Ước Nguyện Cuối Đời - Phần 1

10/12/202509:12(Xem: 3006)
Ước Nguyện Cuối Đời - Phần 1

ƯỚC NGUYỆN CUỐI ĐỜI (Phần 1)
buddha-5504

(1):TU MÓT nhiều hơn thời khóa chính trong ngày.

Thường giờ rảnh, nghỉ việc,... xưa rày bỏ trôi.

Người biết TU, lúc ấy, niệm Phật liên hồi.

Nhớ phải ký số đúng, tâm thời tịnh an.

*

(2):Năng nhặt chặt bị, Phước tạo nên vô vàn.

Cố đừng bỏ phí tấc thời gian khó tìm.

Ai ơi, nhớ cố TU MÓT cho thật chuyên.

Lúc quá vãng, Phật rước về liền Tây Phương.

********************************

(3):Những ước nguyện con viết dưới đây.

Cầu mong làm được kể từ nay.

Ấy phần TU tập người con Phật.

Miên mật hành trì, Phật đón ngay.

(A): Phần Niệm Phật Và Lạy Phật:

(4):Mở Máy Niệm Phật Trong Nhà Lợi Làm Sao!

Làm Gì Ở Đâu Cũng Nghe Câu Mi Đà.

Cố Gắng Nhẩm Số Đúng Nữa Sẽ Giúp Ta.

Tiêu Trừ Bớt Nghiệp Chướng Quả Là Chẳng Sai.

***

Niệm Phật cốt sao thật hết lòng,

Cảm Thông tới Phật, thỏa cầu mong.

Mi Đà cứ niệm mà tâm loạn,

Rát cổ, hết hơi ,...thật uổng công.

***

Thơ lục bát:

(5):Con cầu nguyện kể từ nay,

Lạy và niệm Phật mỗi ngày một trăm.

Được rồi, tội diệt, phước tăng.

Thân tâm an lạc lần lần tốt hơn.

*

(6):Nhớ và niệm Phật luôn luôn.

Nhờ đeo máy, cứ nghe thường bên tai.

Mười câu Ký Số nhớ hoài:

Niệm thầm tính số suốt ngày chẳng quên.

*

(7):Cốt trừ vọng niệm khởi lên.

Con mong được vậy, não phiền còn đâu.

Cố tâm nguyện thiết, tin sâu.

Và mong trì niệm thế nào nối nhau,

*

(8):Bồ Đề tâm nhớ hàng đầu.

Cầu thành Phật đạo, ngõ hầu độ sanh.

Từ nay, siêng làm điều lành.

Người, ta cùng lợi, thực hành liền ngay. .

*

(9):Lâm chung, biết trước giờ, ngày,

Điều con chí thiết giãi bày cầu thưa.

Tới giờ, mong Phật đón đưa,

Về miền Cực Lạc thỏa vừa nguyện con.

*********************************

Thơ 7 chữ, 4 câu:

(10):Tuổi tám ba gần tới nữa rồi.

Lòng lâng lâng nhẹ, có gì vui!?

Vui đây có phải vì thêm tuổi?!

Hay sắp sửa đi đến cõi Trời!?

*

(11):Nguyện cầu sống đến Chín Mươi thôi.

Miên mật TU THÂN tốt cuộc đời.

Thấy đàn con cháu siêng TU Phật.

Ước nguyện thiết tha chẳng lúc rời.

***

(12):Cuộc sống ở Trời cũng sướng sao!

Nhưng so Cực Lạc, chẳng bằng đâu.

Cõi về, tùy thuộc giờ gần mất.

Niệm Phật mười câu, thỏa nguyện cầu.

***

(13):Một câu niệm Phật chẳng rời tâm.

Cố tránh thật xa những lỗi lầm.

Luôn nhớ làm lành tăng Phước báo.

Mong ngày Phật đón, khấn lâm râm.

************************************

Thơ 8 và 9 chữ:

(14):Suốt ngày cố nghe niệm Phật và ký số.

Một thời gian vọng tưởng không chỗ chen vào.

Cầu nguyện làm sao nghiệp ác được tiêu mau.

Cõi tâm vui vẻ vì phiền rầu bớt đi.

