Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ý nghĩa cúng dường thập phương Tăng

19/07/201101:54(Xem: 3656)
Ý nghĩa cúng dường thập phương Tăng

Cung_Duong_Trai_Tang (4)


Ý NGHĨA CÚNG DƯỜNG THẬP PHƯƠNG TĂNG

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

Mỗi năm Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, đều có tổ chức An cư Kết hạ. Chư tôn đức trong Giáo hội thường quan tâm việc tu tập, giữ gin giới luật cho nhau, nên thường tìm những nơi có thể dung chứa ít nhất 150 vị Tăng Ni trở lên. Đa phần là tổ chức tại miền Nam California, phần lớn là do Phật Học Viện Quốc Tế bảo trợ tất cả. Tính đến nay là đã 9 mùa An cư :
1.-Mùa An cư Ất dậu – 2005, Đạo tràng chùa Phật Đà, có 55 vị,
2.-Mùa An cư Bính tuất – 2006, Đạo tràng chùa Phật Tổ, có đến 150 vị,
3.-Mùa An cư Đinh hợi – 2007, Đạo tràng Phật Học Viện Quốc Tế, có đến 155 vị,
4.-Mùa An cư Mậu tý – 2008, Đạo tràng chùa Phật Đà, có đến 200 vị,
5.-Mùa An cư Kỷ sửu – 2009, Đạo tràng Phật Học Viện Quốc Tế, có 68 vị Tỷ kheo, 64 vị Tỷ kheo ni, 4 vị Sa di, 6 vị Thức xoa và 12 vị Sa di ni. Tổng cọng là 158 vị.
6.-Mùa An cư Canh dần – 2010, Đạo tràng Phật Học Viện Quốc Tế, có 175 vị tham dự,
7.-Mùa An cư Tân mão – 2011, Đạo tràng Phật Học Viện Quốc Tế, có gần 205 vị ghi danh, nhưng tham dự chính là 185 vị.
8.-Mùa An cư Nhâm thìn – 1012, Đạo tràng chùa Bát Nhã, có đến 210 vị tham dự chính thức.
9.-Mùa An cư Quý tỵ - 2013, Đạo tràng Phật Học Viện Quốc Tế, khi ghi danh là 215 vị, nhưng thực sự tham dự chính thức chỉ có 175 vị.
Đó là những thành tựu khá đặc biệt của Đạo tràng An cư mà Giáo hội đứng ra đảm trách.
Mỗi mùa An cư đều có lễ Bố tát, tụng giới, lễ Chúc tán và những buổi học cho cả hai chúng xuất gia và tại gia. Đặc biệt năm nay 2013, các bậc Trưởng thượng chỉ chứng minh, đa phần là Tăng Ni trẻ phụ trách về những đề tài trình bày cho Đại chúng đồng thảo luận.
Riêng những mục chuyên đề như hướng dẫn giới luật, ngày thọ An cư và ngày Tự tứ thì có chư Tôn đức niên cao, lạp trưởng trình bày. Phần lớn là chuyên môn về Luật nên trường hạ cung thỉnh Hòa thượng Thích Thái Siêu hướng dẫn. Vì, Đạo tràng An cư phần nhiều là Tăng Ni trẻ mới hội nhập vào xứ cờ Hoa, nên cần phải được hướng dẫn tường tận.
Nhơn đây, chúng tôi cũng trích một phần lời dạy từ trong kinh Vu Lan Bồn, do Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang chú giải. Ngài hướng dẫn rằng :
Thập Phương Tăng, Thập Phương Chúng Tăng hay Thập Phương Đại Đức Chúng Tăng, ba từ ngữ này chỉ là một.
