Bi Và Ái

18/07/202508:55(Xem: 3503)
Bi Và Ái

Bi Và Ái

Tác giả: Thích Nữ Diệu Không

Dịch giả: Nguyên Giác
Bi Và Ái-2

Lời dịch giả: Bài viết "Bi Và Ái" được Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) viết, in trong Tạp chí Liên Hoa, số 3, ấn hành cuối tháng 8/1955. Tạp chí Liên Hoa thành lập năm 1955, với Thượng toạ Thích Đôn Hậu trú trì chùa Linh Mụ ở Huế làm chủ nhiệm, Thượng toạ Thích Đức Tâm làm chủ bút, và Ni sư Thích Nữ Diệu Không làm quản lý. Trong bài này, Ni sư ký tên tác giả là Thích Diệu Không. Ni trưởng là dịch giả nhiều kinh và luận, cũng là một nhà thơ xuất sắc. Ni trưởng đã để lại nhiều câu thơ thường được nhắc tới, thí dụ như:

Nguyện Phật chứng minh muôn vạn kiếp

Con xin lăn lóc cõi ta-bà

Trên báo Giác Ngộ, Giáo sư Cao Huy Thuần khi viết về Ni trưởng Diệu Không đã ghi lại bài thơ của Ni trưởng tự gói gọn cuộc đời:

Muôn pháp không ngoài lý diệu không

Không mà phải diệu mới dung thông

Cái tâm vô trú là tâm diệu

Diệu khắp muôn phương thấy thể đồng.

Bài ký tên Thích Diệu Không năm 1955 như sau.

.

BI và ÁI

Người đời thường lầm nhận bi tâm cũng như ái tâm, vì lầm nhận nên có người Phật-tử đã ngộ nhận ái tâm cũng là hành Bồ-tát hạnh. Cái nguy hại của người phàm- phu tự sánh mình với Bồ-tát, mang tội rất lớn, nên bài này mục-đích phân tích rõ 2 chữ bi và ái ấy.

Bi thuộc về trí, ái thuộc về nghiệp. Trí, tôi nói đây là chánh-trí, thuộc về Phật tánh trí huệ, trí không bị hoàn cảnh sai khiến, trí tự tại do tự tánh phát hiện, không bị nghiệp lực ám ảnh, ngã chấp ngăn che. Trí huệ phát sanh bởi tự tánh, khác hẳn trí huệ của nghiệp lực; một bên do công năng thanh tịnh tu trì, một bên do thiên kiến chấp đắm, cuồng huệ bồng bột. Ví như nước đứng lặng, trăng chiếu rõ ràng, nước xao xuyến, trăng mờ mịt, ẩn khuất, cũng như gương trong, bóng hiện rõ, gương bị bụi, bóng lu mờ.

Người tu hành vì biết đời là một giả cảnh do nghiệp tạo thành, có để mà không, thành để mà hoại, nên không bị thân tâm, cảnh vật ám ảnh, xem mình và người đồng một thể, thân sơ bình đẳng, còn mất in nhau; nên không ham sống, không sợ chết. Giàu có không mừng, nghèo nàn không nản chí, trọng tinh thần, khinh vật chất, mến đạo đức, ưa lợi người, tâm thường tự tại giải thoát.

Người tu hành được giải thoát phần nào, bi-tâm mở rộng chừng ấy. Ngược lại chữ ái còn ở trong vòng thiên chấp, chật vật theo thân cảnh, chỉ bất bình nhau một niệm, có thể thù ghét làm hại lẫn nhau, tranh giành nhau từ miếng cơm manh áo; có lúc vì đấy, máu mủ chia lìa, cha con, vợ chồng, anh em trở nên thù hận.

Bi tâm theo trí huệ, luôn luôn nhận chân lẽ phải cứu vớt sự đau khổ cho mọi người tức là tự cứu vớt sự đau khổ cho mình; mình và người không hai, oán thân bình đẳng: sự hạnh-phúc của người chính là mình được hạnh-phúc. Không còn ganh ghét, sân hận tham lam, chỉ ích kỷ riêng cho mình. Đem bi tâm làm hướng đạo,, đem trí huệ làm đuốc quang-minh, dắt người cùng ra khỏi chốn tối tăm, cùng nhau tạo thành hạnh-phúc hoàn toàn, sống một lối sống hy sinh, cùng nhau tương thân tương ái.

Ái-tâm thuộc về nghiệp, nghĩa là động lực vì chấp ngã, cái gì thuận ngã thì ái, cái gì nghịch ngã là ghét bỏ. Ái là nguồn gốc nghiệp lực, cái gì ta ưa, dù xấu ngó ra tốt, dở xem ra hay.

