Ngũ Vị Quân Thần

04/02/202513:25(Xem: 4631)
Ngũ Vị Quân Thần

buddha-588
Ngũ Vị Quân Thần


Nguyên Giác


Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.

Bài thơ Ngũ Vị soạn bởi Thiền sư Động Sơn (807-869), người khai sáng ra Tông Tào Động. Bài thơ nói về tương tác của hai khái niệm: Chính và Thiên. Các khái niệm này dễ hiểu hơn, nếu chúng ta sử dụng một số chữ khác. Chính tức là Không, và Thiên tức là Sắc. Chính tức là Tánh, và Thiên tức là Tướng. Chính tức là Lý, và Thiên tức là Sự.

Thiền sư Tào Sơn nói, "Chánh vị tức là không giới xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có muôn hình tượng."

Bài thơ gồm 5 đoạn. Nơi đây sẽ viết lại cho đơn giản, dựa trên bản Việt dịch của Thầy Thích Thanh Từ và các bản Anh dịch khác.

Đoạn 1:
Chánh trung thiên. (Trong Sắc có Không, trong Tướng có Tánh, trong vô lượng cái hiển lộ có một định luật duyên khởi.)
Trong đêm, vào lúc canh ba, người tu thấy được trăng rọi nơi hiên.
Thấy rồi, nhưng chưa rõ tận tường, vẫn còn ẩn kín những phiền não.

Giải thích: Nói theo Tâm Kinh, đó là nhận ra Sắc tức thị Không. Người tu lúc này thấy được Tánh Không trong tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường đều là Không. Người tu lúc này thấy được Tánh Không trong tất cả Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức. Lúc đó còn là đêm, chưa tỏ tường, và phiền não vẫn còn.

Đoạn 2:
Thiên trung chánh. (Người tu thấy Không trong  Sắc tỏ tường hơn, nhận ra đây là tấm gương tâm xưa cổ của mình.)
Mắt sáng, lão bà tìm ra cổ kính, thấy trực tiếp, rõ ràng trước mắt, gần gũi và không có gì ngoài cái Không.
Người tu không còn quên đầu của mình để đi tìm bóng phản chiếu nữa.

Giải thích: Người tu thấy tất cả những cái được thấy, nghe, hay, biết đều là không. Thấy tất cả những hình ảnh mình thấy và những âm thanh đều là từ tâm hiện lên, và chỉ có một vị duy nhất là hiển lộ theo luật duyên khởi, và cốt tủy là không. Và không hề có gì gọi là tự ngã.
.
Đoạn 3:
Chánh trung lai. (Thấy toàn thân và tâm mình biến mất, thường trực là không, tất cả đều không tự ngã, và Không chính là con đường giải thoát.)
Trong Tánh Không là con đường để giải thoát.
Cái Không chính là tên gọi cấm kỵ của nhà vua, mà không có ngôn ngữ nào nói ra cho trọn nghĩa được.
.
Giải thích: Khi thấy thân và tâm đã biến mất, thường trực nhận ra Tánh Không nơi đi, đứng, nằm, ngồi, thì không lời nào kể lại được kinh nghiệm này. Mở miệng như dường là cấm kỵ vì lời nào cũng bất toàn.
.
Đoạn 4:
Thiên trung chí. (Người tu thấy mình như dường đi giữa những trận mưa hoa của Sắc và Không, của Tướng và Tánh, của Lý và Sự. Nơi đây không còn phân biệt nữa, khi hai lưỡi kiếm của Có và Không múa bay khắp trời.)
Thấy hai lười kiếm đua tranh, người tu đi không ngăn ngại, tự thấy mình như kiếm sĩ bậc thầy đang đi như hoa sen nở trong lò lửa.
Người tu giữ nguyên vẹn nơi tâm ý nguyện cao ngất trời.
.
Giải thích: Người tu không còn bận tâm, hay ngăn ngại nào. Lúc này là thõng tay vào chợ, mang tâm Bồ tát tùy duyên mà giúp đời.
.
Đoạn 5:
Kiêm trung đáo. (Người tu tới ngay trung tâm, không còn thấy có gì để bước tới hay bước lui, thân tâm không cách biệt với tro tàn trong cõi nhà lửa này.)
Người tu không lạc vào Không, không lạc vào Có nữa.
Có ai muốn cùng đi với người tu này không?
Trong khi mọi người khác tìm cách vượt qua bờ kia, người tu này tự thấy mình không cách biệt gì với vạn pháp, chỉ lặng lẽ ngồi giữa tro tàn.
 
Giải thích: Người tu này không thấy có bờ này để phải lìa, không thấy có bờ kia để phải tới. Người này lặng lẽ thấy mình trong tro tàn của cõi nhà lửa này. Nói theo Kinh Lăng Già, người tu này đã giết cha, giết mẹ, giết vợ, giết con, giết cháu; nghĩa là giết sạch trong tâm cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.
 
.... o ....
 
The Five Ranks

Written and translated by Nguyên Giác


There is a difficult poem in Zen Buddhism. We call the poem The Five Ranks. People sometimes refer to it as Dongshan's Five Ranks. Some people call it The Five Ranks of the King and the Officials. The poem is challenging to comprehend, partly due to its use of archaic language and numerous poetic images, as well as its focus on only certain stages of the Zen practice journey. This article will provide various explanations in an effort to clarify the poem's meaning.
 
Zen Master Dongshan (807-869), the founder of the Soto Zen sect, composed the poem Five Ranks. This poem explores the interaction between two concepts: Chính and Thiên. Alternative terms can clarify these concepts. Chính refers to Emptiness, while Thiên signifies Form. Additionally, Chính can be understood as Essence, and Thiên as Appearance. Furthermore, Chính represents Principle, whereas Thiên denotes Phenomenon.
 
