CHIẾC BÈ - A Lan Nhã

11/08/201106:54(Xem: 10306)
CHIẾC BÈ - A Lan Nhã

CHIẾC BÈ
A Lan Nhã

Một người đang đi trên con đường xa dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi. Vùng nước dài rộng, nhưng không có thuyền để vượt qua, và cũng không có cầu bắc từ bờ này qua bờ bên kia.

Anh ta suy nghĩ: “Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn”.

Nghĩ rồi, rồi anh ta bèn thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, anh ta suy nghĩ: “Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn”.

Và, tri ân chiếc bè như thế, không ngần ngại, anh ta đội chiếc bè trên đầu và tiếp tục cuộc hành trình của mình, mặc người đời xì xào, bàn tán!

(Kinh Trung bộ, tập I, kinh Ví dụ con rắn - Alagaddùpama sutta. HT.Thích Minh Châu Việt dịch)

Bàn thêm:

Tri ân là điều đáng quý, nhưng tri ân theo kiểu anh chàng trong câu chuyện kể trên thì thật ngốc. Bởi, sở dụng của chiếc bè là đưa người qua sông, qua vùng nước để đến bờ bên kia - đáo bỉ ngạn.

Bờ bên này là chỉ cho thân kiến, sự chấp chặt vào bản ngã, tham đắm các dục - các dục vui ít, khổ nhiều, đầy chướng ngại, hiểm nguy và kinh hãi. Bờ bên kia là Niết bàn, tịch tịnh an vui, đoạn trừ tham ái chấp thủ. Chiếc bè là pháp tu, là Bát chánh đạo.

Người tu tập rõ biết vô minh, tham ái, chấp thủ chính là đầu mối của khổ, là nguyên nhân của sinh tử luân hồi. Cần phải chân chính nhận rõ cái “tôi”, cái “của tôi” và “tự ngã của tôi”, diệt trừ tham ái, chấp thủ. Các pháp tu chính là phương tiện giúp chúng ta có được cái nhìn chân chính ấy. Nhưng khi chúng ta đạt được mục đích cũng chính là lúc chúng ta từ bỏ phương tiện, vì còn nắm giữ (dù là pháp hay phi pháp), cũng đều là trạng thái chấp thủ, bất an và kinh hãi như Đức Phật đã dạy.

Trong nhà thiền phân biệt hai cách tu: một làdùng pháp, và hai làpháp dùng.

Dùng pháp tức là nương vào các phương pháp tu tập (phương tiện) để tu trì, như tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật, ăn chay, giữ giới v.v… để đoạn trừ tham ái, chấp thủ, vô minh, thấu rõ được các pháp vốn là giả hợp, tự tại trước vô thường, trút sạch được cái “tôi”, đạt đến cứu cánh niết bàn. Cái tôi và cái của tôi được trút sạch, không còn bám giữ, tức “xả pháp”, thì cũng đâu còn bám vào phương tiện.

Cònpháp dùng, tức cũng giống kẻ ngu đội chiếc bè trên đầu kia, bị phương tiện trói buộc, không thể đạt đến cứu cánh. Bởi tự thân các phương pháp tu tập không phải là mục đích, nó là “ngón tay chỉ trăng” chứ không phải “mặt trăng”. Người tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền… mà còn nghĩ mình làm thế để được làm Phật là người bị pháp dùng chứ không phải dùng pháp. Người dùng pháp phải hiểu rõ rằng đó chỉ là những phương tiện để chúng ta thấy rõ được bản tâm của mình. Một khi còn bị cái “tôi” sai sử trói buộc, tức chúng ta còn đầy dẫy những sự mê lầm, không thể có được cái nhìn chân chính.

Chúng tôi xin mở ngoặc để đưa ra một ví dụ dễ hiểu. Như ở đời, người ta dùng tiền làm phương tiện trao đổi. Nỗ lực "chánh mạng" làm ra tiền để phục vụ cho đời sống là dùng tiền. Còn khi vì bất chấp thủ đoạn, lường gạt, chèn ép để đạt được tiền bằng mọi cách, hay vì tiền mà làm bất kỳ điều gì là bị tiền dùng, bị sai sử bởi đồng tiền. Người như thế thật đáng thương!

