Đọc Ngô Thì Nhậm: Thấy và Nghe

05/07/202513:55(Xem: 3735)
Đọc Ngô Thì Nhậm: Thấy và Nghe

Đọc Ngô Thì Nhậm: Thấy và Nghe

Nguyên Giác
TONG CHI trang 389

 Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: vùng vằng chống chọi với những cái được thấy và được nghe là chưa biết đạo. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích các đoạn đầu trang 389, nguyên văn như sau:

Việc gì nhìn thấy mà vẫn chưa cho là đúng, nghe mà còn chưa cho là thật, bị che lấp ứ đọng, vùng vằng chống chọi mà không thoát ra được, đó là người không biết đạo vậy. Người biết đạo thì thông, thông thì soi suốt, soi suốt được thì sống. Người không biết đạo thì không thông, không thông thì bị chướng ngại, bị chướng ngại thì chết.

Thần là tính, tính thì không diệt được, cho nên nói ‘sống là thuộc về thần.’ Hình là chất, chất thì có sinh có diệt, cho nên nói ‘chết là thuộc về hình.’ Phật Thích Ca thì diệt độ (*). Khổng Tử thì ngoạ bệnh mà mất. Diệt và mất chỉ là cái hình thôi, còn như ‘minh tâm kiến tính’ và ‘tận tâm tri tính.(**) là hai cái chân truyền của đức Phật và đức Thánh thì vẫn còn mãi mãi ở trong khoảng trời đất, ngàn muôn đời không bao giờ tắt, cho nên Thầy nói rằng: ‘Đạo không can dự vào đấy.’ Tây Ngưu Hạ Châu có Phật Vô Lượng Thọ, Nam Thiệm có đấng vương giả dấy lên. Có cái đạo ấy, tức có con người ấy, không sao mà diệt được, cũng là ý nghĩa ấy.” (ngưng trích)

Có 2 ghi chú trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh trong đoạn trên là, nguyên văn:

(*): Diệt độ: Diệt là trừ bỏ mọi phiền não, độ là giác ngộ giải thoát. Diệt độ ở dây có nghĩa là chết.

(**): Minh tâm kiến tính: Danh từ nhà Phật, có nghĩa là nhìn được triệt để bản tính tự tâm. Tận tâm tri tính: Sách Mạnh Tử, thiên Tận tâm thượng: "Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tinh dã, tr kỳ tính tắc tri thiên hỹ." Nghĩa là: Tận lượng tìm hiểu tự tâm thì sẽ biết được tính, biết được tính thì sẽ biết được lễ trời.

 

Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng hai ghi chú trên là của các dịch giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, hoàn toàn không phải ghi chú của quý ngài trong dòng Trúc Lâm của Hải Lượng Thiền Sư, bởi vì quý sư viết trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đều là các bậc danh nho, học Nho giáo từ thơ ấu, sống đời Nho sĩ, làm quan nhiều thập niên, trải qua những cuộc sóng gió binh biến của thời Tây Sơn và rồi cuối đời, vào chùa xuất gia. Quý ngài vừa học rộng cả Kinh Phật lẫn sách Nho, nên không thấy cần ghi chú các chữ như Diệt độ, Minh tâm kiến tính, Tận tâm tri tính.

Chúng ta nơi đây cũng không dám nhận định rằng các ghi chú đó có thích nghi hay không, vì nơi đây chúng ta sẽ nhìn cách khác, soi ý nghĩa dưới con mắt của người tu theo Thiền Tông, không bận tâm các nghĩa của Nho giáo.

Câu đầu trong trích dẫn trên là: “Việc gì nhìn thấy mà vẫn chưa cho là đúng, nghe mà còn chưa cho là thật, bị che lấp ứ đọng, vùng vằng chống chọi mà không thoát ra được, đó là người không biết đạo vậy...”

Những cái đươc thấy và được nghe là gì? Tại sao chưa cho là đúng, mà lại vùng vằng chống chọi? Chư Tổ thường gọi, khi chúng ta đối diện với cảnh (những cái được thấy, được nghe), mà cứ muốn cảnh phải thế này hay muốn cảnh phải thế kia, đó là rơi vào lỗi “đầu thượng trước đầu. tuyết thượng gia sương” (trên đầu lại chắp thêm đầu, trên tuyết lại bồi thêm sương).

Tất cả những ý muốn, rằng cái được thấy phải thế này, rằng cái được nghe phải thế kia, chính là chúng ta đang bạo lực với cảnh, mất hẳn cái bình an của tâm bình thường. Chư Tổ nói rằng hãy giữ tâm bình thường chính là biết sống đạo. Bạn có thể thử nghiệm dễ dàng, khi bạn ngồi trong một thính phòng để nghe nhạc, tới đoạn nhạc này hay tới đoạn nhạc kia, bạn khởi tâm rằng nhạc sĩ lẽ ra phải làm thế này, hay thế kia. Đó là tự bạn làm loạn tâm bạn, làm mất bình an. Đó là bạn tự sân si với chính những cái được nghe.

Tại sao vùng vằng chống chọi cái được thấy và cái được nghe là không biết đạo? Bởi vì đơn giản rằng người đó tưởng rằng có cái thực tướng gì là cái được thấy và cái được nghe, nên khi nắm giữ tướng đó, mới phản ứng bằng cách vùng vằng chống chọi những gì được thấy và được nghe. Đó là chưa hiểu rằng Sắc là Không, chưa hiểu rằng những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được suy nghĩ tư lường đều là hư ảo, là không thực tướng, đều là duyên sinh, đều là vô ngã, đều là Không, cho nên mới vùng vằng chống chọi.

Trong Kinh AN 4.14, Đức Phật dạy rằng khi thấy hay khi nghe thì đừng nắm giữ tướng riêng hay tướng chung của những cái được thấy hay được nghe. Thí dụ, tướng chung của cô Nguyễn Thị A là hình dáng, tiếng nói của một thiếu nữ có tên đó trong độ tuổi nào đó. Tướng riêng là đặc tướng riêng biệt, những gì làm cho chúng ta thấy đúng là Nguyễn Thị A mà không phải là Lê Thị B. Đừng nắm giữ tướng riêng hay tướng chung có nghĩa là hãy để tất cả những cái được thấy và được nghe trôi theo dòng đời vô thường, không nắm giữ gì hết. Kinh AN 4.14, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì với nhãn căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, sống với sự chế ngự nhãn căn. Khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Phàm do nhân duyên gì ý căn này không được chế ngự, khiến cho tham ái, ưu bi, các ác bất thiện khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, thọ trì ý căn, sống với sự chế ngự ý căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.” (ngưng trích)

 

Hãy nhớ rằng, thọ mạng của chúng ta, và của tất cả chúng sinh trong cõi này thực sự không phải là năm, hay tháng, hay ngày, hay giờ, mà chỉ là một khoảnh khắc của tâm. Trong Luận thư Niddesa ghi rằng thọ mạng của thân và tâm chúng ta chỉ là một khoảnh khắc tiếp giáp của một hạt đậu xoay tròn trên mũi kim. Như thế, không có khoảnh khắc nào lặp lại. Từng khoảnh khắc trong đời chúng ta đều là độc đáo. Hãy tỉnh thức và sống cho trọn vẹn từng khoảnh khắc trên thân tâm mình. Không có gì (và cũng bất khả) để nắm giữ hay chống chọi những gì được thấy, được nghe.

Có một yếu chỉ của Thiền Tông là, khi Lục Tổ Huệ Năng dạy cho Thượng Tọa Minh rằng, hãy nhìn xem ngay khi tâm không nghĩ thiện và không nghĩ ác, thì cái gì là bản lai diện mục (khuôn mặt xưa nay) của Thượng Tọa. Tương tự, các Thiền sư Việt Nam thường dạy rằng vô tâm chính là đạo. Không khởi tâm gì hết, dù là ưa thích hay chống chọi đối với cái được thấy và cái được nghe.

Trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, khi quý ngài viết rằng vùng vằng chống chọi những cái được thấy hay cái được nghe là chưa hiểu đạo, chỉ đơn giản là chúng sinh gây nghiệp vì cứ muốn cái được thấy và cái được nghe phải thế này hay cái kia. Bởi vì, tâm phân biệt cho rằng phải thế này mới phải (thiện, đẹp), khi đã thế kia là trái (ác, xấu). Tất cả những tâm đó sẽ làm chúng ta loạn tâm.

Trong Kinh Bahiya Sutta, Đức Phật nói rằng hãy để cho cái được thấy là cái được thấy, cái được nghe là cái được nghe... thì nơi đó là giải thoát.

Tất cả những cái được thấy và được nghe là gì? Thí dụ, khi chúng ta nghĩ về một người bạn cũ chúng ta từng gặp, từng nói chuyện, hay từng nghẹ bạn này hát ca... Luôn luôn chúng ta nghĩ về bạn này trong một khuôn thời gian nào đó và trong một không gian nào đó. Như hình ảnh bạn này thời 20 tuổi, hay 30 tuổi, hay 70 tuổi... và trong một không gian, như khi bạn này ngồi trong quán cà phê với mình, hay cùng đi chùa với mình... Đức Phật dạy rằng, hãy buông sạch tất cả mọi chuyện trong khuôn thời gian, bất kể là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Khi bạn xóa sạch ký ức đó, xóa cả mơ tưởng của tương lai, buông sạch tất cả những gì đang thấy và nghe hiện tại, thì đó là giải thoát.

Trong Kinh Pháp Cú, bài Kệ 348 ghi lời Đức Phật dạy là hãy buông bỏ quá khứ, hiện tại, vị lai thì sẽ qua được bờ giải thoát:

 

348. “Bỏ quá, hiện, vị lai,

Đến bờ kia cuộc đời,

Ý giải thoát tất cả,

Chớ vướng lại sanh già.”

 

Khi Đức Phật nói xong bài Kệ 348, chàng nghệ sĩ gánh xiếc Uggasena đang đứng làm trò xiếc trên cây sào cao liền tức thời đắc quả A la hán. Khi nói buông bỏ cả ba thời, chỉ có nghĩa là thấy cả ba thời là không, thì tâm sẽ không dính mắc nữa.

Trong đoạn trên của Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, có nói tới “Tây Ngưu Hạ Châu có Phật Vô Lượng Thọ... có con người ấy, không sao mà diệt được.”

Quý ngài chỉ muốn nói rằng Phật Vô Lượng Thọ là một pháp vô vi, một pháp bất sinh và bất diệt. Nói vô lượng thọ là chưa từng sinh và chưa từng diệt. Nếu không có pháp vô vi này thì không thể giải thoát. Chúng ta hãy hình dung, khi chúng ta thấy và nghe thì gương tâm chúng ta hiện ra vô số ảnh hình và tánh nghe chúng ta nhận ra vô số âm thanh. Tất cả ảnh hình hiện ra rồi biến mất. Tất cả âm thanh tới bên tai rồi biến mất. Chúng ta không níu kéo được. Đó là những khoảnh khắc của tâm nơi điểm tiếp giáp như hạt đậu nhỏ xoay trên đầu mũi kim. Ảnh hình trôi đi, nhưng tánh phản chiếu của gương tâm vẫn không biến mất, và tánh nghe vẫn thường trụ. Cảnh sinh rồi diệt, nhưng tánh nhận biết vẫn không suy xuyển.

Hãy nhớ rằng, giải thoát không có nghĩa là vào hư vô. Đức Phật đã nhiều lần chỉ trích thuyết đoạn diệt (đoạn kiến, hư vô), và ngài cũng chỉ trích thuyết thường kiến. Ngài chỉ nói rằng một một pháp vô sinh, không sanh, và không diệt. Và nếu không có pháp vô vi này, thì không thể có giải thoát. Trong Kinh Udana 8.3, Đức Phật dạy rằng, nơi đây chúng ta dịch như sau:

Này các Tỳ kheo, có một cái không sanh, không trở thành, không bị tạo thành, vô vi (không bị điều kiện). Này các Tỳ kheo, nếu không có cái không sanh, không trở thành, không tạo thành, không bị điều kiện đó, thì các ông không thể biết được sự giải thoát khỏi cái sanh, cái trở thành, cái bị tạo thành và cái bị điều kiện ở đây. Nhưng vì có một cái không sanh, không bị trở thành, không bị tạo thành, không bị điều kiện, do đó các ông biết được sự giải thoát ra khỏi cái sanh, cái trở thành, cái bị tạo thành và cái bị điều kiện.” (hết dịch)

Thiền Tông gọi pháp vô vi đó là Tính, hay Tánh. Nơi đây, quý ngài Ngô Thì Nhậm gọi pháp vô vi đó, cái bất tử đó, cái Niết Bàn đó chính là cái mãi mãi ở trong khoảng trời đất, ngàn muôn đời không bao giờ tắt. Chúng ta cũng gọi đó là Pháp. Mặt khác, Kinh Lăng Nghiêm phân tích rằng, đừng gọi đó là cái gì tách biệt: bởi vì chính phiền não cũng là Niết Bàn. Bởi vì sóng không lìa nước, ảnh không lìa gương.

Ngay khi bạn thấy ảnh hình hiện ra nơi gương tâm, bạn sẽ thấy rằng ảnh hình không lìa tánh phản chiếu, nghĩa là, toàn Tướng tức Tánh. Và toàn Tánh tức Tướng. Ngay khi bạn nghe một âm thanh, bạn sẽ có thể trực nhận rằng âm thanh không rời Tánh nghe, và ngược lại. Thấy như thế, là thấy rằng, Niết Bàn chính là ngay ở đây, ngay giây phút này, ngay khi bạn thấy và nghe mà không níu kéo hay chống chọi tất cả những gì bạn thấy và nghe.

 

THAM KHẢO:

. Kinh AN 4.14. Đừng nắm giữ tướng chung, tướng riêng:

https://suttacentral.net/an4.14/vi/minh_chau

. Kinh Udana 8.3, bản Anh dịch Bhikkhu Ānandajoti:

https://suttacentral.net/ud8.3/en/anandajoti

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/02/2025(Xem: 6703)
Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về, gợi nhớ lại những năm tháng lao lý. Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.
03/02/2025(Xem: 5824)
Nói một cách nôm na dễ hiểu là không sợ hãi, nhìn thời cuộc phát triển hay suy tàn mà lòng không sợ sệt. Vô bố úy là hạnh, là pháp tu, pháp thí ngôn ngữ văn tự nghe thì dễ nhưng thực hành chẳng hề dễ tí nào. Thế gian dễ được mấy ai? Các ngài viết được, nói được và làm được. Phật môn xưa nay đời nào cũng có. Phật giáo cũng như thời vận quốc gia lúc suy lúc thịnh, lúc hưng lúc mạt. Các ngài chẳng những tự thân vô úy mà còn bố thí vô úy, dạy người vô úy, truyền cái tinh thần vô úy đến mọi người, mọi loài. Còn chúng ta học được, cảm nhận được, thọ nhận được bao nhiêu là tùy thuộc vào phước đức, căn cơ và bản lãnh của mỗi cá nhân.
01/02/2025(Xem: 5931)
Trong giao tiếp xã hội, chúng ta thường nghe những hình thức khen và chê. Có người tự khen mình học giỏi, kinh doanh thành công, và rồi chê người khác học kém, kinh doanh thất bại. Đôi khi trong tứ chúng của Phật giáo cũng có người suy nghĩ rằng: "Tôi giỏi, người khác kém." Đừng nghĩ như thế. Đức Phật dạy rằng người tu hãy lo tu theo đúng chánh pháp, và đừng khen mình hay chê người.
01/02/2025(Xem: 6647)
Lại một mùa Xuân Ất Tỵ trở về trong những ngày cuối đông Giáp Thìn, nhìn thấy chính mình trong vạn nẻo nhân duyên, để từ đây ta vui chơi trong cõi đời sanh tử. Năm cũ đã bước sang, ta nhìn sâu vào trong tâm thức, các thiên tai cướp đi bao muộn phiền khiến cho con người điêu linh trong từng hơi thở. Vì chiến tranh tàn khốc trên thế giới, khiến xung đột từng hệ tư tưởng, hạn hán cháy rừng, thiên tai bão lụt, cướp mất bao tính mạng con người. Từ lòng tham bên trong khởi hành, tạo ra bao nhiêu oán trách, để chính chúng ta bị nhiều khổ đau.
28/01/2025(Xem: 8627)
Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng-Ni cùng các huynh đệ đồng môn pháp lữ. Kính thưa toàn thể quý Phật tử và thân bằng quyến thuộc trong và ngoài nước! Sư Cô Thích Nữ Diệu Phước, thế danh Phan Thị Niềm ( Mẫu thân của chúng con/chúng tôi), sinh năm 1940 và mãn duyên trần lúc 15 giờ 40 phút ngày 21 tháng 1, 2025 (nhằm ngày 22 tháng 12 năm Giáp Thìn), thọ thế 85 tuổi.
26/01/2025(Xem: 13954)
CHIA SẺ PHẬT PHÁP: TẠO PHƯỚC BẰNG TẤM LÒNG và HỌC ĐỨC KHIÊM TỐN. Âm Đức và Dương Đức: Xin mời quý vị đọc những đoạn thơ bên dưới và cùng chúng tôi cố gắng thực tập:
26/01/2025(Xem: 7097)
NGÀY XUÂN NHỚ VỀ KỶ NIỆM BÀI CA CỔ: “ LỜI NGUYỆN CẦU TRÊN ĐẤT NƯỚC VẠN XUÂN” Trong những ngày cả nước đang náo nức, rộng rã chuẩn bị đón mùa xuân mới, Xuân Ất Tỵ 2025 - Phật lịch 2568. Là một người con Phật, yêu Dân Tộc, yêu Đạo Pháp thiết tha từ những ngày ấu thơ và trưởng thành qua các đoàn thể thanh niên Pht giáo thuần túy, cho đến tận hôm nay; đóng góp cho thành quả chung qua khả năng chuyên môn, nhất định của mình. Do vậy trong long người viết cũng rộng ràng với mùa xuân không kém, đặc biệt với khía cạnh lịch sử Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam (PGVN) , điều đó càng trở nên sâu đậm, nhiều ý nghĩa hơn.
25/01/2025(Xem: 8777)
Tôi sinh ra đời khi Thế chiến thứ hai bắt đầu bùng nổ tại Âu châu. Thế nhưng tại một tỉnh lỵ nhỏ bé tại miền Nam trên quê hương tôi, nơi tôi sinh ra đời, thì người dân vẫn sống yên lành. Thật ra gốc gác của gia đình tôi ở thật xa nơi này, tận miền Bắc. Cha tôi là một công chức trong chính quyền thuộc địa, được thuyên chuyển về cái tỉnh lỵ này một năm trước khi tôi ra đời. Tuy thế, khi lớn lên tôi vẫn cứ xem cái tỉnh lỵ bé tí xíu đó là cả một góc quê hương gần gũi và thân thiết nhất đối với tôi, nơi mà người ta chôn buồng nhau của mẹ tôi và cái cuống rốn của tôi.
25/01/2025(Xem: 6457)
Xuân về, mong đời một cõi an nhiên! Ngày 25 tháng chạp, khi Trời còn nặng hơi sương, tôi thức dậy sớm để cùng gia đình chuẩn bị tảo mộ ông bà, một phong tục thiêng liêng của người Việt Nam. Buổi sáng, tôi theo dì đi chợ, chợ hôm nay đông hơn mọi ngày, không khí Tết đã về trên những nẻo đường, tấp nập và nhộn nhịp. Sau khi đi chợ về, cậu làm một mâm cơm để cúng, xin ông bà cho phép cháu con được động vào mồ mả, rồi tôi và người trong gia đình bắt đầu quét dọn, nhổ cỏ, lau mộ, những nén nhang trầm tỏa làn khói ấm làm cho không gian nơi yên nghỉ của ông bà tổ tiên càng trở nên linh thiêng, ấm cúng.
25/01/2025(Xem: 5867)
Từ đâu có tham, sân, sợ hãi, niệm? Nguyên Giác Trong Thiền Tông thường nói rằng khi ngọn đèn sáng thắp lên, thì bóng tối của vô lượng kiếp sẽ biến mất. Hình ảnh đó còn được giải thích là, khi người tu thấy được ánh sáng của bản tâm, nơi không có gì được bám víu, thì vô lượng nghiệp xấu đều biến mất. Kinh điển giải thích điểm này thế nào?