Bởi vì Tăng hay Tăng già, là dịch âm từ Phạn ngữ Sangha. Dịch ra là Chúng. Muốn được gọi là Chúng thì phải từ Bốn vị trở lên, có cuộc sống hòa hợp với nhau theo nguyên tắc của phép lục hòa; như vậy mới được gọi là Chúng hay Tăng. Tăng Chúng hay Chúng Tăng là được ghép từ Hoa-Phạn. Cho nên danh từ Thập Phương Tăng là chư Tăng ở khắp mọi nơi. Khi tất cả những vị này đều tập hợp lại một chỗ, trong một thời gian nào đó(như những lúc Chư tăng câu hội an cư ở một đạo tràng),thời gian dài ngắn, lâu mau hay vĩnh viễn, v.v… với số lượng từ bốn vị hay nhiều đến bao nhiêu, được gọi là Thập Phương Tăng, nghĩa là có khả năng đại diện Thập Phương Chúng Tăng.
Vì vậy việc cúng dường Thập Phương Tăng trong ngày Tự tứ cần sự đồng nhất, không có ý niệm riêng biệt, người thọ cũng không có niệm riêng biệt và sự quân phân cũng giống nhau. Đó là phổ đồng cúng dường.
Riêng về phần cúng dường Thập Phương Tăng trong những ngày mà không phải là Tự tứ thì y theo giới thứ 27“Không được thọ thỉnh riêng biệt”và giới 28“Không được thỉnh Tăng riêng biệt”của giới Bồ tát mà thi hành. Ở đây nhấn mạnh về Thỉnh và thọ thỉnh hay cúng và thọ cúng, không được riêng biệt mà phải tuần tự. Tuần tự Thập Phương Tăng đang trú xứ ở một nơi.
Ví dụ tại Trường hạ Phật Học Viện Quốc Tế năm 2013, hôm nay có tất cả là 175 vị, kể từ Trưởng lão Hòa thượng Thiền chủ đến vị Sa di ni.
Sau khi nhập hạ, đến ngày thứ ba tuần hạ sau đó, có một vị thí chú xin cung thỉnh Mười lăm vị đến cúng dường qua một buổi lễ đặc biệt. Vị Thiền chủ cho Đại chúng rõ và cử đi từ vị thứ nhất, đến vị thứ 15. Thí chủ cũng tùy duyên như thế. Đến một ngày kế nào đó, có thí chủ khác đến xin thỉnh 30 vị, thì Đại chúng cũng cử đi từ vị thứ 16 cho đến vị thứ 43(tức là 30 vị).Cứ tuần tự như thế, thì các vị lúc đi ít, lúc đi nhiều đều được đại diện Thập Phương Tăng. Còn biệt thỉnh thì không được gọi là đại diện Thập Phương Tăng. Tín chủ cứ thỉnh hết lớp này đến lớp khác. Nếu giáp vòng thì bắt đầu lại. Người thỉnh hay cúng theo thứ tự, là thỉnh hay cúng theo sự đề cử và chỉ định của Đại Chúng Tăng. Như vậy, người thỉnh hay cúng dù ít hay nhiều, có thể là Một hay mấy vị đi nữa, thì Một hay nhiều vị được cử đi đều đại diện cho Thập Phương Tăng mà thọ thỉnh hay thọ cúng. Mặc dầu những vị thọ thỉnh hay thọ cúng, nhìn vào tuy thấy ít, nhưng ý nghĩa rất sâu rộng là vị được thọ thỉnh hay thọ cúng cả Thập phương Tăng. Phước đức là cúng cả Thập phương Tăng vậy.
Ngược lại, thỉnh hay cúng và thọ thỉnh hay thọ cúng riêng biệt, dù là số lượng đông bao nhiêu chăng nữa, cái tính cách đại diện Thập Phương Chúng Tăng như đã nói ở trên cũng mất đi, và đó là :“Nề nếp của ngoại đạo, bảy đức Phật không có quy chế ấy”(Đó là cái quy chế có tính cách xả bỏ thiên vị mà bình đẳng quân phân và rộng lớn)nên gọi là phạm giới.
