Tình Mẫu Tử

27/07/202515:59(Xem: 3122)
Tình Mẫu Tử

 Tình mẫu tử

Shundo Aoyama

Hoang Phong chuyển ngữ

Ni sư Shundo Aoyama 

Ni sư Shundo Aoyama (1933 )

 

 

Lời mở đầu của người chuyển ngữ 

 

   Vu Lan là một ngày lễ lớn của Phật giáo, nhắc nhở chúng ta tưởng nhớ đến cha mẹ, nhất là đối với mẹ, một người mang nặng đẻ đau, bồng bế mình, nuôi nấng mình từ thuở bé. Ngoài tình mẫu tử ra thì cũng còn có cả tình phụ tử. Cài lên áo mình một cánh hoa hồng không nhất thiết chỉ là để tưởng nhớ đến công ơn của cha mẹ mà đôi khi còn phải nhìn vào chính mình xem mình có xứng đáng cài lên áo mình cánh hoa hồng ấy hay không.

 

Thật vậy, không có gì gọi là một chiều cả. Câu chuyện sống thật dưới đây là do một ni sư người Nhật thuật lại. Câu chuyện nêu lên tình mẫu tử và phụ tử theo cả hai chiều, tưởng nhớ đến cha mẹ và đồng thời cũng là để bậc cha mẹ nhìn vào chính mình. Câu chuyện được trích dẫn từ một quyển sách của Ni sư Shundo Aoyama, dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh và sau đó từ tiếng Anh sang tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Pháp mang tựa là Zen et la vie / Thiền Zen và Sự sống, nhà xuất bản Sully , 2008, dịch giả tiếng Pháp là Bà Martine Haegel-Huck.

 

Câu chuyện này sau đó lại được tập san Sagesses Bouddhistes / Trí tuệ Phật giáo – số 31, tháng 10 năm 2024 – trích dẫn và đăng tải. Bản chuyển ngữ tiếng Việt dưới đây về câu chuyện này, trước hết là để gợi lại ý nghĩa của một ngày lễ lớn trong Phật giáo Việt Nam và Trung quốc, đó là ngày lễ Vu Lan, sau đó là để mượn dịp giới thiệu Tập san Sagesses Bouddhistes với người Việt, nhất là những người sinh sống trên đất Pháp. Tập san này có một sáng kiến đáng chú ý. Một phần bài vở được in trên giấy rất trang trọng, một phần khác được đưa lên mạng và chỉ có các độc giả mua dài hạn mới mở ra được. Tập san chính thức này của Tổng hội Phật giáo Pháp giải thích là cách chia hai số bài vở trên đây là cách làm giảm bớt chi phí in ấn, cước phí Bưu điện cũng nhẹ hơn. Ngoài ra và hơn thế nữa thì việc giảm bớt dùng giấy còn mang một ý nghĩa cao quý hơn, đó là cách kính trọng và bảo vệ môi sinh.

 

Chúng ta hãy trở lại với tác giả của quyển sách Thiền Zen và Sự sống. Bà là ni trụ trì của một Thiền viện lớn thuộc học phái Soto (Tào Động) tại Nagoya, chuyên đào tạo các ni sư của học phái này. Bà sinh năm 1933, tạo được nhiều uy tín trên đất Nhật và cả các nước ngoài. Câu chuyện mà bà thuật lại và bình giải liên quan đến một thi sĩ mang tên là Sumita Aoyama. Các biến cố và tình tiết trong câu chuyện đã làm chuyển hướng cả cuộc đời của vị thi sĩ này. Câu chuyện này như sau:

 

Tình mẫu tử

Shundo Aoyama

 

 «Dù được sống trong một khung cảnh tiện nghi và đầy đủ, thế nhưng cho đến khi tôi được 30 tuổi, tôi vẫn chưa tìm thấy được một sự an bình nào trong tôi, dù là sự an bình đó thuộc lãnh vực triết học hay tâm linh. Mãi cho đến khi tôi được ba mươi bốn hay ba mươi lăm tuổi, thì khi đó tôi mới thật sự hiểu được là tâm thức của mẹ tôi phản ảnh tâm thức của một vị Phật. Vào thời bấy giờ tôi là một nhân viên của cơ quan Viễn thông tại Hiroshima, đảm trách việc đào tạo nhân viên cho cơ quan này. Một hôm tôi nhận được một điện tín như sau : «Mẹ bất tỉnh. Nếu có thể được thì về ngay». Quả không có một mẫu tin nào đớn đau hơn, nhất là trong lúc phải sống xa mẹ. Tôi bàn giao công việc cho một vài đồng nghiệp, sau đó thì lên đường, dù trời đã khuya. Hụt chuyến xe lửa sau cùng, tôi đành phải hối hả tìm ra bến cảng, trèo lên một chiếc thuyền đưa khách. Chuyến đi kéo dài suốt cả đêm. Sáng hôm sau thì tôi cũng về đến cổng của ngôi nhà gia đình. Trong đám cỏ trước sân tôi nhận thấy có các cánh hoa màu đỏ tía, dường như màu hoa tỏa xuống từ các tia sáng của con trăng. Vị bác sĩ già của gia đình bước nhanh ra cửa, có lẽ vì vội nên đạp lên cả các cánh hoa bé xíu. Tôi hốt hoảng hỏi ngay vị ấy «Tình trạng của mẹ tôi thế nào?» Vị ấy cho biết: «Mẹ anh bị chấn thương ở tim. Tôi cố gắng chăm sóc, thế nhưng mẹ anh vẫn bất tỉnh. Hãy tìm đến với mẹ, nhanh lên!». Tôi vội tiến đến đầu giường của mẹ, ngồi xuống bên cạnh chiếc gối của mẹ, tôi gọi mẹ và cứ thế mà gọi mẹ. Cha tôi lúc nào cũng ở bên cạnh mẹ, bảo với tôi không nên chạm vào thân thể của mẹ. Thế nhưng tôi vẫn cứ nhích lại thật gần với mẹ, nhìn vào mẹ không rời mắt. Hơi nóng từ thân thể đang lên cơn sốt của mẹ bao phủ cả thân tôi, khiến tôi hồi tưởng lại những lúc vô tình tôi chạm vào người mẹ khiến làm cho mẹ đau. Cứ thế mà tôi ngồi bên mẹ, không nghĩ đến ăn uống hay ngủ nghê gì cả, trong lòng chỉ mong sao mẹ mở mắt ra.

 

Vào đêm hôm sau, khi chiếc đồng hồ vừa gõ đúng chín tiếng thì mẹ tôi tỉnh dậy. Khi trông thấy tôi nằm dài bên cạnh, và trong lúc đó thì vợ tôi cũng đang đi đến, mẹ khe khẽ gọi vợ tôi bằng những tiếng yếu ớt: «Sao cả hai vai của thằng Sumita…lại để hở ra như thế này…, con hãy mang thêm… cho nó một chiếc chăn để đắp. Nghe câu nói ấy, tôi không cầm được nước mắt. Tôi cảm thấy lúng túng vì ý thức được là tôi đang bật khóc như một đứa trẻ con trước mặt tất cả mọi người. Tôi phải úp mặt vào gối để không ai nghe thấy tiếng nấc của tôi.

 

Trong suốt thời gian mê sảng đó, điều thắc mắc của mọi người là mẹ có qua khỏi được cơn đau tim hay không, có tỉnh lại được sau một cơn bất tỉnh kéo dài như thế hay không, hay là mẹ sẽ chết nhưng không hề tỉnh lại. Thế mà lúc vừa tỉnh lại, thì người phụ nữ ấy, người mẹ của tôi, không hề nghĩ đến căn bệnh của mình, mà mối lo âu trước nhất của mẹ là hướng vào con người của tôi đang tràn đầy sức khỏe. Tôi hiểu được chuyện đó khi vụt ý thức được tình thương sâu xa và lòng vị tha của mẹ đối với tôi. Bắt đầu tứ lúc đó, cuộc sống không còn là một vấn đề cho tôi nữa. Tôi hiểu được những gì tôi còn phải làm. Nếu tôi không hối hả đến bên cạnh giường của mẹ, không trải qua cảnh huống đó bên mẹ, thì nhất định tôi vẫn còn tiếp tục sống, nhưng nào có biết được tình thương của mẹ đối với tôi là như thế nào. Tôi vẫn còn quặn đau trong lòng khi nghĩ đến căn bệnh của mẹ, thế nhưng chính là nhờ đó mà tôi phát hiện được tấm lòng từ bi vô biên của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện khi Đức Phật truyền đạt tâm nguyện của Ngài sang con người tôi qua trung gian của cơn bệnh của mẹ tôi.

