Mạn Đà La

12/03/202516:26(Xem: 4773)
Mạn Đà La

mandala-chua-phap-hoa-11

MẠN ĐÀ LA

Đạo Phật hình thành và phát triển suốt 26 thế kỷ qua, dòng Phật sử cũng như thế sử liên lỉ với những thăng trầm biến thiên. Phật giáo truyền đến đâu thì kết hợp với phong thổ, văn hóa, tập quán và căn cơ của người địa phương ấy mà hình thành nên những dòng truyền thừa khác nhau, trong các dòng truyền thừa ấy lại có nhiều tông môn pháp phái khác nhau nữa, tất cả cũng vì căn cơ của con người địa phương. Ngôn từ Phật giáo gọi là khế cơ khế lý. Mật tông hay còn gọi là Kim Cang thừa là một dòng truyền thừa đặc biệt. Mật tông khác với các dòng truyền thừa khác từ y phục, giáo phẩm, pháp khí, phương pháp hành trì và những phương tiện thiện xảo khác. Một trong những phương tiện thiện xảo ấy là Mạn Đà La.

Tiếng Phạn Mạn Đà La có ý nghĩa là vũ trụ trong cái nhìn của bậc giác ngộ, là vũ trụ thu nhỏ, là trung tâm… Theo ý nghĩa của chữ Hán thì là vòng tròn đầy đủ (luân viên cụ túc). Hiểu một cách đơn giản nhất thì Mạn Đà La là đàn tràng bày pháp khí để các hành giả tu tập, trì chú, chú nguyện, tu luyện…Nếu muốn nói cho rõ hết ý nghĩa thì có lẽ phải viết thành sách chứ không thể trình bày trong một bài viết ngắn.


Mạn Đà La là đồ hình biểu tưởng của vũ trụ, của thập pháp giới: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, Atula, người, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục. Thập pháp giới biến hiện từ một tâm. Hạt cải chứa núi Tu Di, Tu Di có hạt cải là vậy!

Mạn Đà La là phương tiện tu tập, hành trì của Phật giáo Tây Tạng, là tác phẩm nghệ thuật cao độ, có tính đối xứng, cân bằng, tuyệt đối chính xác. Khi tiến hành thiết kế Mạn Đà La, hành giả tập trung cao độ, tỉ mỉ, chính xác đến từng li. Thông thường để tạo tác một Mạn Đà La cần đến cả tuần lễ, mỗi ngày làm liên tục theo thời khóa công phu. Thời gian hoàn thành một Mạn Đa La còn tùy thuộc vào mức độ phức tạp của chi tiết hoa văn và kích cỡ. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La, các vị sư làm sẵn cát mịn nhuộm màu, bốn màu cơ bản: xanh, vàng, đỏ, trắng tượng trưng cho bốn hướng Bắc, Nam, Tây, Đông; ngoài ra còn có nhiều màu khác do sự phối màu từ bốn màu căn bản. Các hành giả khi làm sẽ dùng những ống đồng có một đầu loe (để lấy cát) và một đầu có lỗ nhỏ xíu để cát chảy ra, trên thân ống đồng có hàng rãnh và các hành giả cà vào hàng rãnh ấy để cát chảy xuống. Trước khi kiến tạo Mạn Đà La phải thực hiện nghi lễ rất quan trọng và phải được một vị Guru cho phép. Suốt quá trình kiến tạo cũng là thời gian trì chú, nhiếp tâm, tu tập của các hành giả.

Mạn Đà La có nhiều loại khác nhau như: Thai Tạng Giới Mạn Đà La có ý nghĩa thụ động, tĩnh, tâm đại bi, là lý. Kim Cang Giới Mạn Đà La biểu tượng cho động, trí tuệ viên mãn, là trí. Ngoài ra còn phân biệt theo Đại Mạn Đà La (Maha Mandala) tượng trưng cho Phật, Bồ Tát. Tam muội Mạn Đà La (Samaya Mandala) tượng trưng cho hội chúng và pháp khí. Pháp Mạn Đà La (Dharma Mandala) tượng trưng cho văn tự lý giải. Yết Ma Mạn Đà La (Karma Mandala)

Mỗi một Mạn Đà La là một tác phẩm nghệ thuật cao độ, cực kỳ tinh tế, hết sức vi diệu. Là phương tiện thiện xảo tu học của truyền thống Phật giáo Kim Cang Thừa. Khi chiêm bái hoặc chỉ đơn giản là xem như một tác phẩm nghệ thuật đều gây ấn tượng mạnh đối với mọi người. Đôi khi đại chúng không hiểu biết ý nghĩa của Mạn Đà La nhưng trong tâm thức cũng tự động ghi nhận những dấu ấn Phật pháp. Lòng tôn kính, niềm tin là những điều rất quan trọng trong việc chuyển hóa tâm thức con người.