Tuy nhiên, sự thỉnh hay cúng và thọ thỉnh hay thọ cúng trong sự cúng dường cầu nguyện, ngoài trường hợp trên đây thì không kể, hoặc có nhiều tình tiết khác, ngoại lệ.
Liên quan đến việc thính cúng hay thọ thỉnh và thọ cúng không được riêng biệt này, quý vị nên vào kinh Tăng Nhất A Hàm, thì rõ hơn khi đức Phật dạy cho Tôn giả La Vân ở trong Đại tập, 2, 791 và 792.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/02/201608:20(Xem: 1835)
Bài viết này sẽ trình bày rằng Thiền Tông là pháp môn nguyên thủy và cốt tủy do Đức Phật dạy. Nói nguyên thủy, vì Thiền Tông chính từ lời Đức Phật dạy. Nói cốt tủy, vì nhiều cách an tâm trong Thiền Tông là từ các kinh, khi chư tăng cao niên xin dạy pháp ngắn gọn để sẽ lui về một góc rừng ngồi trọn đời cho tới khi giải thoát. Bài viết này sẽ sắp xếp các lý luận sao cho thực dụng, có lợi cho tất cả những người quan tâm và muốn bước vào Thiền Tông. Tính thực dụng trong cách an tâm sẽ trình bày cụ thể, trong mức có thể được. Bản thân người viết tự xét sở học bất toàn, nên sẽ tránh ý riêng tối đa, để chủ yếu dựa vào các kinh Pali phổ biến, có sẵn với các bản Anh văn trên mạng.
24/12/201509:59(Xem: 2257)
Mỗi người khi sinh ra cũng chỉ với hai bàn tay trắng, rồi tùy theo phước báo và nghiệp lực gieo tạo, mà được trưởng thành trong ấm êm, đầy đủ, vinh danh, hay kiêu mạn, mặc sức thụ hưởng, hoang phí, làm việc thất đức để phải chịu cảnh bần cùng, đọa đày, khổ cực. “Tất cà chúng sanh đều có Phật tánh” kia mà ? Ai ràng buộc chúng ta mà phải cần giải thoát ? tất cả cũng đều do ta gieo tạo, rồi tự thọ nhận lấy quả báo mà thôi! Đời là khổ và con người vì “chấp ngã” tự ràng buộc mình
23/12/201508:42(Xem: 3331)
Phước báu hay phước đức là quan niệm đặc thù của Đông Phương. Đối với Tây Phương thì chỉ có gia tài, sự nghiệp, di sản để lại cho con cháu chứ không có chuyện phước báu hay phước đức. Quan niệm “phước báu hay phước đức” đã trở thành gần như đời sống tâm linh, gắn chặt với lối suy nghĩ và cuộc sống của con người Việt Nam và Trung Hoa. Người Việt Nam ta ai cũng mong cầu phước đức, lo vun trồng phước đức và rất sợ vô phúc.
19/12/201520:05(Xem: 2136)
Tâm giác ngộ là lẽ thật thiết yếu, phổ quát. Tư tưởng thuần khiết nhất này là nguyện ước và ý chí đưa tất cả chúng sanh đến sự thực chứng năng lực Giác Ngộ vô thượng. Bồ tát thấy tính bản nhiên như pha lê này hiện hữu trong tất cả chúng ta, và bằng việc nhận ra sự tuyệt đẹp của năng lực con người chúng ta, đã luôn luôn có sự tôn trọng.
29/11/201505:56(Xem: 1993)
Các thanh niên dòng Da Xá trông thấy tướng hảo giải thoát của các vị Thánh này, nên đã phát tâm xuất gia. Cha mẹ và vợ con của các thanh niên Da Xá tìm đến Lộc Uyển thấy hào quang của Đức Phật và đại chúng trang nghiêm cũng phát tâm quy y Tam bảo. Từ đó, Phật giáo có mặt ở Ấn Độ và trải qua suốt thời gian dài hơn 2500 năm, Phật giáo đã được truyền bá từ nước này sang nước khác, có lúc thạnh, lúc suy. Tìm hiểu nguyên nhân nào làm Phật pháp hưng thạnh, hay suy đồi, để chúng ta giữ gìn và phát triển được đạo pháp.
28/11/201510:29(Xem: 2592)
“Nếu có Tỳ-kheo nào không tàm không quý thì làm tổn hại ái và kỉnh. Nếu không có ái và kỉnh thì làm tổn hại tín. Nếu không có tín thì làm tổn hại chánh tư duy. Nếu không có chánh tư duy thì làm tổn hại chánh niệm chánh trí. Nếu không có chánh niệm chánh trí thì làm tổn hại gìn giữ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, tĩnh chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu không giải thoát thì làm tổn hại Niết-bàn. “Nếu Tỳ-kheo nào biết hổ thẹn thì có ái và kỉnh. Nếu có ái và kỉnh thì thường có tín. Nếu có tín thì thường có chánh tư duy. Nếu có chánh tư duy thì thường có chánh niệm chánh trí. Nếu có chánh niệm chánh trí thì thường giữ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, tĩnh chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu giải thoát thì liền được Niết-bàn.
28/09/201508:05(Xem: 3548)
Tất cả chúng ta hiện giờ có mặt ở đây không phải chỉ một lần, mà là vô số lần rồi. Con người bỏ thân này chưa phải là hết, mà còn lang thang không biết đến bao giờ. Vì vậy nhà Phật thường dùng từ “lang thang trong kiếp luân hồi”, cứ đi mãi không biết dừng nơi đâu? Đức Phật thấy được những nẻo đường của chúng sanh đến và đi nên Ngài mới nói “Thuyết luân hồi”.
26/09/201507:43(Xem: 2501)
Thật vậy, ngay sau khi thành đạo, Đức PHẬT đã tuyên bố “LỜI GIẢI CHO BÀI TOÁN KHỔ” của thế gian một cách rất ngắn gọn, giản dị, và rõ ràng; Chỉ như sự chửa bệnh của một ông Bác sĩ: "Nầy các tỳ kheo, bởi vì không thông hiểu, không thấu đạt Bốn Sự Thật Cao Quý mà ta cũng như quý vị từ lâu đã phải trãi qua nhiều kiếp luân hồi trong vòng sinh tử... Bằng cách thông hiểu, bằng cách thấu đạt 4 SỰ THẬT: 1) SỰ THẬT về KHỔ, 2) SỰ THẬT về NGUYÊN NHÂN của KHỔ 3) SỰ THẬT về NIẾT BÀN (lúc khổ tận diệt) 4) SỰ THẬT về CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN NIẾT BÀN lòng tham thủ về sinh hữu được đoạn tận, sự hỗ trợ để sinh hữu được phá hủy, và từ đó không còn khổ đau vì sinh tử nữa."
08/09/201518:20(Xem: 2578)
Công cuộc giáo hoá độ sanh của Đức Phật thành tựu viên mãn chính nhờ Ngài tu tập Tứ vô lượng tâm đạt đến vô lượng. Tứ vô lượng tâm là Bốn tâm vô lượng bao gồm: Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỷ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm. “Từ” nguyên văn là: “Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc”
01/09/201503:38(Xem: 1626)
Theo thông lệ vào mùa an cư, tôi có ít lời sách tấn chư Tăng Ni và nhắc nhở Phật tử nỗ lực tu học. Người xuất gia mang trọng trách dìu dắt Phật tử cho nên đường hướng phải nắm cho thật vững. Hiểu lờ mờ, thực hành không đến nơi đến chốn, hướng dẫn người khác lệch đường, công đức không có, lại trở thành tội. Phật tử cũng cần biết định hướng tu hành cho đúng đắn để đạt lợi lạc cho bản thân, gia đình và xã hội.