Pháp Hoa Văn Cú (PDF) - update

31/10/202519:40(Xem: 3486)
Pháp Hoa Văn Cú (PDF) - update
PHÁP HOA VĂN CÚ
THÍCH NHƯ ĐIỂN
NGUYỄN MINH TIẾN
Việt dịch và chú giải
Viên giác Tùng Thư - Đức Quốc
United Buddhist Publisher

Nhà xuất bản Liên Phật Hội - California, Hoa Kỳ
Xuất bản lần thứ nhất: Tháng 8/2025
Phap Hoa Van Cu-bia

Lời tựa
bản Sớ giải kinh Pháp hoa
của Đại sư Trí Khải, núi Thiên Thai
Kính Trung Sa-môn Thần Quýnh thuật



Trước hết thưa rằng: chân lý tột cùng không có danh xưng, có danh xưng thì lưu truyền khắp bốn phương trời; Phật thừa không lay động, động thì hiện trong ba cõi. Chứng đắc giáo pháp thì muôn sự ngưng lặng tịch nhiên, nhưng phương tiện nên dùng bốn pháp tất đàn[1] tùy cơ duyên hóa độ. Không toan tính mưu cầu mà dẫn dắt chúng sinh, công đức ấy thật vĩ đại thay!

Đức Thế Tôn Đại Hùng ra đời, vì một đại sự nhân duyên mà thuyết giảng kinh Diệu pháp liên hoa. Thế nhưng, các loài cây thuốc chẳng giống nhau, đối với người bệnh thì sự thích nghi không đồng nhất, sự nhận hiểu giáo pháp cũng khác biệt. Cho nên, thi hành pháp phương tiện mà Chuyển pháp luân nơi Lộc uyển, nói pháp Tứ đế; hiển bày lẽ thật nơi đỉnh Linh Thứu, ba lần biến hóa Tịnh độ.[2] [Giáo pháp của Thế Tôn] ý chỉ thâm sâu, ngôn từ trọn đủ. Bậc đáng tôn kính thuyết đạo cao vời, làm sáng tỏ thọ lượng [Như Lai] từ bản môn xưa vô lượng kiếp, [giúp] thấu hiểu nghĩa thật của hình tích gần đây nơi Bồ-đề Đạo tràng.[3] Mưa pháp tuôn nhuần, khuyến thiện phá ác, diễn bày khắp chốn, bỏ đi những điều phương tiện quyền thuyết trước đây, như người bắt cá bỏ nơm, thợ săn vất lưới; khai mở chỉ bày giúp chúng sinh nhận hiểu, thể nhập tri kiến Phật, được lợi ích hiện đời, như người đã bắt được cá, thợ săn đã bắt được thỏ. Bồ Tát số nhiều như vi trần, đạo quả ngày càng tăng trưởng, sinh tử biến dịch ngày càng giảm dần.[4] Hàng Thanh văn nơi am tranh [nghe pháp rồi] hổ thẹn với pháp Tiểu thừa, mừng vui tiếp nhận Đại thừa. [Trong Pháp hội,] Bồ Tát Dược Vương thiêu cánh tay cúng dường, đức Như Lai Đa Bảo hiện toàn thân chứng minh [lời Phật], trọn vẹn cùng cực, nhỏ nhiệm tinh vi, chẳng thể dùng lời mà nói hết được.

Có bậc Đại sư ở núi Thiên Thai, pháp hiệu Trí Khải, thuở xưa từng đối trước Như Lai tự thân được nghe kinh điển này. Đại sư chứng đắc quả vị hàng Ngũ phẩm,[5] danh tiếng vang dội qua hai triều vua.[6] Ngài không cần trải qua các giảng đường mà đã thấu hiểu Phật thừa. Được sức tổng trì,[7] vui thích giảng thuyết giáo pháp không cùng tận. Ngài thường ở điện Thái Cực của vua Trần, trước mặt vua giảng giải kinh Nhân vương Bát-nhã,[8] bậc thiên tử quỳ gối,[9] trăm quan cùng tán thán. Lại như pháp quán tâm thích [của Đại sư][10] thật khéo lìa hai mặt có không, lấy chân tánh làm khuôn phép, dựa theo sự chiếu soi tự thân mà thấu triệt. [Đại sư] giảng giải danh xưng, trình bày tông chỉ đều khác người xưa, nêu lên năm tầng nghĩa[11] để khảo xét nghĩa lý [kinh điển], đều là phát huy Thánh giáo.