Cái gì ta ghét, dù tốt mấy cũng cho là xấu. Thí dụ như bà mẹ chữ ái mà thương con, ai nói lỗi con mình, dù là sự thật cũng cho là quấy, ai nịnh con mình, dù giả dối cũng vui lòng. Ái tâm đã thuộc về tình cảm nên mất trí phán đoán tính công bình, nên ái lâm dễ xui làm chuyện bậy, tìm hết cách bênh vực cho mình. Động đến ngã ái, dù lời nói phải cũng không chịu nghe, nên mất tánh công minh bình đẳng. Người mà ái trí, người ấy dễ tạo nhiều nghiệp, người mẹ có thế giết người, ăn trộm, nói dối, để nuôi con mình. Vợ có thể giết chồng trong khi tức giận là vì ái tâm mờ tối.

Nói đến đây chúng ta đã thấy rõ hai chữ bi và ái tuy dồng một dụng là tình thương, mà trí dụng và nghiệp dụng khác nhau xa. Vậy người tu hành muốn về với chánh-tri-kiến, hãy nên chuyển ái-tâm thành bi-tâm để khỏi mất tánh công bình, khỏi bị ma ái triền phược.

Lời Phật dạy: Ái bất trọng bất sanh Ta-bà, Bi bất chuyên bất sanh tịnh-độ, là thế.

THÍCH-DIỆU-KHÔNG

.

NGUỒN:

. Tạp Chí Liên Hoa

https://thuvienhoasen.org/a30422/tap-chi-lien-hoa-lien-hoa-van-tap-

. Giáo sư Cao Huy Thuần viết về Sư bà Diệu Không

https://giacngo.vn/giao-su-cao-huy-thuan-viet-ve-su-ba-dieu-khong-post73767.html

.

.... o ....

Compassion and Love

Author: Thích Nữ Diệu Không

Translator: Nguyên Giác

 

Translator's note: The article “Bi và Ái” (Compassion and Love) was written by Abbess Thích Nữ Diệu Không (1905-1997) and published in Liên Hoa Magazine, issue 3, at the end of August 1955. Liên Hoa Magazine was founded in 1955, with Venerable Thích Đôn Hậu, abbot of Linh Mụ Pagoda in Huế, serving as the publisher; Venerable Thích Đức Tâm as the editor-in-chief; and Abbess Thích Nữ Diệu Không as the managing editor. In this article, the author signed her name as Thích Diệu Không. She was a translator of numerous sutras and treatises and an accomplished poet.

The esteemed nun left behind many frequently cited verses, such as:

May the Buddha witness for countless eons

as I continue to traverse the cycle of samsara.

In the Giác Ngộ Online newspaper, Professor Cao Huy Thuần wrote about Abbess Diệu Không and included a poem by the venerable nun that encapsulated her life as follows:

All phenomena are not separate from the principle of profound emptiness.

Emptiness must be a wonderful state, characterized by tolerance and the absence of obstacles.

The mind that does not dwell is a wonderful mind.

Everywhere is wonderful, revealing the same essence.

The article authored by Thích Diệu Không in 1955 is as follows.

.

Compassion and Love

People often confuse compassion with love. As a result of this misunderstanding, some Buddhists erroneously believe that love is synonymous with the practice of Bodhisattva conduct. The peril of ordinary individuals comparing themselves to Bodhisattvas is significant, as it can lead to a grave misstep. Therefore, this article aims to clearly differentiate between the concepts of compassion and love.

Compassion is rooted in wisdom, while love is intertwined with karma. True wisdom, which I refer to as the wisdom of Buddha nature, is not influenced by external circumstances. It is a wisdom that is freely discovered through self-nature, untainted by karma and unobstructed by ego. This wisdom arises from self-nature and is fundamentally different from the intelligence shaped by karma; one is a product of pure cultivation, while the other stems from biased attachment and erratic understanding. For instance, when water is still, the moon's reflection is clear; when the water is disturbed, the moon appears dim and obscured. In the same way, when a mirror is free of dust, the image is sharp and distinct; when the mirror is dirty, the image becomes blurred.

Buddhist practitioners understand that life is an illusion shaped by karma, existing only to ultimately become non-existent, forming only to be destroyed. They are not burdened by the body, mind, or material possessions, and they perceive themselves and others as one essence. They recognize that all individuals are equal, and that gain and loss are inseparable. Consequently, they do not crave life nor fear death. They do not find happiness in wealth, nor do they feel discouraged by poverty. Instead, they value the spirit over material possessions, cherish morality, and strive to benefit others. As a result, their minds remain at ease and liberated.

When Buddhist practitioners achieve a degree of liberation, their compassion expands accordingly. In contrast, love often remains entangled in the cycle of attachment, grappling with physical desires and external circumstances. A single thought of disagreement can escalate into hatred, leading to harm among individuals as they fight over basic necessities like food and clothing. Consequently, this struggle can sever blood relations, causing fathers and sons, husbands and wives, and brothers to become estranged and filled with animosity.

Compassion is rooted in wisdom, always acknowledging the truth that alleviating the suffering of others ultimately alleviates one's own suffering. It involves recognizing that oneself and others are fundamentally the same, viewing both friends and adversaries as equals: the happiness of others is intrinsically linked to one's own happiness. In a state of compassion, there is no room for jealousy, anger, greed, or selfishness. By allowing compassion to guide us and wisdom to illuminate our path, practitioners can help others emerge from darkness, collectively fostering profound happiness and embracing a life of selflessness, united in compassion for one another.

Love is intertwined with karma, suggesting that our motivations stem from ego attachment. We tend to love what is favorable to our ego and hate what contradicts it. Love serves as the foundation of karma. We often perceive whatever we like, even if it is detrimental, as good, while viewing what is genuinely good as bad if it does not align with our desires.

Whatever we dislike, regardless of its inherent value, we tend to perceive as negative. For instance, a mother loves her child out of deep affection. When someone points out her child's faults, even if the criticism is valid, she perceives it as wrong. Conversely, when others flatter her child, even if the praise is insincere, she feels pleased. Love is an emotion that can cloud judgment, making it difficult to assess situations fairly. This emotional bias can lead to justifications for negative actions and self-defense. When ego is involved, even accurate observations may go unacknowledged, further distorting one's sense of fairness and equality. A person driven by love can inadvertently create negative karma. A mother might resort to extreme measures, such as stealing or lying, to provide for her child. Similarly, a wife may act violently against her husband in a fit of rage, blinded by her love.

Therefore, we have clearly observed that while the concepts of compassion and love are interconnected emotions, the influences of wisdom and karma differ significantly. Practitioners seeking to attain right knowledge should transform their love into compassion to maintain their impartial nature and avoid becoming entangled by the demon of love. The Buddha taught that when the mind is burdened by love, one is born into the cycle of samsara. If compassion is not directed and focused, one cannot be reborn in the Pure Land.

SOURCE:

