Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào?

07/11/202508:09(Xem: 1784)
Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào?

NIỀM TIN VÀO GIÁO LÝ TỊNH ĐỘ PHÁT SINH NHƯ THẾ NÀO?

Nguyên tác: How Does Faith in the Pure Land Teachings Arise?
Tác giả: Alan Kwan
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Niềm Tin Vào Giáo Lý Tịnh Độ Phát Sinh Như Thế Nào



Niềm tin vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà

Đại Trí Độ Luận nói: “Giáo pháp của Đức Phật bao la như đại dương, nên chỉ có thể tiếp cận thông qua niềm tin.” Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành Phật pháp.

Kinh Hoa Nghiêm tuyên bố: “Niềm tin là nguồn gốc và căn nguyên của mọi công đức và thiện hạnh, như một bào thai từ đó mọc lên mọi căn lành khác nhau.”

Trong Phật giáo Tịnh Độ, niềm tin đặc biệt quan trọng, vì nó là yếu tố đầu tiên trong Ba Tài Lực (Sambhara-tư lương): niềm tin, nguyện vọng và hành trì (tín-nguyện-hành). Ba yếu tố này thường được biết đến như là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Rõ ràng, niềm tin chính là bước đầu tiên để bước vào cửa ngôi Cực Lạc.

Niềm tin vào giáo pháp Phật—tin vào Đạo lý Nhân Quả, tái sinh trong Lục đạo, tiêu diệt Tam độc thông qua việc tu tập Ba học (giới,định,tuệ), Bồ-đề tâm và Sáu Ba-la-mật, cùng những yếu tố khác—không thể mang lợi ích cho người tu nếu niềm tin đó chỉ dừng lại ở mức tín ngưỡng lý trí mà không đi đôi với hành trì chuyên cần.
Chẳng hạn, ngay cả khi một người tin vào khái niệm tái sinh, họ cũng không thể thoát khỏi luân hồi nếu không siêng năng thực hành giáo pháp Phật để xóa bỏ hai chướng ngại: chướng ngại kiến giải và chướng ngại phiền não, cũng như tiêu trừ Tam độc: tham, sân và si.

Tuy nhiên, trong đoạn về việc thực hiện lời nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, có viết:
“Khi nghe danh hiệu Ngài, người ta vui mừng mà tin theo [danh hiệu ấy].”

Tại sao một người lại vui mừng khi nghe danh hiệu A Di Đà? Bởi vì người ấy hưởng lợi ích từ việc niệm danh hiệu A Di Đà và từ niềm tin vào danh hiệu Ngài nảy sinh ngay khi nghe nó. Danh hiệu linh thiêng này mang hình thức ánh sáng bao bọc, và giúp người ấy chắc chắn tái sinh về Cực Lạc.

Điều này có nghĩa là niềm tin của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ phát sinh từ danh hiệu A Di Đà, không phải từ những cảm xúc mơ hồ cá nhân, tâm thức mê lầm, hay nghiệp chướng ô nhiễm của chính mình.

Ý nghĩa của chấp trì hay “nắm giữ danh hiệu” trong Kinh A Di Đà

A Di Đà vô hình và vượt ngoài khả năng nhận thức của con người. Mắt chúng ta không thấy Ngài, tai chúng ta không nghe Ngài, tay chúng ta không chạm được Ngài — nhưng chúng ta có thể tin vào Ngài, tiếp nhận danh hiệu Ngài và chấp nhận sự cứu độ của Ngài trong tâm.

Vì vậy, ý nghĩa thật sự của “chắc giữ danh hiệu khi nghe về Phật A Di Đà”, như được ghi trong Kinh A Di Đà, là tin tưởng và tiếp nhận sự cứu độ của A Di Đà.

Phật A Di Đà đã lập nguyện trong địa thứ nhân duyên (các giai đoạn Bồ-tát trước khi thành Phật) để cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương.

Lòng từ bi chủ động, bình đẳng và không phân biệt của Ngài chạm đến sâu thẳm trái tim chúng ta. Nhờ vào việc thực hiện các Nguyện của Ngài, những nghi ngờ của chúng ta biến thành niềm tin vào sự cứu độ thông qua danh hiệu, và chúng ta tiếp nhận lòng từ bi của A Di Đà.

Đây chính là ý nghĩa của việc “chấp
trì danh hiệu”.

Phật giáo Tịnh Độ là một giáo pháp tha lực cứu độ, chứ không phải là giáo pháp tự lực tu tập.

Trong bài viết trước, tôi đã viết:
*“Việc tái sinh chỉ đạt được nhờ chỉ thực hành niệm danh hiệu A Di Đà từ phía chúng ta, vì điều đó *hoàn toàn dựa vào hoạt động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha — từ phía A Di Đà!”