***

(15):Chỉ cần máy niệm Phật cắm dây nghe.

Đi đâu Phật hiệu cũng kề bên tai.

Khi ăn, lúc nghỉ,... mở máy nghe hoài.

Lại nhẩm số đúng, ngày ngày Phước tăng.

*

(16):Phiền não, vọng tưởng ít hiện trong lòng.

Nghiệp chướng tiêu bớt, cố công thực hành.

Phải nhớ Tin Sâu, Nguyện Thiết rất cần.

Cố Tu tốt, đường đến gần Tây Phương.

***

(B): Tu Thêm Hạnh Phụ:

(17):Chỉ Lạy và Niệm Phật chưa đủ đâu.

Tu thêm Hạnh phụ ngõ hầu trợ duyên.

Đó là những Hạnh tốt cần TU liền.

Để xứng hợp người cảnh Tiên Non Bồng.

***

(18):Hãy nhớ: Thập thiện là pháp môn căn bản.

Là thềm thang dùng cho hàng vạn pháp môn.

Nên dù tu, mong cầu thấp hoặc cao hơn.

Đều khởi từ Thập thiện, ta cần nhớ ghi.

***

(a): Hiếu thảo

(19):Đạo đức con người lấy chữ HIẾU làm đầu.

Không làm tròn điều ấy còn đâu là người.

Vì chim muông còn biết trả nghĩa dưỡng nuôi.

Những ai không làm được thua loài thú kia!?

***

(20):Hiếu thảo cao nhất trong các hạnh lành,

Làm con nhớ phải thực hành thường xuyên.

Phật dạy: Mẹ Cha Phật sống chớ quên.

Đứa con HIẾU, phước tạo nên dồi dào!

***

(21):Nên nhớ lễ tang phụ mẫu mình: (thơ 7 chữ, 4 câu)

Nhận tiền phúng điếu, khổ hương linh.

Đã mang nặng nghiệp, chồng thêm nghiệp.

Con Hiếu giữ nghiêm, chớ mặc tình.

***

(22):Song thân quá vãng nhớ điều này. (thơ 7 chữ, 4 câu)

Kỵ giỗ phải nên cúng cỗ chay.

Thần thức rất vui con hiểu đạo .

Cõi lành sẽ đến, thật mừng thay!

(b): Biết Ơn Và Đền Ơn

Thơ 9 chữ

(23):“Người coi Biết Ơn, Đền Ơn đứng hàng đầu.

Dù xa ngàn dặm, xem như hầu bên TA.

Vô Ơn bên cạnh, như ở tít mù xa.”

Lời Phật dạy, cố học để mà TU THÂN

***

(24):Một người thường hay biểu lộ lòng Biết Ơn.

Thích hướng thượng, không muốn thua hơn với người.

Tốt, nhưng chẳng bao giờ khoe khoang với đời.

Ấy người KHIÊM TỐN luôn được người nể nang.

***

Sau nhiều năm TU TẬP Phật Pháp, chúng tôi rút ra kinh nghiệm là Tu pháp môn Lạy Phật, Niệm Phật vừa lợi cho Thân và Tâm. Hãy cố gắng lạy một ngày 100 lạy, sức khỏe trở nên rất tốt. Còn về Tâm, nếu lạy Phật đúng theo cách Ngũ Thể Đầu Địa, tính Ngã Mạn sẽ bớt đi thấy rõ.

(25):Lạy Phật cách “ngũ thể đầu địa” tốt thay!

Toàn thân sát đất cốt tỏ bày KHIÊM CUNG.

Cũng nói lên sự KÍNH NGƯỠNG PHẬT vô cùng.

Nhiếp phục Kiêu Mạn, PHƯỚC tạo sinh vô vàn.

Cầu mong có nhiều bạn đạo hữu duyên hãy cùng chúng tôi thực tập bài viết trên. Nếu có

đem lại chút lợi lạc nào trong tu tập cho quý vị, chúng tôi xin đem công đức này hồi hướng tất cả Pháp giới chúng sanh tương lai đều sinh về Tịnh độ. Xin chân thành cảm ơn quý vị đã đọc bài viết và thực hành./.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 20373)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17638)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15108)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16905)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12858)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11725)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12339)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8291)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9215)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 8524)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.