếu nói nôm na hơn nữa thì dầu có gọi bằng từ ngữ gì, có lẽ cũng không ngắn gọn bằng hai chữ Tu Tâm.Tâm (citta) hay Ý (mano) hoặc Thức (vinnàna) đều là những chữ đồng nghĩa ,tùy chổ mà dùng, để chỉ cho cái gọi là Danh Pháp, sự nhận thức đối tượng (biết cảnh). Phân tích đơn giản nhất thì có tất cả 6 Thức và chúng phải nương vào Lục Vật(vatthu) mới có thể làm việc : Nhãn Thức phải nương vào Nhãn Vật (thần kinh thị giác), Nhĩ Thức phải nương vào Nhĩ Vật (thần kinh thính giác), Tỷ Thức phải nương vào Tỷ Vật (thần kinhkhứu giác), Thiệt Thức phải nương vào Thiệt Vật (thần kinh vị giác), Thân Thức phải nương vào Thân Vật (th
29/08/2017(Xem: 6642)
Trong tháng 4/2017, người viết được đón tiếp một số pháp hữu -- hai vị từ núi Long Hải tới thăm là Thầy Thiện Minh và Sư cô Diệu Hải nguyên học cùng bổn sư là Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu; bạn văn là nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, anh chị Châu-Chi… Trong mấy ngày ở Quận Cam, Thầy Thiện Minh ngồi vẽ tấm thư pháp Bồ Đề Đạt Ma để tặng người học Phật đã đi xa từ mấy thập niên trước.
29/08/2017(Xem: 7712)
Lục Độ Vạn Hạnh - hình ảnh do Ngộ Chân Giác trình bày