Mỗi Mạn Đà La như một vũ trụ thu nhỏ. Mỗi Mạn Đà La là một cách biểu thị ý nghĩa khác nhau thông qua những đồ hình, những chi tiết hoa văn, những biểu tượng…Kiến tạo Mạn Đà La để cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng. Kiến tạo Mạn Đà La để cầu quốc thái dân an, phong điều vũ thuận, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Người chiêm bái Mạn Đà La tin tưởng sâu sắc sẽ được sự gia trì của chư Phật, kiên cố tín tâm và bồ đề tâm. Kiến tạo Mạn Đà La và chú nguyện để chúng sanh giải thoát phiền não, sống tỉnh thức, trau dồi trí tuệ và trưởng dưỡng từ bi.

Để kiến tạo Mạn Đà La cần đến 5 hoặc 7 vị sư luân phiên làm liên tục xuyên suốt quá trình. Tất cả các vị sư ấy đều đã trải qua một quá trình tu tập lâu dài, có năng lực cũng như đầy đủ giới đức. Các vị sư này cũng cần có sự chấp thuận và gia trì của một vị Guru. Các vị sư tham gia kiến tạo Mạn Đà La phối hợp nhau rất nhịp nhàng, chính xác, khéo léo, tập trung cao độ. Khi thực hiện Mạn Đà La cũng chính là cách tôi luyện tâm ý, trì chú, niệm kinh…Sau khi Mạn Đà La hoàn thành sẽ để một thời gian ngắn cho đại chúng chiêm bái, trong thời gian Mạn Đà La trưng bày, các sư trì chú liên tục không gián đoạn. Đến ngày cuối cùng thì toàn bộ Mạn Đà La sẽ xóa đi, cả một tác phẩm nghệ thuật công phu cần đến cả tuần lễ để hoàn thành thì chỉ trong giây phút còn lại một nhúm cát màu. Điều này tượng trưng cho cái lý vô thường mà nhà Phật nói đến. Thế gian vô thường, thân tâm ta cũng vô thường, cho đến sơn hà đại địa, vũ trụ vô biên tế kia cũng đều biến hoại vô thường.

Năm nay chùa Hải Ấn có duyên lành được đón tiếp phái đoàn hoằng pháp của chư tăng Tây Tạng. Các vị sư này tỵ nạn ở Ấn Độ và tu tập tại chùa Drepung Loseling, đây là một tự viện lớn có đến hàng ngàn vị sư tuổi từ nhi đồng đến lão niên đang ngày đêm tu tập. Phái đoàn hoằng pháp của chùa Drepung Loseling có chín tuần ở Atlanta và sau đó sẽ đi các tiểu bang khác. Phái đoàn còn có lịch trình hoằng pháp ở Mexico. Một vị sư trong phái đoàn tên Tsewang Punchok vốn xuất gia từ năm 21 tuổi tại chùa Drepung Loseling cho chúng tôi biết các ngài kiến tạo Mạn Đà La Quán thế Âm để cúng dường và cầu nguyện cho khắp pháp giới chúng sanh sống trong trí tuệ và từ bi. Mạn Đà La sẽ để cho Phật tử và đồng hương quanh vùng đến chiêm bái trong một tuần, sau khi hoàn mãn thì Mạn Đà La sẽ được phá hủy và số cát kiến tạo Mạn Đà La sẽ cho Phật tử thỉnh đem về như phước lành.

Có lẽ đây là lần đầu tiên Phật tử quanh vùng được tận mắt chứng kiến những món pháp khí kỳ lạ của Phật giáo Tây Tạng: Kèn dài (Tung Chen), trống dẹp với màu sắc hoa văn rực rỡ (Ngia), những tù và, chùy kim cang…đặc biệt bộ cà sa màu huyết dụ và chiếc mũ vàng (phái hoàng mạo) như mũ của chiến binh La Mã (Mohawk). Khi các sư trì chú, họ vận hơi từ bụng và lồng ngực. Họ giữ hơi nơi cổ họng khiến âm thanh phát ra rền và trầm hùng khiến ngươi nghe chú dù không hiểu cũng cảm nhận tính chất linh thiêng kỳ bí vô cùng. Âm thanh trì chú rền cả Phật điện, nghe âm thanh ấy cứ ngỡ như gió thổi ù ù trên tuyết sơn, lại như sấm rền trên không trung. Khi các sư Tây Tạng trì chú, toàn thân tâm nhập vào câu thần chú, âm thanh như phát ra từ trong định. Thân các sư tại Phật điện nhưng thần thức như ở một cảnh giới khác chứ không phải tại nơi này!

Phật giáo Mật tông Tây Tạng cũng như văn hóa người Tạng còn rất huyền bí và cũng rất nhiệm mầu. Ngày trước, Tây Tạng gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Chỉ có một số hành giả và những nhà thám hiểm thâm nhập vào Tây Tạng mới khám phá ra. Từ ngày Trung Cộng xâm lăng, đức Dalai Lama và hàng triệu dân chúng, tu sỹ phải đi tỵ nạn ở Ấn Độ và nhiều nơi khác, từ đó thế giới mới biết nhiều hơn về Tây Tạng. Đức Dalai Lama và các tu sỹ Tây Tạng đã đẩy mạnh việc truyền bá Phật giáo Mật Tông ra khắp thế giới, đặc biệt nhất là truyền đến Âu – Mỹ. Cũng từ đây mà những Mạn Đà La được kiến tạo ở nhiều nơi để cúng dường cũng như để mọi người chiêm bái. Mạn Đà La không chỉ là phương tiện tu học, phương pháp hành trì mà còn là nét văn hóa đặc thù của văn hóa Tạng, Phật giáo Tạng, Phật giáo Kim Cang Thừa.

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0325

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/2011(Xem: 10857)
Không biết trong đầu óc chúng ta có một trung tâm thần kinh của sự công bằng hay không, nhưng mọi người bình thường đều yêu thích, đam mê sự công bằng. Ai trong chúng ta cũng thấy lịch sử nhân loại là một vận động đi tìm và tiến đến sự công bằng. Những cuộc cải cách, những cuộc cách mạng, thậm chí những cuộc chiến tranh cho đến những thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội đều để tiến bộ về phía công bằng. Pháp luật, kinh tế, xã hội, chính trị được xem là tiến bộ hơn khi chúng tạo được nhiều công bằng hơn.
29/05/2011(Xem: 14183)
Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trường thị phi mà vẫn giữ được bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là người trưởng thành.
28/05/2011(Xem: 13231)
Từ khi ra thăm bốn cửa thành, Thái tử Tất Đạt Đa đã cảm nhận những nỗi thiết tha thống khổ của nhân loại khiến Ngài quyết tâm đi tìm một chân lý để cứu giúp chúng sinh còn đang lặng hụp trong biển đời sinh tử trầm luân.
28/05/2011(Xem: 14707)
Chữ niệm nghĩa là nhớ. Chữ Hán viết phần trên là chữ kim, nghĩa là nay, phần dưới chữ tâm, nghĩa là lòng mình. Niệm là điều ta đang nhớ tới, đang nghĩ tới. Mà điều ta nhớ và nghĩ có thể là tà, có thể là chính, vì vậy nên có tà niệm và chánh niệm.
26/05/2011(Xem: 20299)
Nhận lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về Phật pháp.
21/05/2011(Xem: 12995)
Ý tưởng về bồ đề tâm thật không thể nghĩ bàn! Nó khiến cho tất cả những công việc nào không liên quan đến việc làm lợi lạc cho chúng sanh trở nên buồn chán và bất toại nguyện. Ta thật sự sẽ không còn hứng thú hay thưởng thức được đời sống của mình, ngoại trừ công việc đầy ý nghĩa này. Tất cả mọi thứ khác sẽ trở nên vô nghĩa, trống rỗng và không có thực chất.
20/05/2011(Xem: 12435)
Ta cần có những thiện hạnh để chấm dứt những dục vọng vô độ và việc coi mình là quan trọng; cách hành xử tránh điều độc hại như thuốc độc...
19/05/2011(Xem: 24332)
Hầu như ai đến phố Bolsa cũng từng thấy một khất sĩ mà nhiều người gọi là “ông sư ở Phước Lộc Thọ.” Ông mặc bộ áo cà sa vàng, khoảng 40 tuổi, tay ôm bình bát, mắt nhắm nghiền như đang thiền định. Ông đứng từ sáng đến chiều, ngày này qua ngày nọ bất kể thời tiết nóng hay lạnh. Phố Bolsa sáng sáng thường có các nhà sư đi khất thực bên ngoài những cửa tiệm, đặc biệt trong khu chợ ABC ở góc Bolsa và Magnolia. Họ xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần, xong biến mất như đã hoàn tất một giai đoạn trên con đường tu tập.
18/05/2011(Xem: 26535)
Con được biết - không chắc đúng không - hôm nay 28-4, là ngày Sinh Nhật Sư Phụ tròn 88 tuổi nên con viết vội đôi dòng kính chúc Sư Phụ luôn Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế để hàng đại chúng Bảo Vương của chúng con nói riêng và Giáo hội nói chung luôn có được bóng mát chỡ che tinh thần và trí tuệ của một trong số rất ít còn lại hàng đại lão hòa thượng của PGVN. Riêng con vẫn còn đó một đại tự điển sống về Phật học tinh hoa cũng như về lịch sữ Việt Nam thời cận đại.
15/05/2011(Xem: 12735)
Nhân quả đồng thời được nói một cách cô đọng trong kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm… và rải rác trong các kinh điển Đại thừa. Có lẽ người đầu tiên dùng thành ngữ “nhân quả đồng thời” là Đại sư Trí Khải (thế kỷ thứ 6) trong Pháp Hoa Huyền Nghĩavà trong các tác phẩm Thiên Thai tông của ngài, y cứ trên kinh Pháp Hoa. Thành ngữ này cũng là một giáo lý chính yếu của Hoa Nghiêm tông vào thế kỷ thứ 7. Nói một cách vắn tắt và đơn giản, nhân quả đồng thời là quả giác ngộ, quả Phật vốn đã nằm nơi nhân tu hành để đạt đến giác ngộ, để thành Phật. Nhân của thành Phật là “nhân địa pháp hạnh của Như Lai” được nói trong kinhViên Giác: