Mạn Đà La

12/03/202516:26(Xem: 4038)
Mạn Đà La

mandala-chua-phap-hoa-11

MẠN ĐÀ LA

Đạo Phật hình thành và phát triển suốt 26 thế kỷ qua, dòng Phật sử cũng như thế sử liên lỉ với những thăng trầm biến thiên. Phật giáo truyền đến đâu thì kết hợp với phong thổ, văn hóa, tập quán và căn cơ của người địa phương ấy mà hình thành nên những dòng truyền thừa khác nhau, trong các dòng truyền thừa ấy lại có nhiều tông môn pháp phái khác nhau nữa, tất cả cũng vì căn cơ của con người địa phương. Ngôn từ Phật giáo gọi là khế cơ khế lý. Mật tông hay còn gọi là Kim Cang thừa là một dòng truyền thừa đặc biệt. Mật tông khác với các dòng truyền thừa khác từ y phục, giáo phẩm, pháp khí, phương pháp hành trì và những phương tiện thiện xảo khác. Một trong những phương tiện thiện xảo ấy là Mạn Đà La.

Tiếng Phạn Mạn Đà La có ý nghĩa là vũ trụ trong cái nhìn của bậc giác ngộ, là vũ trụ thu nhỏ, là trung tâm… Theo ý nghĩa của chữ Hán thì là vòng tròn đầy đủ (luân viên cụ túc). Hiểu một cách đơn giản nhất thì Mạn Đà La là đàn tràng bày pháp khí để các hành giả tu tập, trì chú, chú nguyện, tu luyện…Nếu muốn nói cho rõ hết ý nghĩa thì có lẽ phải viết thành sách chứ không thể trình bày trong một bài viết ngắn.


Mạn Đà La là đồ hình biểu tưởng của vũ trụ, của thập pháp giới: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Atula, người, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Thập pháp giới biến hiện từ một tâm. Hạt cải chứa núi Tu Di, Tu Di có hạt cải là vậy!

Mạn Đà La là phương tiện tu tập, hành trì của Phật giáo Tây Tạng, là tác phẩm nghệ thuật cao độ, có tính đối xứng, cân bằng, tuyệt đối chính xác. Khi tiến hành thiết kế Mạn Đà La, hành giả tập trung cao độ, tỉ mỉ, chính xác đến từng li. Thông thường để tạo tác một Mạn Đà La cần đến cả tuần lễ, mỗi ngày làm liên tục theo thời khóa công phu. Thời gian hoàn thành một Mạn Đa La còn tùy thuộc vào mức độ phức tạp của chi tiết hoa văn và kích cỡ. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La, các vị sư làm sẵn cát mịn nhuộm màu, bốn màu cơ bản: xanh, vàng, đỏ, trắng tượng trưng cho bốn hướng Bắc, Nam, Tây, Đông; ngoài ra còn có nhiều màu khác do sự phối màu từ bốn màu căn bản. Các hành giả khi làm sẽ dùng những ống đồng có một đầu loe (để lấy cát) và một đầu có lỗ nhỏ xíu để cát chảy ra, trên thân ống đồng có hàng rãnh và các hành giả cà vào hàng rãnh ấy để cát chảy xuống. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La phải thực hiện nghi lễ rất quan trọng và phải được một vị Guru cho phép. Suốt quá trình kiến tạo cũng là thời gian trì chú, nhiếp tâm, tu tập của các hành giả.

Mạn Đà La có nhiều loại khác nhau như: Thai Tạng Giới Mạn Đà La có ý nghĩa thụ động, tĩnh, tâm đại bi, là lý. Kim Cang Giới Mạn Đà La biểu tượng cho động, trí tuệ viên mãn, là trí. Ngoài ra còn phân biệt theo Đại Mạn Đà La (Maha Mandala) tượng trưng cho Phật, Bồ Tát. Tam muội Mạn Đà La (Samaya Mandala) tượng trưng cho hội chúng và pháp khí. Pháp Mạn Đà La (Dharma Mandala) tượng trưng cho văn tự lý giải. Yết Ma Mạn Đà La (Karma Mandala)

Mỗi một Mạn Đà La là một tác phẩm nghệ thuật cao độ, cực kỳ tinh tế, hết sức vi diệu. Là phương tiện thiện xảo tu học của truyền thống Phật giáo Kim Cang Thừa. Khi chiêm bái hoặc chỉ đơn giản là xem như một tác phẩm nghệ thuật đều gây ấn tượng mạnh đối với mọi người. Đôi khi đại chúng không hiểu biết ý nghĩa của Mạn Đà La nhưng trong tâm thức cũng tự động ghi nhận những dấu ấn Phật pháp. Lòng tôn kính, niềm tin là những điều rất quan trọng trong việc chuyển hóa tâm thức con người.