Từ khi Đại sư Trí Giả[12] ra hoằng pháp đến hơn 30 năm, chỉ [trước tác] duy nhất sớ giải kinh Duy-ma.[13] Cho đến đời nhà Tùy, vâng sắc chỉ của Tùy Dạng Đế mới soạn ra bản văn huyền diệu này. Chỉ riêng phần ghi chép của Pháp sư Quán Đảnh đã hợp thành 20 quyển. Không có trí tuệ thì không thể phán xét, đó là lời chân thật.

Sau khi Đại sư viên tịch hơn trăm năm,[14] đến năm Mậu Tý (748), niên hiệu Thiên Bảo [thứ 7] đời nhà Đường, có Hòa Thượng Huyền Lãng[15] ở chùa Thanh Thái thuộc quận Đông Dương, là hàng trưởng lão trong đạo pháp,[16] trí tuệ và công hạnh song toàn;[17] công phu tu tập và nghiêm trì giới luật nỗ lực tinh cần như nhau;[18] uyên thâm cả nội điển và ngoại điển. Ngài đạt được năng lực thuyết pháp như ngài Phú-lâu-na,[19] thấu đạt nghĩa Không như ngài Tu-bồ-đề.[20] Mỗi lần giảng đến bản văn này, ngài thường lặng lẽ than rằng: “Nếu quán xét nơi nghĩa lý thì thật là sâu xa, khế hợp Phật thừa, nhưng tìm hiểu vào cấu trúc văn chương thì thường không theo thứ lớp thích hợp. Hoặc văn tương tục mà nghĩa dứt đoạn; hoặc văn theo sau mà nghĩa đã nêu trước; hoặc dùng văn trường hàng để mở đầu chương; hoặc theo sau mới nêu ý nghĩa; hoặc trong kệ trước đã kể đủ số, nhưng phần theo sau lại không thấy nêu tên. Nhưng thánh ý [của Đại sư] thật khó suy lường, nên chỉ dám cung kính tin nhận mà thôi.

Nay nhân vì những người đến nghe giảng pháp nhiều lần thưa thỉnh khuyến khích: ‘Bậc thượng căn dễ đạt ngộ, cứu xét vào nghĩa lý sâu xa mà không mê lầm, nhưng đối với hàng trung căn, hạ căn, nếu phải tìm theo câu văn liền sai lệch ý chỉ. Ví như có sự so sánh, thay đổi sắp xếp lại thì điều đó hẳn sẽ rộng làm lợi ích cho rất nhiều người.’ Hòa thượng nhiều lần suy đi tính lại những lời trên, xét thấy thật là việc chẳng đặng đừng, mới một lòng cầu nguyện với Đại sư xem việc này có thể làm được không. Nhân vì trong mộng được sự chiêu cảm [đồng thuận] nên mới bắt đầu sắp xếp chỉnh sửa lại [bản văn này]. Nhưng hết thảy đều tùy theo từng chỗ mà sắp xếp thích hợp, thành tâm lượng xét, chẳng phải cẩu thả vì muốn có sự giống hay khác nhau mà tùy tiện theo ý mình thêm bớt trong văn bản.

Mong sao các bậc học giả đời sau thấu hiểu cho ý nguyện ban đầu, truy chỗ cốt yếu, tìm phần thiết thực, chọn lấy vàng ròng mà vất bỏ đá sỏi; thuyết pháp chân thật, chẳng dối lừa người. Vì giúp thêm chánh pháp nhiệm mầu lan tỏa rộng, nơi ngọn Đan Khâu[21] trọn thành việc thêm bớt sửa sang,[22] ắt là trăm pháp giới ngàn như thị, hết thảy cùng tự nhiên khế hợp;[23] dù hóa thành hay bảo sở[24] đều đến được bến bờ giải thoát. Cậy nhờ có Bồ Tát Di-lặc quan tâm [thưa hỏi], Pháp vương tử Văn-thù hồi đáp.[25] [Nay] dùng nghĩa sáu bộ Túc luận[26] làm rõ thêm cho luận Phát trí,[27] nêu một lời xưng tán đúng thật như kinh Xuân Thu.”[28]

Bọn chúng tôi là [Sa-môn] Thần Quýnh và các đồng sự, cùng thu thập, chọn lọc văn xưa, an nhiên thanh thản trong lẽ thật, không một người nào là không cùng phát tâm [Bồ-đề] trước đức Phật Không Vương thuở xưa, như mười sáu vị sa-di đều thay Phật giảng nói [kinh Pháp hoa].[29] [Gặp được kinh này] khác nào như đóa hoa trong bóng tối gặp được ánh mặt trời, dứt trừ nạn khổ, vun bồi châu báu.

Nay thật lòng hổ thẹn không có được văn tài như Nhạn Môn,[30] sao có thể trộm nhìn vào chỗ sâu xa uyên áo như mày rồng? [Nhưng làm việc này] chỉ vì mong muốn [giúp cho] người tham cứu nghĩa lý diệu huyền có thể thấm nhuần trong dòng đạo pháp, được căn bản vững chắc.


__________________________________________


CHÚ THÍCH


[1] Bốn pháp tất đàn, tức tứ tất đàn (四悉檀), chỉ bốn phương thức giáo hóa, gồm thế giới tất đàn, vị nhân tất đàn, đối trị tất đàn và đệ nhất nghĩa tất đàn. Các phần về sau trong sách sẽ giảng giả kỹ các phương pháp này.

[2] Trong phẩm Hiện tháp báu của kinh này, khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni triệu tập các phân thân, vì muốn đủ chỗ dung chứa nên đã ba lần biến hóa cõi Ta-bà này thành ra thanh tịnh và rộng lớn.

[3] Nguyên tác dùng chữ Già-da (伽耶), Phạn ngữ Gayā, tức Bồ-đề Đạo tràng, nơi đức Phật thành đạo. Đoạn này nói lên một phần ý chính của kinh Pháp hoa là “khai cận hiển viễn”, “khai tích hiển bản”, như sẽ giải thích ở phần sau.

[4] Nguyên tác dùng “tăng đạo tổn sinh” (增道損生) là cách nói theo giáo lý tông Thiên Thai, cho rằng đây là lợi ích của việc tu tập theo kinh Pháp hoa. Theo giáo lý này, hàng Bồ Tát tu tập lần lượt trải qua các giai vị từ Sơ trụ lên đến Diệu giác, đạo lực ngày càng tăng tiến (tăng đạo), vô minh đoạn trừ dần nên sinh tử biến dịch ngày càng giảm bớt đi (tổn sinh).

[5] Tức Ngũ phẩm đệ tử vị (五品弟子位), là giai vị Ngoại phàm trước Thập tín, là hành vị thứ nhất trong 8 hành vị của Viên giáo, tương đương với Quán hành tức trong Lục tức vị. Giai vị này gồm 5 phẩm chuyên tâm tu hành thực tiễn nên gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị. Năm phẩm là Tùy hỉ phẩm, Tụng đọc phẩm, Thuyết pháp phẩm, Kiêm hành lục độ phẩm và Chính hành lục độ phẩm.

[6] Tức triều đại nhà Trần và nhà Tùy. Vua nhà Trần là Thủy Hưng Vương (始興王) quy y với Đại sư. Sau khi nhà Tùy diệt nhà Trần thì Tùy Văn Đế và con là Tấn vương Dương Quảng (sau là Tùy Dạng Đế) cũng đều quy y với Đại sư.

[7] Nguyên tác là đà-la-ni (陀羅尼), dịch nghĩa là tổng trì, có khả năng nắm giữ.

[8] Tức Nhân vương Hộ quốc Bát-nhã Kinh (仁王護國般若經), do ngài Cưu-ma-la-thập Hán dịch, gồm 2 quyển. (ĐCT, T8, 245). Đại sư Trí Khải có soạn sớ giải kinh này, gồm 5 quyển. (ĐCT, T33, 1705).

[9] Nguyên tác dùng “vạn thặng” (萬乘 - muôn cỗ xe), chỉ bậc thiên tử, vì chư hầu xuất binh chỉ dùng ngàn cỗ xe, bậc thiên tử mới dùng đến muôn cỗ xe.

[10] Quán tâm thích: là một trong bốn phương thức giải thích được Đại sư Trí Khải vận dụng xuyên suốt trong việc nhận hiểu kinh văn. Thứ nhất là nhân duyên thích, nhận hiểu theo nhân duyên; thứ hai là ước giáo, tức dựa vào giáo nghĩa; thứ ba là bản tích, tức phân biệt theo ý nghĩa bản môn ban sơ và tích môn là hình tích hiển lộ hiện tại; thứ tư là quán tâm, tức dựa vào quán xét tâm để nhận hiểu.

[11] Ngũ nghĩa hay ngũ trùng nghĩa là phương thức tìm hiểu kinh văn do ngài Trí Khải đề xướng và vận dụng, bao gồm các bước tuần tự như sau: 1. Thích danh (giải thích tên gọi), 2. Biện thể (phân biệt bản thể, tính chất), 3. Minh tông (làm sáng tỏ tông chỉ, khuynh hướng), 4. Luận dụng (phân tích, bàn luận về công năng, ứng dụng), 5. Phán giáo (xác định, sắp xếp vào loại giáo pháp nào).

[12] Trí Giả là tôn hiệu của Đại sư Trí Khải. Năm 591, Tấn vương Dương Quảng xin thọ Bồ Tát Giới với Đại sư, nhân đó vua Tùy dâng đức hiệu cho ngài là Trí Giả.

[13] Tức Duy-ma kinh lược sớ (維摩經略疏), gồm 10 quyển. (ĐCT, T38, 1778).

[14] Từ điển Phật Quang ghi rằng Đại sư Trí Khải sinh năm 538 và viên tịch vào năm 597. Ở đây nói hơn trăm năm nhưng thực tế là đến khoảng 150 năm.

[15] Nguyên tác chỉ ghi là Lãng Hòa Thượng (朗和尚), chính là Hòa thượng Thích Huyền Lãng (釋玄朗 - 673-754) ở chùa Thanh Thái, quận Đông Dương, tên tự là Tuệ Minh. Ngài là một vị cao tăng uyên bác đời Đường, viên tịch vào niên hiệu Thiên Bảo thứ 13 (754), thọ 82 tuổi, 61 tuổi Hạ. Tự truyện của ngài được ghi đầy đủ trong Tống Cao Tăng Truyện, quyển 26. (ĐCT, T50, 2061, tr.875b, d.26.)

[16] Nguyên tác dùng “pháp môn chi mi thọ” (法門之眉壽) để chỉ bậc trưởng thượng, cao tuổi trong đạo pháp.

[17] Nguyên tác dùng “lương trì chi mục túc” (涼池之目足) để chỉ cho bậc có đầy đủ trí tuệ (như mắt sáng) và công hạnh, sự hành trì (như đôi chân đi). Đây có lẽ là lấy ý từ Trí Độ luận, quyển 83: “Thí như nhiệt thời thanh lương trì, hữu mục hữu túc giai khả nhập.” (譬如热时清凉池,有目有足皆可入 。- Ví như lúc trời nắng nóng có hồ nước trong mát, những ai có mắt sáng, có chân đi đều có thể vào hồ.)

[18] Nguyên tác dùng “thừa giới câu cấp” (乘戒俱急), chỉ công phu tu tập tùy theo các thừa, gồm Tiểu thừa, Trung thừa (hay Duyên giác thừa), Đại thừa, và việc nghiêm trì giới luật đều xem trọng như nhau. Vì cầu Phật đạo mà nỗ lực tinh tấn tu tập theo các thừa gọi là thừa cấp (乘急), người xem trọng giới luật gọi là giới cấp (戒急). Trong chúng sinh được phân biệt bốn hạng người: Một là xem trọng cả giới luật và công phu tu tập (thừa giới câu cấp), hai là xem trọng công phu tu tập hơn giới luật (thừa cấp giới hoãn), ba là xem trọng giới luật hơn công phu tu tập (thừa hoãn giới cấp), bốn là hạng phàm phu, xem thường cả công phu tu tập và giới luật (thừa giới câu hoãn). Trong quyển 2 sẽ nói rõ hơn về việc này.

[19] Nguyên tác dùng “Mãn Từ chi bảo khí” (滿慈之寶器), Mãn Từ hay Mãn Từ tử tức là ngài Phú-lâu-na, một trong 10 đại đệ tử, được Phật khen ngợi là “Thuyết pháp đệ nhất”. Do đó, “bảo khí” ở đây chính là khả năng thuyết pháp như Phú-lâu-na.

[20] Nguyên tác là “tọa Không Sinh chi thạch thất” (坐空生之石室). Không Sanh” tức là ngài Tu-bồ-đề, một trong 10 đại đệ tử, được Phật khen ngợi là “Giải không đệ nhất”. Do vậy, câu này hàm ý là thấu đạt nghĩa Không giống như ngài Tu-bồ-đề.

