Đối Với Trò Đời

24/05/202513:05(Xem: 3499)
Đối Với Trò Đời

Đối Với Trò Đời

Tác giả: Viên Âm

Dịch giả: Nguyên Giác
VIEN AM 21 Doi Loi-2

 

     (Lời người dịch: Bài này trích từ Viên Âm Nguyệt San, số 21, tháng 5 và 6, năm 1936. Tác giả là Viên Âm, được suy đoán có lẽ là Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bài này kể chuyện một viên quan đời Vua Tự Đức, chỉ ra tánh vô thường và tánh vô ngã trong kiếp người. Đối với nhà Phật, hễ nhận ra tánh vô thường thường trực nơi thân tâm là đủ để giải thoát, không cần tu pháp gì khác nữa. Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cùng từng có bài thơ, nói rằng muốn vượt qua dòng sông sinh tử để tới bờ giải thoát, thì hãy xem thân tâm như con trâu bùn qua sông, tan vào dòng sông.

        Trong Kinh Pháp Cú, truyện về bài kệ 277 ghi rằng, khi 500 vị sư nhận đề tài thiền định xong, vào rừng ngồi tu hoài không tới đâu, nên về bạch Phật. Sau khi suy ngẫm, Đức Phật thấy rằng những vị sư đó, trong thời của Đức Phật Kassapa, đã thiền định về vô thường. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng hãy dùng trí tuệ nhìn thấy tất cả các hiện tượng hữu vi đều chuyển biến, sinh rồi diệt và đó là vô thường. Đức Phật nói xong, 500 vị sư chứng quả A La Hán.

Tương tự với truyện về bài Kệ 279 trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật quán sát thấy 500 vị sư khác trong thời quá khứ từng thiền định về vô ngã, nên Đức Phật nói rằng tất cả các hiện tượng đều không có tự ngã; dùng trí tuệ quán sát như thế sẽ giải thoát. Đức Phật nói xong, 500 vị sư chứng quả A La Hán. Tương tự, Kinh SN 12.70, và Kinh SA 347 ghi rằng thấy vô ngã thường trực là giải thoát. Khi thấy vô thường, hay khi thấy vô ngã, là tâm sẽ không còn chỗ nào để trụ, và đó là giải thoát. Xuyên suốt vô lượng kiếp từ chúng sinh tới giải thoát, vẫn có một pháp vô vi để chúng ta dựa vào đó mà giải thoát: cái tánh biết. Không có tánh biết, sẽ không có tỉnh thức, sẽ không có trí tuệ. Nếu không có pháp vô vi này, chúng ta sẽ là cục gạch, cục đá. Bài của báo Viên Âm như sau.)

.... o ....

 

      Về đời đức Tự-Đức, một ông cử ở nhà quê mới đỗ Tấn-sĩ, nhờ văn hay chữ tốt được vua ban khen và cho chầu xem bát bội trong Duyệt-thị. Vua lại ban cho được phép cầm trống chầu thưởng cho con hát. Vở tuồng hôm ấy là vở tuỗng "Tống-Nhạc-Phi". Người kép hát sắm vai Tần-Cối rất đúng mực, nịnh từ giọng cười tiếng nói cho đến chưng tay bộ dạng, làm cho ông Tấn-sĩ mới tưởng thiệt, nổi giận đùng đùng, cầm roi chầu xông vào sân-khấu đập tên kép hát lổ máu óc. Các quan lên can mà ông còn hết sức dằng xé, quyết đánh cho chết thằng nịnh là thằng Tần-Cối.

Một hồi lâu, ông mới tỉnh lại, biết là tuồng hát thì hối hận vô cùng, cất mão đi chân đến phục tội trước Ngai rồng. Đức Tự-Đức biết ông là người quê mùa và thương tài học của ông nên cũng rộng lòng tha thứ. Tuy ông Tắn-sĩ mới được vua tha tội, song trong bạn đồng-liêu, ông đã mang tiếng là một người không biết chuyện, nhận giả làm thiệt.

     Đối với trò đời, hạng người như ông Tấn-sĩ mới kia số kể không xiết, chỉ tiếc rằng không biết sớm tự tỉnh như ông ấy thôi.

Chúng ta vì vô minh nghiệp-chướng luân-hồi mãi mãi trong sáu đường, hết thân này đến thân sau, nào khác chi một anh kép hát đóng tuồng trên sân-khấu. Khi thì làm đàn-bà, khi thì làm đàn-ông, khi thi làm thiên-thần, khi thì làm quỉ-súc, đóng vai nào thì theo vai ấy, cũng vui cũng khổ, cũng khóc cũng cười, mà rốt cuộc có cái thân nào chắc là thân của mình đâu. Trong đường luân-hồi, chúng ta đã đóng biết bao nhiêu vở tưồng, chỉ vì chúng ta mê lầm không biết là chúng ta đóng tuồng nên khi chúng ta đóng vai Tần-cối cũng tự nhận minh là Tần Cối, đóng vai Nhạc- Phi cũng lự nhận minh là Nhạc - Phi, gặp thuận -cảnh cũng hớn hỡ kiêu-căng, gặp nghịch-cảnh cũng khóc than buồn giận, không lúc nào biết tự tỉnh.

Vây đối với trò đời, so với những anh kép hát tự biết mình giả sắm vai tuồng, chúng ta thua đã đành; mà so với ông Tấn-sĩ mới đã sớm biết tự tỉnh kia, chúng ta cũng còn thua nhiều lắm.

     Nhơn-sanh giả dổi, thế-sự vô-thường, nếu chúng ta giác-ngộ được cái trò đời, thì đổi với chúng ta, vui cũng không phải thiệt vui, buồn cũng không phải thiệt buồn, giàu sang không phải thiệt giàu sang, nghẻo hèn không phải thiệt nghèo hèn, dầu đóng vai gì đi nữa mà ta vẫn là ta, không bao giờ thay đổi.

Cái tánh không thay đổi đó là cái gì, xin ai ai hãy gắng mà nhận cho rõ.

VIÊN - ÂM

.... o ....

The Drama of the World

Author: Viên Âm

Translator: Nguyên Giác

 

(Translator's Note: This article is excerpted from Viên Âm Nguyệt San, issue 21, published in May and June 1936. The author is Viên Âm, presumably Layman Tâm Minh Lê Đình Thám. The article narrates the story of an official during the reign of King Tự Đức, emphasizing the impermanent and non-self nature of human existence. For Buddhists, recognizing the ever-present impermanence within the body and mind is sufficient for liberation, without the necessity of practicing any other dharma. Tuệ Trung Thượng Sỹ also composed a poem stating that if one wishes to traverse the river of birth and death to reach the shore of liberation, they should regard the body and mind as a mud buffalo crossing the river, ultimately dissolving into the water.

In the Dhammapada, the story associated with verse 277 recounts that after 500 monks received instruction on meditation, they retreated to the forest to practice for an extended period without experiencing any progress. Consequently, they returned to report their lack of advancement to the Buddha. Upon reflection, the Buddha recognized that these monks had previously meditated on impermanence during the time of Kassapa Buddha. Therefore, he taught that practitioners should employ wisdom to perceive that all conditioned phenomena are subject to change: they arise and eventually cease, which is the essence of impermanence. After the Buddha concluded his teaching, all 500 monks attained Arhatship.

Similarly, in verse 279 of the Dhammapada, the Buddha observed that 500 monks in the past had meditated on the dharma seal of non-self. He stated that all phenomena lack a permanent self; those who cultivate wisdom to observe this truth will attain liberation. After the Buddha finished speaking, all 500 monks achieved Arhatship. Likewise, the SN 12.70 Sutta and the SA 347 Sutra record that perceiving everything as non-self leads to liberation. When one recognizes impermanence or the absence of a self, the mind finds no attachment, which is the essence of liberation. Throughout countless eons, from being a sentient being to achieving liberation, there remains an unconditioned dharma upon which we can rely for our liberation: the nature of awareness. Without the nature of awareness, there can be no mindful awakening and no wisdom. In the absence of this unconditioned dharma, we are akin to bricks or stones. The article by Viên Âm is as follows.)

.... o ....

During the reign of Emperor Tự-Đức, a newly appointed mandarin from the countryside, who had just passed the doctoral exam, was praised by the king for his exceptional writing skills and was granted the opportunity to watch a play in Duyệt-thị. The king also permitted him to play the drum as a reward for the actor's performance. The play that day was titled Tống-Nhạc-Phi. The actor portraying Tần Cối delivered an outstanding performance, captivating the court with his laughter, speech, and gestures. The new mandarin became so engrossed in the performance that he believed it to be real. Enraged, he seized a whip and rushed onto the stage, intending to beat the actor until he bled. Other mandarins attempted to intervene, but he remained resolute, determined to punish the flatterer, Tần Cối, to the point of death.

After a prolonged period of introspection, he regained his composure and, upon realizing the charade, experienced a profound sense of remorse. He removed his crown and went to confess his transgressions before the king. King Tự-Đức, recognizing his humble origins and admiring his talent, chose to forgive him. However, despite the king's pardon, his peers already regarded the new doctor as an ignorant individual who mistook falsehood for truth. In life, there are countless individuals like that new mandarin. It is unfortunate that many people do not learn to awaken as early as he did.

Due to ignorance and karma, we are perpetually reincarnated through the six realms, transitioning from one body to another, much like an actor performing on stage. At times, we embody women; at other times, men, angels, demons, or animals, each role bringing its own experiences—sometimes joyful, sometimes filled with suffering, and at times, tears. Ultimately, which body truly is ours? In the cycle of reincarnation, we have enacted countless roles, yet our delusion prevents us from recognizing that we are merely acting. When we portray Tần Cối, we believe we are Tần Cối; when we embody Nhạc Phi, we think we are Nhạc Phi. In favorable circumstances, we feel happiness and arrogance; in adverse situations, we cry, lament, and become frustrated, all the while lacking true self-awareness.

 

In the grand theater of life, we often find ourselves defeated and feeling inferior to those actors who are aware they are merely playing a role. This is especially true when compared to the new Mandarin, who already mastered the art of awakening.

Human life is inherently changeable, and worldly affairs are transient. If we gain insight into the dramas of the world, then happiness is not truly happiness, sadness is not genuinely sadness, wealth is not authentically wealth, and poverty is not merely poverty. Regardless of the roles we assume, we remain fundamentally ourselves, unaltered. What is this unchanging essence? I encourage everyone to strive to recognize it clearly.

THAM KHẢO:

. Viên Âm 21: https://phatviet.info/tap-chi-vien-am-nguyet-san-xem-pdf/

. Kinh Pháp Cú, bài kệ 277 và 279, thấy vô thường, vô ngã là giải thoát:

http://www.tipitaka.net/tipitaka/dhp/verseload.php?verse=277

. Kinh SN 12.70, và Kinh SA 347: thấy vô ngã thường trực là giải thoát:

https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau

https://suttacentral.net/sa347/vi/tue_sy-thang

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2010(Xem: 24057)
Phật giáo là một tôn giáo khiêm tốn,chú trọng vào tâm linh và trí tuệ, nhắm vào mục đích giải thoát con người khỏithế giới biến động và khổ đau. Phật giáo không chủ trương tranh giành uy quyền,củng cố thế lực hay bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Vô thường này.
18/09/2010(Xem: 16819)
Nhiều người hỏi tôi, Phật tử nghĩ gì về hôn nhân đồng tính? Vâng, vấn đề này tùy thuộc vào đối tượng mà bạn nói đến. Cách đây vài năm, trong cuộc phỏng vấn với hãng CBC, đức Dalai Lama đã bác bỏ quan hệ đồng tính, khiến ngạc nhiều người cải đạo sang đạo Phật ngạc nhiên. Đôi khi, họ quá dễ dãi cho rằng đạo đức Phật giáo là phù hợp với quan điểm tiến bộ tiêu biểu của họ. Khi cuộc phỏng vấn của người Gia-nã-đại được lên mạng internet, vài người bị choáng và bị rối, nhưng quan điểm của đức Dalai Lama đưa ra không làm ngạc nhiên đối với bất cứ ai lưu tâm theo dõi vấn đề này. Rốt cuộc thì lập trường của ngài vẫn trước sau như một. Tại một hội nghị cách đây 12 năm, khi các lãnh đạo đồng tính gặp đức Dalai Lama ở San Francisco để thảo luận vấn đề cấm Phật tử Tây Tạng phản đối việc đồng tính luyến ái, ngài đã nhắc đi nhắc lại quan điểm truyền thống rằng đồng tính luyến ái là “tà hạnh”
18/09/2010(Xem: 21997)
Phật bảo sáng vô cùng Đã từng vô lượng kiếp thành công Đoan nghiêm thiền tọa giữa non sông Sáng rực đỉnh Linh Phong
17/09/2010(Xem: 19662)
Gốc tiếng Phạn của chữ cà-salà kasaya.Nhưng thật sự chữ kasayatrong tiếngPhạn không có nghĩa là áomà có nghĩa là bạc màu, cáu cặnhay hư hoại. Sách tiếng Hán dịch chữ này là đạm(màu nhạt), trọchay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch là hoại sắc,bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…Tóm lại chiếc áo cà-sacủa người xuất gia tu Phật, của hàng tỳ kheo,…tượng trưng cho những gì nghèonàn, thô sơ, tầm thường, và khiêm nhường nhất. Người đọc, nếu chưa có ý niệm gìvề chiếc áo của một nhà tu Phật giáo, cũng có thể hơi ngạc nhiên khi đọc nhữngđiều vừa nêu trên đây.
10/09/2010(Xem: 78754)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 13435)
Chịu đựng sự nhục nhã và lời thóa mạ là đức tính quan trọng nhất mà mỗi ngươi có thể rèn luyện, bởi vì sức chịu đựng là vô cùng mạnh mẽ, tại vì chỉ một giây phút tức giận là có thể phá hủy hết công đức của cả một đời người.
07/09/2010(Xem: 14163)
Chúng ta chỉ có một địa cầu. Người Phật tử và những người có lương tri trên hành tinh này đều giống nhau, đều khát vọng an bình toàn cầu, như cọng cỏ khát ánh mặt trời, như cá khát dòng sông êm dịu. Thế nhưng, khi chúng ta đứng trên một bình diện nào đó của địa cầu, huớng về khát vọng, chúng ta sẽ thất vọng phát hiện: quả địa cầu này tràn đầy bạo động và bất an, chiến tranh cục bộ, tranh giành quân bị, xung đột địa giới, dân tộc mâu thuẫn, giáo phái phân tranh, chủng tộc kỳ thị, tà giáo ngang ngược, khủng bố đe dọa, buôn chích ma túy, tàn phá môi trường, tài nguyên cạn kiệt, giàu nghèo chênh lệch, tội phạm gia tăng, công chức hủ hóa, HIV hoành hành và vô số bệnh thái sa đọa khác của xã hội loài người. Tất cả đó, dù trực tiếp hay gián tiếp, đã và đang phủ lên một màu sắc u ám, đe dọa đến sự an bình trên quả địa cầu này.
04/09/2010(Xem: 23751)
Tôi được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota) nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ thưa hỏi.
04/09/2010(Xem: 15504)
Đọc xong những câu chuyện của các phụ nữ ở Hoa Kỳ và kinh nghiệm của các vị đối với đạo Phật, chúng tôi đã rất hoan hỷ và xúc động trước những nhận thức sâu xa của họ về cuộc sống, con người và môi trường chung quanh... Những lời dạy của đức Phật vừa nhiệm màu vừa thực tiễn đến làm sao! Những lời giảng dạy ấy đã chữa lành, loại bỏ những khổ đau và đem lại sự bình an, hạnh phúc đến hàng vạn con người trong nhiều thế kỷ qua. Sau đây là các câu chuyện của những phụ nữ người Hoa Kỳ từ các nguồn gốc khắp nơi trên thế giới. Những câu chuyện về hạnh phúc và sự sống trong tỉnh thức của họ qua sự tu tập và trở về với Đạo Phật. Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu và chia xẻ cùng bạn đọc.
02/09/2010(Xem: 12286)
Phiêu linh bao kiếp luân hồi - Phút giây hội ngộ, đời đời khổ đau - Mịt mùng tăm tối lạc nhau- Mang mang sáu cõi lao đao kiếm tìm