. Liên Hoa Magazine

https://thuvienhoasen.org/a30422/tap-chi-lien-hoa-lien-hoa-van-tap-

. Professor Cao Huy Thuần writes about Abbess Diệu Không

https://giacngo.vn/giao-su-cao-huy-thuan-viet-ve-su-ba-dieu-khong-post73767.html

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/08/2020(Xem: 16067)
Người giải thoát giống như một bánh xe quay tròn đều, không bị mắc kẹt, vướng bận, thanh thoát, thông suốt. Họ không còn ý niệm “tôi là như thế này, tôi là như thế nọ, tôi là đây, tôi là kia”. Người tu nhẫn nhục mà thấy ta đang nhẫn nhục là mắc kẹt rồi. Càng nhẫn nhục chừng nào thì CÁI TA càng lớn chừng đó. Nhẫn nhục mà không thấy ta nhẫn nhục thì mới thông suốt. Người tu hạnh khiêm cung mà thấy mình khiêm cung là mà mắc kẹt rồi. Càng khiêm cung chừng nào, thì CÁI TA càng lớn chừng đó. Tu riết như vậy lâu ngày thành bịnh, hết thuốc chữa vì kẹt lâu ngày, bánh xe không quay tròn đều được, thậm chí không thể chuyển động được vì các bộ phận bị ô-xy hóa, bị rỉ sét do chấp pháp, chấp tướng lâu ngày, thành thử bệnh nặng.
16/08/2020(Xem: 11276)
Một pho tượng Phật, được phát hiện trong khi đào móng cho một ngôi nhà tại Mardan, Mardan là một thành phố thuộc Khyber Pakhtunkhwa, Pakistan, hôm thứ Bảy, ngày 18 tháng 7 vừa qua, đã bị công nhân xây dựng địa phương đập vỡ thành nhiều mảnh bởi họ không tôn trọng thánh tích Phật giáo, khiến chính quyền địa phương phẫn nộ và lo lắng.
16/08/2020(Xem: 15215)
Cư sĩ Milton Glaser, người Mỹ, nhà Thiết kế Đồ họa hiện đại, với nhiều công trình nổi tiếng và bền bỉ. Ông đã từ giã trần gian và đã để lại ấn tượng những hình ảnh Phật giáo. Cư sĩ Milton Glaser, người Mỹ, nhà Thiết kế Đồ họa hiện đại đã mãn báo thân, trút hơi thở cuối cùng tại quận Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 6 vừa qua, vào ngày Sinh nhật lần thứ 91 của ông.
15/08/2020(Xem: 9134)
(Thimphu, Bhutan) – Vào ngày 11 tháng 8 vừa qua, Chính phủ Vương quốc Hy Mã Lạp sơn Bhutan đã áp dụng lệnh phong tỏa toàn quốc đầu tiên kể từ khi đại dịch Virus corona tấn công Vương quốc Phật giáo này. Chính phủ Vương quốc Phật giáo này đã ban hành lệnh cách ly cho khoảng 750.000 người dân, các cơ quan nhà nước cũng đề nghị đóng cửa tất cả các trường học, cơ sở đào tạo và các cửa hàng kinh doanh; hoãn các kỳ thi và không rời địa bàn sinh sống trong thời gian này.
15/08/2020(Xem: 12318)
Sự từ biệt trần gian Ta bà của Cư sĩ Steven D. Goodman (1946-2020) là vô cùng kính tiếc, một sự mất mát cho việc nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng tại phương Tây. Cư sĩ Steven D. Goodman, Giáo sư, Tác giả và Dịch giả nổi tiếng bởi các tác phẩm kinh điển Phật giáo Tây Tạng, đã an nhiên trút hơi thở cuối cùng tại tư gia và về cõi Phật vào ngày 03 tháng 8 năm 2020, Oaklan, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 75 tuổi.
14/08/2020(Xem: 14440)
Phần này bàn về cách dùng tiền quí, cheo, bài ca dao “đi chợ tính tiền” và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ Nôm/chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập đến. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .
11/08/2020(Xem: 17371)
Ai đã truyền Việt Nam Phật Giáo qua Trung Quốc: Khương Tăng Hội, người Việt Nam. Vào năm nào: năm 247 tây lịch. Nơi nào tại Trung Quốc: Kiến Nghiệp, nay là Nam Kinh. Chùa đầu tiên được xây dựng tại Kiến Nghiệp là chùa nào: Do Khương Tăng Hội xây dựng chùa Kiến Sơ tại Kiến Nghiệp, Nam Kinh, hiện nay, 2020, vẫn còn. Trưỡng lão Hòa Thượng Thích Trí Quảng, Đệ Nhất Phó Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã đến thăm chùa đó cách nay mấy năm và đã xác nhận với tôi tại chùa Huê Nghiêm của Ngài tại quận hai, thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2017. Khương Tăng Hội mất năm 280. Nghĩa là Ngài hành đạo tại Trung Quốc được 33 năm. Trong khi đó Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc năm 520, nghĩa là sau Khương Tăng Hội 273 năm.
11/08/2020(Xem: 8862)
Được sự thương tưởng và hỗ trợ của chư vị chúng con, chúng tôi vừa thực hiện xong 10 giếng cần giục (Well hand-pump) cho những ngôi làng nghèo lân cận khu vực Bồ Đề Đạo Tràng & Nalanda tiểu bang Bihar India. Đây là Public Well Hand-pump nên cả làng có thể xài chung, người dân nghèo bớt đi rất nhiều nỗi nhọc nhằn vì phải đi lấy nước ngoài sông xa. Kính mời quí vị xem qua một số hình ảnh tường trình.
10/08/2020(Xem: 12872)
Đa số chúng ta, những người có duyên với Phật Giáo, hầu hết đã nghe nói đến, không nhiều thì ít, rằng Phật thuyết pháp, Tổ sư thuyết pháp, Pháp sư thuyết pháp, Hòa thượng hay Thượng tọa thuyết pháp, v.v…, nhưng ít ai nghe nói chim muôn thuyết pháp, phải không? Vì chúng ta thiết nghĩ rằng các loài động vật hay thực vật thì khác với loài người, không có Phật Pháp, không thể nghe hay thuyết Phật pháp, do đó, nên chúng ta có thể nghĩ rằng làm gì có chuyện chim muôn, cây cỏ, v.v… có thể thuyết Phật pháp bằng ngôn ngữ của chúng.
09/08/2020(Xem: 17890)
Sáng nay vừa thức dậy, nhìn ra ngoài bầu trời trong thật đẹp, chim chóc hót ca vang, ríu rít gọi nhau nghe sao mà thanh bình quá, tiếng chim hót mà con rất ưa thích nghe từ thuở còn ấu thơ mỗi khi bình minh sắp trổi dậy cho một ngày mới. Hôm nay 28.6.2020 sinh nhật lần thứ 71 của Thầy, con xin kính đọc bài thơ của nhà thơ Hoàng Phong Linh tức ông Võ Đại Tôn, 1 chiến sỹ yêu nước, yêu Đạo, yêu Đời luôn dâng hiến đời mình cho Tổ Quốc kính mừng sinh nhật Thầy: