Tụ Tán Vô Kỳ

04/06/202510:24(Xem: 3832)
Tụ Tán Vô Kỳ

TỤ TÁN VÔ KỲ

 lotus_painting 3

Dòng đời xưa nay vẫn thế, từng đời từng đời nối tiếp nhau, thịnh suy bất định, tụ tán vô kỳ. Kiếp người ở thế gian này trong vòng trăm năm, tuy nhiên thật sự “sống” chỉ vài mươi năm, còn lại phần lớn là thời gian của tượng hình, trẻ nít, bệnh tật, già nua… Có không ít người càng kéo dài tuổi thọ lại càng đau khổ: Đau khổ vì thể xác và cả tinh thần, sống không xong chết không được. Kiếp người ở thế gian này buồn vui lẫn lộn nhưng phần nhiều là buồn hơn vui. Suốt trăm năm ấy sum họp và chia ly cũng khó ai biết trước, sinh ly tử biệt là nỗi đoạn trường ai cũng phải qua. Muốn không được mà không muốn cũng không xong.

Đời có những cuộc sinh ly rất buồn đau. Tô Vũ chăn dê là một tích sinh ly nổi tiếng trong sử Tàu. Vô số thân phận sinh ly vì Nam – Bắc phân tranh thời Trịnh – Nguyễn. Ngay cả cuộc nội chiến Bắc – Nam hiện đại cũng thế, bao nhiêu con người, bao nhiêu gia đình sinh ly suốt mấy mươi năm ròng. Những cuộc sinh ly tuy buồn thảm nhưng vẫn còn le lói cái hy vọng tái ngộ. Còn khi đã tử biệt thì vĩnh viễn phân kỳ. Làm con người ở đời có thể tránh được sinh ly vì phước phần nhưng không ai tránh được tử biệt. Tử biệt là chắc chắn nhất, trên đời không có chi tuyệt đối nhưng cái chết là tuyệt đối. Ai rồi cũng phải chết!

Sinh thời tụ tán, chết lại biệt ly. Vì duyên mà tứ đại và thần thức tụ lại thành người và rồi cũng vì duyên mà tứ đại phân ly, thần thức đi vào một cảnh giới tương ưng với tam nghiệp đã tạo tác. Dòng họ quần tụ, gia đình sum họp, ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng, anh em… gặp nhau một thời gian rồi lại chia ly, ai theo nghiệp nấy. Chẳng có ai mãi mãi bên nhau, dù có thương yêu ra rít, dù có mòn mỏi mong chờ… nhưng một khi duyên tan thì phải chia lìa.

Tụ tán vô kỳ chính là biểu hiện cụ thể của luật vô thường. Phật nói pháp, chỉ ra sự thật của thân, tâm và thế giới. Phật nói cái chân lý (tuyệt đối hay tương đối tùy thuộc vào căn cơ của đối tượng). Phật nói về cái khổ của kiếp người ba khổ, tám khổ, 108 khổ, tám vạn bốn ngàn khổ) khiến nhiều người cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế. Sự thật không phải vậy, Phật nói ra hay không nói ra thì ta vẫn khổ. Khi Phật nói ra chẳng vì bi quan mà vì đại bi. Nói sự thật để ta biết, để ta chấp nhận sự thật và theo phương pháp Phật để thoát khổ. Ái biệt ly khổ là một cái khổ tinh thần trong tám khổ. Người ở thế gian này ai cũng chìm đắm tuy nhiên mức độ nặng nhẹ khác nhau. Thương nhau mà sa vào cảnh sinh ly tử biệt thì đau lắm, buồn lắm, buồn đau đến đứt ruột (đoạn trường). Nhân duyên và phước phần như thế thì không thể nào cưỡng lại được.

Hành trình sinh tử tử sinh của mỗi con người đã trải qua vô số lần sinh ly tử biệt, một khi còn sanh tử luân hồi thì ắt còn sinh ly tử biệt, nước mắt còn rơi, nội tâm còn dậy sóng, lòng còn nhiều nỗi “đoạn trường”.

Vì sao mình phải chịu sinh ly tử biệt? vì vô thường là thế, vì nhân duyên tụ tán vô kỳ là thế. Dông dài hơn thì là do tiền nghiệp xấu của mình, ví như đã từng: ly gián, gây chia rẽ, phóng hỏa đốt nhà, phá tổ bắt chim, giết hại sanh linh…Chúng ta chỉ thấy cái hậu quả và chịu đựng cái hậu quả còn cái nguyên nhân thì không làm sao biết được, vì chúng ta mê mờ, vì chúng ta không có ngũ nhãn lục thông.Thế gian này có vô số thảm cảnh sinh ly tử biệt, bởi vậy mà đức Phật từng nói nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển. Thế gian này cũng có nhiều người vì phước báo mà trọn đời sống trong sum họp ấm êm, tuy có tránh được sinh ly nhưng tử biệt thì vô phương, thọ mạng có ngắn dài nhưng cuối cùng cũng đều tử biệt.

Đêm nay, trên con tàu này, gã du tử ngồi trầm ngâm lòng tha thiết vô hạn. Dẫu biết sinh ly tử biệt là lẽ thường, tuy nhiên học Phật không phải để biến mình thành vô tri như gỗ đá. Tâm hồn gã du tử đang dậy sóng, đang nhìn xem và chiêm nghiệm về sự biến hoại, về cái lý tụ tán vô kỳ. Mới ngày nào ba má trẻ trung khỏe mạnh vậy mà giờ suy yếu, bệnh tật hom hem. Mới ngày nào gia đình sum họp đầm ấm, vậy mà giờ anh em chia lìa ly tán xa xôi nghìn trùng. Sinh ly đã và đang trải qua, tử biệt cũng đang đến. Ngoài căn bệnh già nua lão hóa ra trong thân phụ mẫu còn mang những căn bệnh khác nữa. Tiếng tàu xình xịch trong đêm trường, tiếng lòng thổn thức như cứa ruột gan. Dã du tử vận dụng những lời dạy của đức Thế Tôn để ngăn dòng lệ, để tự an cho chính tâm mình. Biết làm sao được? quy luật là thế, không một ai có thể tránh khỏi, cho dù đó là người quyền uy tuyệt đối, giầu sang cực điểm hay là người bần hèn thấp kếm nhất trong xã hội. Ngay cả các vị trời khi phước báo hết thì năm tướng suy hao cũng hiện ra và cũng phải sinh ly tử biệt như thường.

Con tàu rì rầm lao trong bóng đêm cứ như thể chính mình đang miệt mài chạy trên cung đường sanh tử. Con tàu rồi sẽ đến đích và mình rồi thì cũng đến đích cuối cùng. Con tàu có nhà ga để đến còn chúng ta thì có thập pháp giới để đến. Nói thì hay vậy chứ hầu hết chúng ta đều lăn lộn trong vòng tam đồ lục đạo chứ dễ gì thăng được bốn cõi trên. Chỉ có những vị nào tu hành như lý như pháp thì mới có tấm vé về bốn cõi trên. Mấy trăm con người trên chuyến tàu đêm này, chí ít cũng có chung một quãng thời gian cộng nghiệp trên con tàu. Cùng là hành khách, cùng đi về ga cuối nhưng có người đang đi dến gặp gỡ sum họp, có người lại đang trên bước đường sinh ly… Mỗi quãng đường đi qua, nỗi buồn và niềm vui của những hành khách trên tàu cũng biến động theo thọ nhận và tưởng.

Bản thân con tàu cũng là một sự tụ hợp của vô số nhân, nào là: sắt, thép, kiếng, cao su, sức người, lửa…Con Tàu ngày đêm ngược xuôi trên con dường ngàn dặm. Con tàu cũng hư hao hỏng hóc như con người bệnh tật suy hao. Con tàu rồi cũng sẽ hết hạn sử dụng như con người già nua suy kiệt. Tụ đấy rồi tán đấy, thế gian này tất cả đều tụ tán vô kỳ, vì duyên mà tụ thì cũng vì duyên mà tán. Con tàu và hệ thống nhà ga, đường sắt xứ mình còn ngái ngủ ở thế kỷ 19, vô cùng cũ kỷ, ọp ẹp, dơ dáy, lạc hậu…Có lẽ vì phước phần như thế, nghiệp như thế, nhân duyên quả báo như thế tương ưng với nhau. Chánh báo và y báo tương ưng với nhau. Người Âu – Mỹ, Người Hàn, Nhật, Singapore…có phước báo lớn hơn nên sống trong môi trường giàu có, xã hội văn minh, chính trị minh bạch, dân chủ - tuj do, kinh tế và khoa học phát triển cao độ, môi trường tự nhiên tươi tốt… nên họ hưởng được nhiều phúc lợi lớn. Tuy nhiên cái khổ về sinh ly tử biệt thì chẳng thể nào tránh được. Sinh ly tử biệt là cái khổ của kiếp người, biết để mà tự mình an, biết để mà chấp nhận cái sự thật, biết để mà khỏi phải sốc hay quá bất ngờ. Sinh ly tử biệt là một phần trong đời sống của mỗi con người. Sinh ly tử biệt là sự vô thường vẫn thường trực trong từng phút giây.

Tiểu Lục Thần Phong

Sài Gòn, 0625

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/12/2020(Xem: 13439)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.
20/12/2020(Xem: 10489)
Trong một thời khắc lịch sử, cả nước đã chứng kiến sự hội tụ của quá khứ, hiện tại và tương lai khi ba thế hệ của triều đại Wangchuck, Vương quốc Phật giáo Buhtan đến viếng thăm khu đất của Pungthang Dewachhenpoi Phodrang vào ngày hôm 16 vừa qua. Lễ Kỷ niệm 113 năm Quốc khánh Vương quốc Bhutan, được tổ chức bên trong Punakha Dzong “Cung điện Hạnh Phúc”, từng là nơi ngự của Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel đáng tôn kính hơn 400 năm trước, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.
20/12/2020(Xem: 11163)
Matxcơva, ngày 15 tháng 12: Hội nghị Bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Đối thoại các Tôn giáo trong Thế giới hiện đại, Dialogue of Religions in Modern World“ do Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu Học thuật về Cơ đốc giáo phương Đông (INaSEC) đồng tổ chức tại Khoa Tôn giáo và Thần học (FRT) thuộc Đại học Vrije Amsterdam và Đại học Chính thống Cơ đốc giáo, Nga nhân danh Thánh John Divine.
19/12/2020(Xem: 12682)
Cơ quan Chính quyền Trung ương Tây Tạng lưu vong (CTA) cho biết, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen, vị học giả Phật giáo Tây Tạng đã viên tịch, xả báo thân tại tu viện Gaden Jangtse, miền nam Ấn Độ, theo truyền thông cho hay, Ngài đã “Chết lâm sàng” đến nay gần 1 tháng (26 ngày), nhưng thi thể vẫn không phân hủy. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo và Văn hóa thuộc (CTA) cho thấy rằng, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen đã đi vào trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là thukdam (Tib: ཐུགས་ དམ་).
19/12/2020(Xem: 10908)
Tòa nhà Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan, thủ đô Thimphu, Bhutan. Hôm thứ Năm, ngày 10 tháng 12 vừa qua, cả hai Nghị viện Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan đã thông qua dự luật hợp pháp hóa các mối quan hệ đồng tính, biến Vương quốc Himalaya nhỏ bé trở thành quốc gia châu Á mới nhất thực hiện các bước, nhằm nới lỏng các hạn chế đối với các mối quan hệ đồng giới. Trước đó, mục 213 và 214 của bộ Luật Hình sự Vương quốc Phật giáo này quy định xu hướng “Tình dục trái với tự nhiên”, được hiểu rộng rãi là đồng tính luyến ái – không được phép.
19/12/2020(Xem: 8516)
Ngày 10 tháng 12 vừa qua, theo Bình Nhưỡng đưa tin (KCNA) – Trong số những Di sản Văn hóa quý giá đất nước Triều Tiên có “Cao ly Bát Vạn Đại Tạng kinh” (고려 팔만 대장경, 高麗八萬大藏經, 80.000 Wooden Blocks of Complete Collection of Buddhist Scriptures” được khắc mộc bản vào nửa đầu thế kỷ 11, triều đại Vương quốc Koryo (918-1392).
19/12/2020(Xem: 8514)
Lối xưa người đến dạo chơi, Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao. Thênh thang mây trắng hôm nào, Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.
13/12/2020(Xem: 12975)
Một học giả nổi tiếng người Anh, làm việc cho trường đại học ở Luân Đôn, nổi tiếng vì ông đã dịch một số sách vở Phật giáo từ tiếng Hoa. Trong số những ấn bản đã in của ông có tác phẩm “Cuộc Đời của Thánh Tăng Huyền Trang, The Life of Hsuan-Tsang”. Cư sĩ Samuel Beal sinh vào ngày 27 tháng 11 năm 1825, nguyên quán tại Greens Norton, một ngôi làng ở Nam Northamptonshire, Vương quốc Anh, vị học giả nổi tiếng Phương Đông học, vị Phật tử người Anh đầu tiên trực tiếp dịch những tác phẩm văn học Phật giáo từ tiếng Hoa sang Anh ngữ, ban đầy những ghi chép kinh điển Phật giáo, do đó góp phần làm sáng tỏ lịch sử Ấn Độ.
11/12/2020(Xem: 12655)
Phật giáo Hàn Quốc phải chịu đựng nỗi đau chưa từng có của “Pháp nạn 27.10” (10·27 법난, 十二七法難), nhưng chư tôn tịnh đức tăng già đã biến đau thương thành sức mạnh. Chẳng bao lâu, nỗi đau ấy đã thăng hoa thành động lực để sớm hồi sinh trong phúc lợi xã hội, và những thành tựu đáng kể bắt đầu đạt được trong các lĩnh vực xã hội dân sự, thông qua tổ chức phi chính phủ (NGO), nhân quyền, giao lưu liên Triều (Nam Bắc Hàn) và phúc lợi xã hội.
11/12/2020(Xem: 13452)
Mối quan hệ giữa Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc được minh họa rõ nhất qua lời của tác giả, nhà báo, nhà sử học và nhà tây tạng học, Cư sĩ Claude Arpi, người Pháp, người đã viết một loạt các tác phẩm quan trọng về Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc, bao gồm “Số phận Tây Tạng: Khi Những Côn trùng lớn ăn thịt Côn trùng bé; The Fate of Tibet: When the Big Insects Eats Small Insects”.