Chúng ta vẫn thuờng nghe:Được cá thì quên nơm, được ý thì quên lời, nên phải nương nơi lời mà đạt ý. Đạt ý mà vẫn còn chấp lời thì chưa thể gọi là liễu ngộ. Đức Phật vì muốn diễn bày thật nghĩa nên phải dùng vô số phương tiện; chúng ta phải nương theo phương tiện để ngộ lẽ chân thật chứ không phải khư khư ôm lấy phương tiện và mắc kẹt vào đó. Những người chỉ biết đem phương tiện (pháp) ra để hý luận, tranh cãi mà không biết nương vào đó để tu tập thì không những không đạt được chút ích lợi nào, mà ngược lại còn bị vướng vào muộn phiền, khổ não.

Do đó, Phật dạy: Pháp còn phải bỏ huống hồ phi pháp!


Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ Số Vu Lan 185 / Tuyển Tập Vu Lan TVHS

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2026(Xem: 161)
Thập chủng pháp hành (十種法行) mười phương diện thực hành khi tiếp cận kinh điển, được Đại sư Hoằng Nhất (弘一大師, 1880-1942)[1] trình bày trong bài giảng “Những vấn đề thanh niên Phật giáo cần chú ý”, nhằm định hướng việc tiếp cận, học tập và hành trì kinh điển Phật giáo một cách toàn diện. Đây không chỉ là những quy tắc, mà là một hệ thống “Văn - Tư – Tu” toàn diện, giúp hành giả chạm tay vào tinh túy của Pháp bảo thông qua sự chí thành, tạo thành một lộ trình hoàn chỉnh: nghe – học – hiểu – hành – truyền bá. Qua đó, việc học kinh không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải dẫn đến sự chuyển hóa nội tâm và hành trì trong đời sống hàng ngày.
10/04/2026(Xem: 233)
Tôi vô cùng vinh dự và hoan hỷ được có mặt tại đây hôm nay, cùng tất cả quý vị tham dự buổi lễ kỷ niệm đầy ý nghĩa mừng Khánh tuế Đại thọ 90 tuổi của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, do Văn phòng Thông tin Tây Tạng và Đại Bảo Tháp Đại Bi Bendigo tổ chức. Về phương diện cá nhân, tôi có phước duyên được gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma sáu lần, hai lần tại Úc và bốn lần tại Dharamsala, Ấn Độ, trong những chuyến hành hương mà tôi hướng dẫn Phật tử Việt Nam đến chiêm bái Phật tích Tứ Động Tâm. Qua những lần gặp gỡ ấy, tôi đã được cảm nhận sâu sắc hình ảnh sống động của lòng từ bi nơi Ngài, và đặc biệt trân quý cơ hội quý báu khi Ngài từ bi chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi để được diện kiến, một trải nghiệm đã mang lại cho tôi sự hiểu biết sâu xa rằng từ bi không chỉ là một giáo lý, mà chính là một phương cách sống. Hôm nay, tôi xin chia sẻ những suy nghĩ của mình về vấn đề: “Từ chuyển hóa nội tâm đến hòa hợp toàn cầu: Con đường từ bi của Phật giáo,” một chủ đề trực tiếp nói lên những nhu cầu
03/03/2026(Xem: 1552)
Tết Nguyên Tiêu năm này em vẫn đón? Vẫn còn rộn rã như bài thơ “Xuân về “ của Chế Lan Viên (1) Hay tĩnh lặng bên chén trà, một nén hương thiền Có biết đâu Tết Nguyên Tiêu chỉ đơn giản là một cột mốc nhắc nhở.!
03/03/2026(Xem: 712)
Sống trên đời ai cũng khổ. Người giàu cũng khổ. Người nghèo cũng khổ. Người đẹp, người xấu cũng đều khổ. Có những cái khổ tự nhiên xảy ra trên thân mình như: đói quá, bao tử cồn cào, đau bụng, nhức đầu, nhức răng, nóng sốt... là những cái đau trên cơ thể, khiến mình vô cùng khó chịu. Những cái khổ này không ai muốn, nhưng dẫu sao nó cũng cần thiết, vì nó báo động cho chúng ta biết mức độ nguy hiểm tác động lên cơ thể của mình để sớm trị liệu. Nếu không có những cái khổ tự nhiên này, thì con người chỉ là một tảng đá vô tri.
03/03/2026(Xem: 680)
Vô thường là một trong ba pháp ấn quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Đó là Vô thường-Khổ-Vô ngã. Thuật ngữ gọi là Tam Pháp Ấn. Vậy Tam Pháp Ấn là gì? Tại sao gọi là Tam Pháp Ấn? Tam: Là ba. Pháp: Là phương pháp, nguyên lý hay nguyên tắc. Pháp ở đây ám chỉ toàn bộ tư tưởng trong các giáo lý của Đức Phật, được ghi chép trong ba tạng Kinh điển. Nói chung là “lời dạy của Đức Phật Thích Ca”. Ấn: Tượng trưng cho một dấu hiệu (đóng mộc) hay khuôn mẫu .
31/10/2025(Xem: 5857)
LỜI GIÃI BÀY Nếu là một liên hữu Việt Nam, có lẽ không ai không biết đến đại sư Ấn Quang qua dịch phẩm Thiền Tịnh Quyết Nghi của hòa thượng Trí Tịnh và Lá Thư Tịnh độ của cố hòa thượng Thiền Tâm. Khi đọc Lá Thư Tịnh Độ, chúng tôi vẫn luôn kỳ vọng sau này có thiện duyên sẽ được đọc toàn bộ Ấn Quang Văn Sao. Khi được quen biết với đạo hữu Vạn Từ, anh nhiều lần khuyên chúng tôi khi nào có dịp hãy cố dịch toàn bộ tác phẩm này sang tiếng Việt, bởi lẽ văn từ của tổ càng đọc càng thấm, càng thấy có lợi ích.
14/10/2025(Xem: 1330)
Các nhà nghiên cứu khi viết báo cáo khoa học, họ trình bày, phân tích và đưa ra kết quả hoàn toàn khách quan. Trong báo cáo khoa học luôn vắng mặt ‘tự ngã’ (không có đại từ I hoặc We) mà tự bản thân của sự phân tích dựa trên những số liệu, con số, sự phát hiện vv cùng với sự tham chiếu những bài báo cáo khoa học uy tín để đi đến kết luận là một quy trình khoa học chặc chẽ, khách quan hoàn toàn.
20/05/2025(Xem: 8248)
Hôm nay con vào nghe Thầy giảng về từ thiện Con vào chậm nửa tiếng anh Huệ Sơn hỏi Thầy Về từ thiện xã hội ban đầu phát tâm lành Nhưng sau sanh bất thiện xin Thầy giảng cho nghệ
17/05/2025(Xem: 3717)
Là một thuật ngữ âm Hán – Việt, có lẽ khó hiểu với một số Phật tử cũng như những người trẻ. Sở tri chướng nói một cách dễ hiểu là chướng ngại từ chính cái biết của mình. Tại sao cái biết, cái tri kiến của mình lại là chướng ngại? lẽ ra phải là điều phát triển đáng quý chứ, nghe thì tưởng chừng vô lý nhưng thật ra thì rất chính xác, nhất là trong giới học Phật.
19/10/2024(Xem: 7622)
Thân-Khẩu-Ý (身-口-意; P: Kāya-Vacī-Mano; S: Kāya-Vak-Mana; E: Body-Speech-Thought) là 3 thứ tách biệt nơi con người, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, Ý là yếu tố có sự tác động đến cả Thân và Khẩu. Nếu một hành động của Thân hay lời nói của Khẩu mà không có Ý tác động vào thì khó mà có kết quả.