Mỗi Mạn Đà La như một vũ trụ thu nhỏ. Mỗi Mạn Đà La là một cách biểu thị ý nghĩa khác nhau thông qua những đồ hình, những chi tiết hoa văn, những biểu tượng…Kiến tạo Mạn Đà La để cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng. Kiến tạo Mạn Đà La để cầu quốc thái dân an, phong điều vũ thuận, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Người chiêm bái Mạn Đà La tin tưởng sâu sắc sẽ được sự gia trì của chư Phật, kiên cố tín tâm và bồ đề tâm. Kiến tạo Mạn Đà La và chú nguyện để chúng sanh giải thoát phiền não, sống tỉnh thức, trau dồi trí tuệ và trưởng dưỡng từ bi.

Để kiến tạo Mạn Đà La cần đến 5 hoặc 7 vị sư luân phiên làm liên tục xuyên suốt quá trình. Tất cả các vị sư ấy đều đã trải qua một quá trình tu tập lâu dài, có năng lực cũng như đầy đủ giới đức. Các vị sư này cũng cần có sự chấp thuận và gia trì của một vị Guru. Các vị sư tham gia kiến tạo Mạn Đà La phối hợp nhau rất nhịp nhàng, chính xác, khéo léo, tập trung cao độ. Khi thực hiện Mạn Đà La cũng chính là cách tôi luyện tâm ý, trì chú, niệm kinh…Sau khi Mạn Đà La hoàn thành sẽ để một thời gian ngắn cho đại chúng chiêm bái, trong thời gian Mạn Đà La trưng bày, các sư trì chú liên tục không gián đoạn. Đến ngày cuối cùng thì toàn bộ Mạn Đà La sẽ xóa đi, cả một tác phẩm nghệ thuật công phu cần đến cả tuần lễ để hoàn thành thì chỉ trong giây phút còn lại một nhúm cát màu. Điều này tượng trưng cho cái lý vô thường mà nhà Phật nói đến. Thế gian vô thường, thân tâm ta cũng vô thường, cho đến sơn hà đại địa, vũ trụ vô biên tế kia cũng đều biến hoại vô thường.

Năm nay chùa Hải Ấn có duyên lành được đón tiếp phái đoàn hoằng pháp của chư tăng Tây Tạng. Các vị sư này tỵ nạn ở Ấn Độ và tu tập tại chùa Drepung Loseling, đây là một tự viện lớn có đến hàng ngàn vị sư tuổi từ nhi đồng đến lão niên đang ngày đêm tu tập. Phái đoàn hoằng pháp của chùa Drepung Loseling có chín tuần ở Atlanta và sau đó sẽ đi các tiểu bang khác. Phái đoàn còn có lịch trình hoằng pháp ở Mexico. Một vị sư trong phái đoàn tên Tsewang Punchok vốn xuất gia từ năm 21 tuổi tại chùa Drepung Loseling cho chúng tôi biết các ngài kiến tạo Mạn Đà La Quán thế Âm để cúng dường và cầu nguyện cho khắp pháp giới chúng sanh sống trong trí tuệ và từ bi. Mạn Đà La sẽ để cho Phật tử và đồng hương quanh vùng đến chiêm bái trong một tuần, sau khi hoàn mãn thì Mạn Đà La sẽ được phá hủy và số cát kiến tạo Mạn Đà La sẽ cho Phật tử thỉnh đem về như phước lành.

Có lẽ đây là lần đầu tiên Phật tử quanh vùng được tận mắt chứng kiến những món pháp khí kỳ lạ của Phật giáo Tây Tạng: Kèn dài (Tung Chen), trống dẹp với màu sắc hoa văn rực rỡ (Ngia), những tù và, chùy kim cang…đặc biệt bộ cà sa màu huyết dụ và chiếc mũ vàng (phái hoàng mạo) như mũ của chiến binh La Mã (Mohawk). Khi các sư trì chú, họ vận hơi từ bụng và lồng ngực. Họ giữ hơi nơi cổ họng khiến âm thanh phát ra rền và trầm hùng khiến ngươi nghe chú dù không hiểu cũng cảm nhận tính chất linh thiêng kỳ bí vô cùng. Âm thanh trì chú rền cả Phật điện, nghe âm thanh ấy cứ ngỡ như gió thổi ù ù trên tuyết sơn, lại như sấm rền trên không trung. Khi các sư Tây Tạng trì chú, toàn thân tâm nhập vào câu thần chú, âm thanh như phát ra từ trong định. Thân các sư tại Phật điện nhưng thần thức như ở một cảnh giới khác chứ không phải tại nơi này!

Phật giáo Mật tông Tây Tạng cũng như văn hóa người Tạng còn rất huyền bí và cũng rất nhiệm mầu. Ngày trước, Tây Tạng gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Chỉ có một số hành giả và những nhà thám hiểm thâm nhập vào Tây Tạng mới khám phá ra. Từ ngày Trung Cộng xâm lăng, đức Dalai Lama và hàng triệu dân chúng, tu sỹ phải đi tỵ nạn ở Ấn Độ và nhiều nơi khác, từ đó thế giới mới biết nhiều hơn về Tây Tạng. Đức Dalai Lama và các tu sỹ Tây Tạng đã đẩy mạnh việc truyền bá Phật giáo Mật Tông ra khắp thế giới, đặc biệt nhất là truyền đến Âu – Mỹ. Cũng từ đây mà những Mạn Đà La được kiến tạo ở nhiều nơi để cúng dường cũng như để mọi người chiêm bái. Mạn Đà La không chỉ là phương tiện tu học, phương pháp hành trì mà còn là nét văn hóa đặc thù của văn hóa Tạng, Phật giáo Tạng, Phật giáo Kim Cang Thừa.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0325

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/12/2020(Xem: 10678)
Matxcơva, ngày 15 tháng 12: Hội nghị Bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Đối thoại các Tôn giáo trong Thế giới hiện đại, Dialogue of Religions in Modern World“ do Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu Học thuật về Cơ đốc giáo phương Đông (INaSEC) đồng tổ chức tại Khoa Tôn giáo và Thần học (FRT) thuộc Đại học Vrije Amsterdam và Đại học Chính thống Cơ đốc giáo, Nga nhân danh Thánh John Divine.
19/12/2020(Xem: 12012)
Cơ quan Chính quyền Trung ương Tây Tạng lưu vong (CTA) cho biết, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen, vị học giả Phật giáo Tây Tạng đã viên tịch, xả báo thân tại tu viện Gaden Jangtse, miền nam Ấn Độ, theo truyền thông cho hay, Ngài đã “Chết lâm sàng” đến nay gần 1 tháng (26 ngày), nhưng thi thể vẫn không phân hủy. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo và Văn hóa thuộc (CTA) cho thấy rằng, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen đã đi vào trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là thukdam (Tib: ཐུགས་ དམ་).
19/12/2020(Xem: 10282)
Tòa nhà Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan, thủ đô Thimphu, Bhutan. Hôm thứ Năm, ngày 10 tháng 12 vừa qua, cả hai Nghị viện Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan đã thông qua dự luật hợp pháp hóa các mối quan hệ đồng tính, biến Vương quốc Himalaya nhỏ bé trở thành quốc gia châu Á mới nhất thực hiện các bước, nhằm nới lỏng các hạn chế đối với các mối quan hệ đồng giới. Trước đó, mục 213 và 214 của bộ Luật Hình sự Vương quốc Phật giáo này quy định xu hướng “Tình dục trái với tự nhiên”, được hiểu rộng rãi là đồng tính luyến ái – không được phép.
19/12/2020(Xem: 8176)
Ngày 10 tháng 12 vừa qua, theo Bình Nhưỡng đưa tin (KCNA) – Trong số những Di sản Văn hóa quý giá đất nước Triều Tiên có “Cao ly Bát Vạn Đại Tạng kinh” (고려 팔만 대장경, 高麗八萬大藏經, 80.000 Wooden Blocks of Complete Collection of Buddhist Scriptures” được khắc mộc bản vào nửa đầu thế kỷ 11, triều đại Vương quốc Koryo (918-1392).
19/12/2020(Xem: 8091)
Lối xưa người đến dạo chơi, Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao. Thênh thang mây trắng hôm nào, Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.
13/12/2020(Xem: 12368)
Một học giả nổi tiếng người Anh, làm việc cho trường đại học ở Luân Đôn, nổi tiếng vì ông đã dịch một số sách vở Phật giáo từ tiếng Hoa. Trong số những ấn bản đã in của ông có tác phẩm “Cuộc Đời của Thánh Tăng Huyền Trang, The Life of Hsuan-Tsang”. Cư sĩ Samuel Beal sinh vào ngày 27 tháng 11 năm 1825, nguyên quán tại Greens Norton, một ngôi làng ở Nam Northamptonshire, Vương quốc Anh, vị học giả nổi tiếng Phương Đông học, vị Phật tử người Anh đầu tiên trực tiếp dịch những tác phẩm văn học Phật giáo từ tiếng Hoa sang Anh ngữ, ban đầy những ghi chép kinh điển Phật giáo, do đó góp phần làm sáng tỏ lịch sử Ấn Độ.
11/12/2020(Xem: 12110)
Phật giáo Hàn Quốc phải chịu đựng nỗi đau chưa từng có của “Pháp nạn 27.10” (10·27 법난, 十二七法難), nhưng chư tôn tịnh đức tăng già đã biến đau thương thành sức mạnh. Chẳng bao lâu, nỗi đau ấy đã thăng hoa thành động lực để sớm hồi sinh trong phúc lợi xã hội, và những thành tựu đáng kể bắt đầu đạt được trong các lĩnh vực xã hội dân sự, thông qua tổ chức phi chính phủ (NGO), nhân quyền, giao lưu liên Triều (Nam Bắc Hàn) và phúc lợi xã hội.
11/12/2020(Xem: 13118)
Mối quan hệ giữa Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc được minh họa rõ nhất qua lời của tác giả, nhà báo, nhà sử học và nhà tây tạng học, Cư sĩ Claude Arpi, người Pháp, người đã viết một loạt các tác phẩm quan trọng về Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Quốc, bao gồm “Số phận Tây Tạng: Khi Những Côn trùng lớn ăn thịt Côn trùng bé; The Fate of Tibet: When the Big Insects Eats Small Insects”.
10/12/2020(Xem: 11232)
Trong số nhiều ấn phẩm sách báo, thư từ cũ xưa mà mẫu thân truyền giao cho tôi gìn giữ, bảo quản để làm tư liệu để viết lách sáng tác, tôi tìm thấy được quyến sách “Thi phẩm Từng giọt Ma Ni” (xuất bản năm 1993, bìa sách là tranh của Họa sĩ Phượng Hồng), cùng 02 phong bì thư của “Tạp chí An Lạc” được gửi qua bưu điện từ Sài Gòn ra Nha Trang vào năm 1966, trên các kỷ vật quý hiếm này đều có lưu thủ bút của một bậc danh tăng Phật giáo nước nhà: Hòa thượng Thích Thông Bửu.
10/12/2020(Xem: 11879)
Nữ nghệ sĩ Phật tử Jacques Marchais sinh năm 1887 tại Cincinnati, thành phố ở miền tây nam Ohio, Hoa Kỳ. Thân phụ của bà là cụ ông John Coblentz và mẫu thân là cụ bà Margaret Norman Coblentz. Vốn mồ côi cha từ thuở ấu thơ, mẹ phải vất vả đùm bộc trong cảnh gà mái nuôi con; Jacques Marchais đã đến các trại mồ côi và các mái ấm khác nhau trong suốt thời thơ ấu, và tuổi thanh xuân 16, bà đã trở thành diễn viên tham gia vào một bộ phim Boston Peggy From Paris, nơi bà gặp người chồng đầu tiên Brookings Montgomery. Bà sinh được ba người con, hai gái Edna May và Jayne, và con trai, Brookings.