[21] Đan Khâu (丹丘), trong Pháp hoa Kinh Văn Cú Phụ Chánh Ký (法華經文句輔正記) (Vạn Tục Tạng, T28, 593, tr.634b, d.13), ngài Đạo Xiêm (đời Đường) cho biết: “Đan Khâu giả, Xích Thành sơn dã.” (丹丘者赤城山也 - Đan Khâu là tên khác của núi Xích Thành) và nói rõ: “Cứ thời thiêm tước xứ thật Quốc Thanh tự, Đan Khâu danh giai cố dĩ tiêu địa, kim Quốc Thanh tự thuộc Đan Khâu lý. (據時添削處實國清丹丘名佳故以標地今國清寺屬丹丘里 - Nơi thật sự diễn ra việc chỉnh sửa văn bản là chùa Quốc Thanh, vì Đan Khâu là tên đẹp nên dùng để nêu nơi chốn, hiện nay chùa Quốc Thanh thuộc làng Đan Khâu.) Thiên Thai sơn ký (天台山記) (ĐCT, T51, 2096, tr.1054b, d.9-10) của Từ Linh Phủ đời Đường nói: “Tự Thiên Thai quán đông hành nhất thập ngũ lý, hữu Xích Thành sơn, sơn cao tam bách trượng.” (自天台觀東行一十五里,有赤城山,山高三百丈 - từ chùa Thiên Thai đi về phía đông 15 dặm có núi Xích Thành cao 300 trượng).

[22] Nguyên tác dùng thiêm tước (添削). Thiêm là thêm vào, tước là cắt gọt bớt đi. Pháp hoa văn cú ký (法華文句記) quyển 1, phần thượng (ĐCT, T34, 1719, tr.151b, d.13-15) giảng giải: “Thiêm vị thiêm phá cổ sư cập dẫn kinh luận, vị xích phi dĩ hiển thị. Tước vị tước kì phồn trường cập thành văn thể, sử văn ước nhi nghĩa phong.” (添謂添破古師及引經論。謂斥非以 顯是。削謂削其繁長及成文體, 使文約而義豐。- Thiêm là ý nói thêm vào phá bỏ [chỗ không đúng] của những bậc thầy trước, cùng dẫn chứng kinh luận để phá bỏ chỗ sai, hiển bày chỗ đúng. Tước là nói cắt gọt những chỗ phức tạp, dài dòng, cùng thành tựu văn thể, làm cho văn được ngắn gọn mà ý nghĩa phong phú.)

[23] Nguyên tác dùng “bách giới thiên như” (百界千如), theo giáo lý Thiên Thai tông, là thuật ngữ để chỉ cho hết thảy muôn pháp trong thực tại. Theo Thiên Thai tông, do sự sai biệt về nghiệp lực mà chúng sinh phải thọ sinh trong những cảnh giới khác nhau. Tất cả có 10 pháp giới từ thấp lên cao là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la, cõi người, cõi trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát và Phật. Mười pháp giới này, trong mỗi một pháp giới lại có sự phân chia thành mười pháp giới bên trong đó, cộng thành 100 pháp giới nên gọi là “bách giới”. Trong mỗi pháp giới lại có đủ mười loại sự lý khác biệt (thập như thị), cộng thành ngàn như thị.

[24] Nguyên tác dùng các biểu tượng “hóa thành” và “bảo sở” là lấy ý từ phẩm Thí dụ Hóa thành, đức Phật ví các quả vị quyền thừa như hóa thành, không có thật, chỉ quả vị nhất thừa hay Phật thừa mới là đích đến chân thật, nơi có châu báu (bảo sở).

[25] Ở đây nói một phần nguyên nhân phát khởi kinh này, khi đức Phật hiện điềm lành phóng quang thì ngài Di-lặc thưa hỏi, đức Văn-thù giải đáp.

[26] Tức Lục túc luận (Aḍpadaśāstra), sáu bộ luận căn bản, bao gồm: 1. Dị môn Túc luận (20 quyển); 2. Pháp uẩn Túc luận (12 quyển); 3. Thi thiết Túc luận (chưa có người Hán dịch); 4. Thức thân Túc luận (16 quyển); 5. Phẩm loại Túc luận (18 quyển); 6. Giới thân Túc luận (3 quyển). Trừ ra bộ thứ ba chưa có người Hán dịch, 5 bộ còn lại đều được ngài Huyền Trang dịch sang Hán ngữ.

[27] Luận Phát trí, tức Phát trí luận (Abhidharma-jñāna-prasthāna), gồm 20 quyển, hiện còn trong Đại Chánh Tạng (ĐCT, T26, 1544). Luận này thường được nhắc đến cùng với Lục túc luận như 7 bộ luận căn bản nhất. Lục túc luận bàn giải chi ly, văn nghĩa nhỏ nhặt nên gọi là Túc luận (ví như chân đi), còn Phát trí luận văn nghĩa đầy đủ, bao quát, nên gọi là Thân luận (ví như cả thân hình). Cả 7 bộ luận này, một bộ chưa dịch, còn 6 bộ đều do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, nên vào thời Đại sư Trí Giả thì chưa có. Hàm ý của ngài Thần Quýnh ở đây có lẽ là cho biết Hòa thượng Huyền Lãng đã có sử dụng các bộ luận này khi hiệu chỉnh.

[28] Nguyên tác dùng “bao Xuân Thu chi nhất ngôn” (褒春秋之一 言). Kinh Xuân Thu là một tác phẩm thuộc Lục Kinh của Nho gia, gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Điểm đặc sắc của Kinh Xuân Thu là luôn nhắm đến 2 mục đích rõ rệt: bao (褒) là ngợi khen, tán dương, đối với những việc tốt; và biếm (貶) là chê bai, quở trách, đối với những việc xấu. Về sự khen chê của Kinh Xuân Thu, Nho gia đời sau cho rằng một lời khen của Xuân Thu ắt vinh quang ngàn đời, một lời chê của Xuân Thu là trừng phạt như lưỡi đao chém dứt khoát, phải muôn đời ô nhục. Do ý nghĩa này nên trong bài dùng “bao Xuân Thu chi nhất ngôn” để chỉ lời xưng tán, ngợi khen xứng đáng, hàm ý sự tán dương, khen ngợi là đúng thật, đáng tin cậy.

[29] Đây là lấy ý trong kinh Pháp hoa, quyển 3 có đoạn chép lời Phật dạy: “Thị thập lục Bồ Tát Sa-di thậm vi hy hữu... Thị thập lục Bồ Tát, thường nhạo thuyết thị Diệu pháp liên hoa kinh.” (是十六菩薩沙彌,甚為希有... 是十六菩薩,常樂說是妙法蓮華經。 - Mười sáu vị Bồ Tát Sa-di này thật rất ít có... Mười sáu vị Bồ Tát này thường ưa thích thuyết giảng kinh Diệu pháp liên hoa.” - (ĐCT, T9, 262, tr.25b, d.11-19) Vị sa-di cuối cùng thứ 16 chính là tiền thân của đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

[30] Nguyên tác dùng “Nhạn Môn chi bút” (雁門之筆) để chỉ văn tài của Đại sư Tuệ Viễn (慧遠 - 334-416), vốn quê ở Nhạn Môn (雁門) nên thường xưng là Nhạn Môn tăng. Ngài là bậc văn tài lỗi lạc hiếm có, hiện còn để lại rất nhiều tác phẩm trong Đại Chánh Tạng.

pdf-download
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/02/2021(Xem: 14365)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16095)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12083)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 10939)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 11524)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 7402)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 8605)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
14/02/2021(Xem: 7927)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.
14/02/2021(Xem: 10411)
Nhân đọc bài về tuổi già của Đỗ Hồng Ngọc Bác sĩ y khoa, tôi mỉm cười. Mình cũng thuộc tuổi già rồi đấy!! Các bạn mình cũng dùng chữ ACCC= ăn chơi chờ chết vì vượt qua ngưỡng tuổi 70 rồi. Vậy theo BS Ngọc là làm như vậy cũng thực tế đó nhưng có thật là hạnh phúc tuổi già không? Bạn có đủ hết, con cái thì hết lo cho chúng được nữa rồi, chúng tự lo lấy chúng. Tiền bạc thì hết lo được nữa rồi có bấy nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.
14/02/2021(Xem: 8384)
Phật giảng thuyết có ba phương cách: a. Giảng trực tiếp như các kinh đạo Phật Nguyên thủy, b. Giảng bằng phủ định, từ chối là không và phủ định hai lần là xác định tuyệt đối. c. Giảng bằng biểu tượng, đưa câu chuyện cánh hoa sen hay viên ngọc trong túi người ăn mày để biểu tượng hoá ý nghĩa sâu xa của kinh. Phương cách thứ ba này là kinh Pháp Hoa. Có nhiều biểu tượng nhưng nổi bật nhất là cánh hoa sen là biểu tượng kinh Pháp Hoa.