 

[Sau đây là lời bình giải của Ni sư Shunda Aoyama về câu chuyện này]

 

Vị Aoyama thuật lại với chúng tôi kỷ ức đó về mẹ mình vào năm 1969. Hầu hết trong số hàng trăm người nghe không mấy ai cầm được nước mắt. Tất cả chúng tôi đều nghĩ đến người mẹ sinh ra mình. Một số hẳn nhiên tự nghĩ rằng mình cũng có một người mẹ xứng đáng tương tự như người mẹ của vị Aoyama. Một số khác thì lại cảm thấy mình quá đê hèn, không đủ sức kính trọng người mẹ của mình. Thật vậy, những người ngồi nghe câu chuyện trên đây thật đa dạng, các ký ức về mẹ hiện lên với họ cũng thật đa dạng. Một đứa bé khi mới lọt lòng, thân xác và con tim của nó vẫn còn tinh khiết, thì người đầu tiên mà nó tiếp xúc là mẹ nó. Sau đó thì người gần gũi nhất với nó trên phương diện thân xác, trong suốt giai đoạn lớn khôn sau đó, thì cũng chính là mẹ nó. Có một câu tục ngữ Nhật bản như sau: «Những gì gieo vào lòng một đứa bé lúc ba tuổi sẽ lưu lại trong ký ức nó một trăm năm». Chuyện đó cũng chẳng khác gì như một đứa bé ba tuổi học hỏi được những gì từ mẹ nó. Một người vui sống lớn lên từ một người mẹ hân hoan, một người rụt rè lớn lên từ một người mẹ nhút nhát, một người gắt gỏng lớn lên từ một người mẹ hay nóng giận […]

 

Quả là một sự sai lầm khi cho rằng một đứa bé lúc mới lọt lòng không hay biết gì cả. Một lời nói vô tâm của một người mẹ, một cử chỉ hời hợt trước sự mong chờ của một đứa bé, cũng chẳng khác gì như một vết mực trên một tờ giấy thấm. Mỗi hành động của chúng ta, dù là tốt hay xấu, đều góp phần vào quá trình lớn khôn của một đứa trẻ. Phải nên ghi nhớ điều này, người mẹ phải sống một cuộc sống đáng kính và ý thức. Một đứa bé được nuôi nấng bởi một người mẹ tốt, và nếu là một đứa bé trai, thì khi lớn lên nó sẽ trở thành một người chồng trung hậu, biết chăm lo và yêu thương vợ, và cũng sẽ trở thành một người cha gương mẫu, một người đồng hành xứng đáng với con trai của mình. Nếu là một đứa con gái thì sau này nó sẽ trở thành một người mẹ biết chăm lo cho con cái, nuôi nấng con cái trong một khung cảnh lành mạnh. Đấy là cách đánh thức con tim của người mẹ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cuộc sống của một người mẹ không phải chỉ thu hẹp trong khuôn khổ của một kiếp người. Cuộc sống ngắn ngủi đó của người mẹ chỉ là điểm khởi hành của một cuộc sống khác kéo dài hơn trong tương lai vô tận. Theo chiều ngược lại thì cũng vậy, chẳng hạn như một ly nước cáu bẩn rót vào một dòng sông, nước cáu bẩn đó sẽ hòa tan với biển cả mênh mông. Một người mẹ khi ý thức được điều đó tất sẽ luôn cố gắng biến mình trở thành một người mẹ xứng đáng nhất đối với con mình. Người mẹ ấy biết giữ gìn lời ăn tiếng nói của mình, thái độ hành xử của mình và cả những sự suy nghĩ trong tâm thức mình.

 

 

Bures-Sur-Yvette, 24.07.25

 Hoang  Phong chuyển ngữ

 

 

 

 

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/09/2010(Xem: 11589)
Gần đây, do có nhiều hình ảnh về Mạn Đà La chụp được trong các cuộc lễ cungnghinh Phật Ngọc cầu nguyện hòa bình thế giới tại các chùa ở hải ngoại và được đăng trên một số trang mạng điện tử toàn cầu, cũng như được phổ biến qua thư điện tử, có vị đã viết bài chỉ trích cho rằng đó là “hiện tượng mê tín không nên truyền bá,” đã làm một số Phật tử hoang mang không biết đâu là thật đâu là giả.
21/09/2010(Xem: 14355)
Sợ hãi và lo âu sinh ra bởi sự tưởng tượng của đầu óc bị tác động bởi ngoại cảnh. Cuộc đời là một bức tranh di động, mọi vật đều thường xuyên thay đổi, không có vật gì trên thế gian này đứng yên vĩnh viễn. Những người trẻ trung khỏe mạnh sợ phải chết sớm. Những kẻ già yếu sợ sống lâu. Hạng người trung niên mong muốn được an vui quanh năm. Những điều hân hoan thích thú qua nhanh. Những việc không vui thường tạo ra sự âu lo lâu dài. Những cảm giác làm cho đời sống thăng trầm theo cái bản ngã hư huyễn, giống như con rối múa theo sợi dây.*** Đức Phật đã dạy: " Tham muốn sinh ra lo âu Tham muốn sinh ra sợ hãi, Ai dứt sạch tham muốn Không còn lo âu sợ hãi "
21/09/2010(Xem: 12581)
Muốnngồi thiền, trước chúng ta phải biết lý thuyết, sau mới thực hành được.Tại sao chúng ta phải ngồi thiền? Phật dạy trong bốn oai nghi chúng ta đều tu được hết. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm và ngồi. Tuy nhiên trong số bốn oai nghi đó, các Thiền sư nói chỉ có ngồi là thù thắng hơn cả.
20/09/2010(Xem: 13251)
Bài viết dưới đây tóm lược lại hai câu chuyện được ghi chép trong kinh sách, tả lại những cảnh ganh tị, hận thù, tham vọng,... đã xảy ra khi Đức Phật còn tại thế.
20/09/2010(Xem: 18213)
Phật pháp như thuốc hay, nhưng tùy theo căn bệnh. Có điều, không phải như thuốc Tây, được bào chế như thế nào thì đồng loạt các người bệnh dùng như vậy, chỉ hơi khác nhau về cân lượng tùy theo thể trọng của mỗi người. Phật pháp tuy cũng một pháp môn có thể được truyền dạy cho nhiều người như nhau, nhưng để cho sự thực hành có hiệu quả hơn, cũng cần phân biệt thành phần xã hội, trình độ nhận thức, và kinh nghiệm từng trải của mỗi người mà phương pháp thực hành có thể một vài sai khác.
20/09/2010(Xem: 11041)
Đứng về mặt ẩn dụ một đóa mai, thiền sư Mãn Giác nhằm trao cho những người đi sau đức vô úy trước việc sống-chết của đời người, và nói lên sự hiện hữu của cái "Bản lai diện mục"...
19/09/2010(Xem: 12873)
Nằm cách cách sân bay quốc tế Bangkok, Thái Lan, 16 km về phía Bắc, tu viện Wat Phra Dhammakaya là khu điện thờ khổng lồ nằm ở quận Khlong Luang. Hình dáng ngôi đại Già lam trông giống một con tàu vũ trụ hay sân vận động hơn là một ngôi chùa truyền thống ở Thái Lan nói riêng và thế giới Phật giáo nói chung.
19/09/2010(Xem: 13537)
Đức Thế Tôn đã cẩn trọng để lại cho chúng ta rất nhiều tiêu chuẩn thẩm định chánh pháp như Duyên khởi, Tứ y cứ, Nhị đế, Tam pháp ấn v.v… Trong đó, Tứ y cứ là một thước đo quan trọng nhưng ít được đem ra sử dụng một cách rộng rãi và triệt để, nếu không nói là bị lãng quên.
19/09/2010(Xem: 11205)
Khoa học càng phát triển, con người càng có cơ hội hiểu thêm nhiều điều Đức Phật dạy. Giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng, những triết lý, tâm lý… được Đức Phật nói đến trong kinh điển, như họ đã từng nghiên cứu, lý giải về các hiện tượng trong thiên nhiên, trong vũ trụ và con người. Thế nhưng, khi bắt tay vào công việc đó, họ đã gặp không ít những khó khăn, trở ngại. Có những khó khăn đi đến bế tắc. Như chuyện về xá lợi chẳng hạn.
19/09/2010(Xem: 10734)
Do ảnh hưởng từ thảm họa kép năm 2011, Fukushima - Nhật Bản đến nay vẫn còn nhiều nơi bị xem như vùng đất chết vì lo ngại nhiễm xạ, chủ yếu chỉ còn các vật nuôi bị bỏ rơi và được một người đàn ông dũng cảm ở lại chăm sóc.