Tôi cũng viết:
“Theo Nguyện Cơ Bản của A Di Đà, tất cả những người nguyện sinh đều chỉ cần niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất, và toàn bộ vấn đề tái sinh sẽ được Phật A Di Đà lo liệu. Sự cứu độ của A Di Đà, dựa trên Nguyện Cơ Bản của Ngài, là bình đẳng, vô điều kiện và chủ động.”

Những điểm này là cốt yếu để hiểu lý lẽ của Phật giáo Tịnh Độ.

Niềm tin cá nhân của chúng ta vào giáo lý Tịnh Độ không phải là nguyên nhân dẫn đến tái sinh

Nhiều người tu Tịnh Độ có thể còn nghi ngờ về giáo pháp này và cho rằng Ba Tài Lực — niềm tin, nguyện vọng và hành trì — đều là những điều kiện cần thiết để tái sinh về Cực Lạc. Vì vậy, không thích hợp khi nói rằng sự cứu độ thông qua Nguyện Cơ Bản của A Di Đà là “vô điều kiện”.

Họ cũng có thể lập luận rằng một người phải chủ động tin tưởng (niềm tin) và khát nguyện được tái sinh (nguyện vọng) thì mới có thể tái sinh, nên sự cứu độ của A Di Đà không hoàn toàn chủ động 100%. Hơn nữa, họ cho rằng ngoài việc niệm danh hiệu A Di Đà, niềm tin của người tu cần sâu sắc và nguyện vọng cần tha thiết để có thể chắc chắn tái sinh. Vì vậy, mối quan hệ này có phần tương hỗ chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào A Di Đà.

Một số người thậm chí còn cho rằng chỉ một niệm tin tưởng là nguyên nhân chính dẫn đến tái sinh, và danh hiệu A Di Đà chỉ là điều kiện bổ trợ. Điều này có vẻ hợp lý đối với nhiều người tu Phật, nhưng sự thật sâu xa và thâm diệu hơn bất cứ lập luận nào trong số này.

Một lần nữa, điểm này cần được nhấn mạnh: trong Phật giáo Tịnh Độ nguyên thủy, việc tái sinh chỉ đạt được nhờ danh hiệu A Di Đà. Như chúng ta đã tìm hiểu trong bài viết trước, niệm danh hiệu A Di Đà là một hành động độc lập của danh hiệu A Di Đà — Namo Amitabha!

Nếu chúng ta luôn niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất khi đi, đứng, ngồi và nằm, không bỏ danh hiệu ấy, chúng ta đã được bao bọc trong Nguyện thứ 18, bất kể thời gian hành trì là bao lâu.

Niệm danh hiệu A Di Đà là nghiệp (hành động) quyết định để chắc chắn tái sinh, như Thiện Đạo đại sư đã ghi nhận, nên tái sinh là kết quả của công đức và thiện hạnh của danh hiệu A Di Đà.

Đối với người niệm danh hiệu, bất kể người ấy hiểu hay không, tin hay không, khát nguyện hay không, kết quả chức năng của tái sinh vốn đã nằm sẵn trong danh hiệu A Di Đà. Mặc dù người ấy không biết và không thấy, vẫn hưởng được kết quả tương tự như người biết và thấy.

Đây chính là kết quả chức năng của việc niệm danh hiệu; đây cũng là tự tánh của danh hiệu.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, độ sâu của niềm tin vào sự cứu độ của A Di Đà được đo bằng sự chuyên nhất trong việc niệm danh hiệu A Di Đà.

Việc tái sinh của tất cả những người nguyện sinh sẽ được đảm bảo miễn là họ niệm danh hiệu A Di Đà một cách chuyên nhất cho đến cuối đời. Họ sẽ không bị quấy nhiễu hay gián đoạn bởi bất cứ điều gì trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vì họ luôn được A Di Đà bao bọc và bảo vệ.

Thiện Đạo đại sư viết trong Ca ngợi nghi lễ tái sinh:
“Đức A Di Đà cao quý đã lập một nguyện vô cùng trang nghiêm. Ngài giảng dạy và cứu độ chúng sinh khắp Mười Phương qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng của Ngài. Điều này giúp họ có niềm tin, nguyện vọng và hành trì trong việc niệm danh hiệu A Di Đà. Ai niệm đến cuối đời, hay chỉ mười lần, hoặc chỉ một lần, cũng có thể dễ dàng tái sinh nhờ sức mạnh của Nguyện Cơ Bản của Ngài.”

Trong tuyên bố trên, điều thú vị là danh hiệu A Di Đà giúp chúng sinh có niềm tin vào sự cứu độ của Ngài và khát nguyện tái sinh về Cực Lạc.

Điều này ngụ ý rằng chính Phật A Di Đà, chứ không phải người tu Tịnh Độ, giữ vai trò chủ động và khởi xướng, thông qua Danh hiệu Ngài dưới hình thức ánh sáng, để cung cấp tất cả Ba Tài Lực cần thiết cho việc tái sinh.

Điều này một lần nữa khẳng định rằng niềm tin của chúng ta vào sự cứu độ của A Di Đà phát sinh từ danh hiệu Ngài, chứ không phải từ tâm mê lầm của chính chúng ta.

https://www.buddhistdoor.net/features/how-does-faith-in-the-pure-land-teachings-arise/


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/12/2025(Xem: 2056)
Long Thần, Hộ Pháp ở quanh ta. Lành, Dữ ta làm khó giấu qua. (sưu tầm) Bất chợt làm điều gì thật nhỏ. Biết là việc ác, gấp lìa xa.
23/12/2025(Xem: 2424)
Đối với Đức Phật, việc BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN là vô cùng quan trọng nên trong Kinh Tăng Nhất A Hàm có ghi lời Phật dạy như sau: “Này các thầy Tỳ Kheo! Nếu người nào BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù ở cách xa Ta ngàn dặm nhưng Ta vẫn xem người đó như đứng hầu gần bên Ta. Còn nếu như người nào KHÔNG BIẾT ƠN và ĐỀN ƠN, cho dù người đó có đứng hầu gần bên Ta nhưng Ta vẫn xem họ cách xa ngàn dặm”.
23/12/2025(Xem: 2090)
Phương pháp trồng Phước Điền thường có rất nhiều. Người Trí Tuệ, đâu cũng đều nơi Tu Hành. Thời giờ rảnh rỗi, một phút gấp tu nhanh. “Năng nhặt chặt bị” về lâu thành nhiều thôi.
19/12/2025(Xem: 2386)
Kính gửi Đạo hữu Tịnh Thanh và quý thiện hữu. Xin tường trình 7 giếng nước Tình thương do quý Thiện hữu phát tâm bố thí cho dân nghèo xứ Phật vừa được hoàn tất hôm nay. (Dec 2025) Xin tri ân Công Đức thật nhiều!! Kính chúc quý Đạo hữu cùng gia đình vô lượng an lành, tùy tâm mãn nguyện!.
18/12/2025(Xem: 2654)
Thêm một lần nữa, hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề của chúng con, chúng tôi đã may mắn được Ni Sư Thích nữ Huệ Lạc, Thầy Quảng Kim và quý Sư cô đã nhận lời cứu trợ giúp. Thật là cảm kích trước tinh thần phụng sự của chư Tăng Ni, quả đúng là: Cơn Lũ Qua Đi Vẫn Còn Tình Thương Ở Lại!
18/12/2025(Xem: 2463)
Lời người viết: Xin mời quý vị đọc loạt Tùy Bút có chủ đề: “Chuyện Đời, Ý Đạo”, có nghĩa đem những điều đạo Phật dạy áp dụng vào cuộc sống, ta sẽ thấy đời bớt khổ, thêm vui. Mong rằng ý của người viết sẽ được nhiều người đồng ý và thường xuyên thực hành để đời mình có nhiều an lạc, hạnh phúc. Xin thưa thêm: chúng tôi viết Tùy Bút có khi lấy bút hiệu là Châu Minh Anh. Châu là tên đứa con lớn nhất, còn Minh và Anh là chữ lót của những đứa con sau. Thành thật cảm ơn.
17/12/2025(Xem: 2252)
Trong khóa tu Phật thất Quán Âm lần này, để có sự tương ứng giữa học tập và hành trì nên trong suốt 7 ngày, mỗi ngày đều sẽ có 4 giờ nghe giảng kinh và 4 giờ xưng niệm thánh hiệu Bồ Tát [Quán Thế Âm]. Trong lúc nghe giảng kinh, mỗi người đều có bản sách Pháp Hoa Kinh Đại Thành của Pháp sư Đại Nghĩa đời nhà Thanh đặt trước mặt. Sau khi hoàn tất Pháp hội này, bản kinh đó sẽ được tặng cho quý vị mang về để kết duyên.
17/12/2025(Xem: 2233)
Cố ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống. Tu Tâm tốt, vọng tưởng khó xen vào. Vậy là PHIỀN NÃO sẽ tránh xa mau. Cuộc sống HẠNH PHÚC đến sau liền liền.
17/12/2025(Xem: 2083)
“Bị Oan Ức không cần Biện Bạch” làm chi. Thì “Nghiệp Chướng dễ tiêu trừ” đi, nhớ đời. Ai Thực Tập được, Tâm Tư rất Thảnh Thơi. Còn để SÂN nổi dậy, không ngơi Khổ Sầu.
11/12/2025(Xem: 2075)
Phần này bàn về các cách dùng đầu rau, các cơm/thổi cơm, ghế cơm, nhà vưng/bếp, lò, vua bếp/táo quân, câm lốc từ TK 17. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn so với các dạng chữ Nôm cùng thời.