Zen Master Cao Shan said, "Chính is the realm of emptiness, which has always existed without things. Thiên is the realm of form, which encompasses a myriad of forms."

The poem consists of five stanzas. It will be rewritten for clarity, drawing on the Vietnamese translation by Zen Master Thich Thanh Từ as well as other English translations.
 .
Stanza 1:
The Relative within the Absolute. (In form, there is emptiness; in appearance, there is essence. In the infinite manifestations, there exists a law of dependent origination.)
During the night, at the third watch, the practitioner observed the moon shining on the veranda.
Although the practitioner could see the moon, its clarity was obscured, and hidden afflictions remained.
 .
Explanation: According to the Heart Sutra, this is when the practitioner realizes that form is emptiness. At this moment, the practitioner recognizes emptiness in everything they see, hear, smell, taste, touch, and think. The practitioner recognizes emptiness in all aspects of form, feeling, perception, volition, and consciousness. At this time, it is still night, not yet clear, and afflictions still persist.
 .
Stanza 2:
The Absolute within the Relative. (The practitioner perceives Emptiness in Form with greater clarity, recognizing it as the ancient mirror of his mind.)
The old lady, with bright eyes, perceives the ancient mirror clearly and intimately before her. Yet, all she sees is emptiness.
The practitioner had seen his head, so he did not look for the reflection anymore.
.
Explanation: The practitioner recognizes that everything perceived—whether seen, heard, or known—is ultimately empty. He understands that all images and sounds are mere manifestations of the mind, existing within a singular realm that arises according to the law of dependent origination, whose essence is also empty. Furthermore, he realizes that the concept of a self is an illusion.
.
Stanza 3:
Coming from within the Absolute. (The practitioner observes his entire body and mind dissolve, realizing that everything is empty and devoid of self. Emptiness serves as the path to liberation.)
Recognizing emptiness is the pathway to liberation.
Emptiness is the unutterable name of the king, a concept that no language can fully articulate.
.
Explanation: When one perceives that both the body and mind have vanished and continuously realizes emptiness while walking, standing, lying down, and sitting, no words can adequately convey this experience. Speaking feels inappropriate, as any attempt at expression falls short of capturing the essence of this state.
.
Stanza 4:
Arrival at Mutual Integration. (The practitioner finds himself walking among the showers of flowers representing Form and Emptiness, Form and Essence, and Principle and Phenomenon. Here, there is no longer any distinction, as the two swords of Being and Non-Being dance across the sky.)
Seeing the two swords clash, the practitioner moves effortlessly, envisioning himself as a master swordsman, gracefully walking like a lotus blooming in a fiery furnace. He maintains his mind's lofty aspirations intact.
.
Explanation: The practitioner is free from worries and hindrances. In this moment, he lowers his hands and enters the market, embodying the Bodhisattva mindset to assist others as circumstances permit.
.
Stanza 5:
Unity Attained. (The practitioner reaches the center, perceiving no distinction between moving forward or backward; body and mind are inseparable from the ashes in this burning house.)
The practitioner does not deviate into being or non-being.
Is there anyone who would like to accompany this practitioner?
While everyone else is striving to reach the other shore, this practitioner perceives himself as no different from all things, simply sitting quietly among the ashes.
.
Explanation: This practitioner does not perceive a shore to depart from, nor does he see a shore to arrive at. Instead, he quietly observes himself amidst the ashes of this burning house. According to the Lankavatara Sutra, this practitioner has metaphorically killed his father, mother, wife, children, and grandchildren; in other words, he has entirely extinguished in his mind all three temporal dimensions: past, present, and future.
.
THAM KHẢO / REFERENCE:
(1) HT Thích Thanh Từ, Thiền sư Trung Hoa Tập Hai:
https://thuvienhoasen.org/a9830/doi-thu-nam-sau-luc-to
(2) Five Ranks: https://en.wikipedia.org/wiki/Five_Ranks
(3) Dale Verkuilen, Dogen and the Five Ranks:
https://terebess.hu/zen/dogen/dogenandthefiveranks.pdf
(4) White Lotus Judith Ragir, Dongshan’s Five Ranks:
https://www.judithragir.org/2012/06/dongshans-five-ranks/
.... o ....
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/07/2025(Xem: 3302)
Hầu hết các loài trên hành tinh này đều thiếu khả năng trí tuệ để xây dựng hệ thống niềm tin. Ví dụ, mèo và chó không nghĩ về ý nghĩa cuộc sống của chúng và có xu hướng sống hạnh phúc miễn là chúng nhận được những gì chúng cần ngay tại thời điểm hiện tại. Điều này khiến Loài Người Thông Tuệ (Homo sapiens) trở thành loài duy nhất trên Trái đất có khả năng tham gia vào các quá trình tư duy phức tạp và tạo ra các hệ thống tôn giáo và triết học. Do đó, việc có tôn giáo là một đặc điểm riêng của con người mà không có ở bất kỳ loài vật nào khác.
16/07/2025(Xem: 4554)
Trong bốn năm qua, tôi đã viết 17 bài luận về Phật giáo tại Nhật Bản cho trang Buddhistdoor Global. Trong những bài luận này, tôi đã khám phá rất nhiều hoạt động và tín ngưỡng ở Nhật Bản, ở nhiều mức độ khác nhau, có liên quan đến các truyền thống Phật giáo. Những bài luận này có thể gợi lên một hình ảnh, mà tôi nghĩ là khá chính xác, rằng tôn giáo vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản, mặc dù dưới vỏ bọc của một xã hội ở thế kỷ 21.
12/07/2025(Xem: 8826)
Mùa hè năm nay tôi được mời dự lễ Vu Lan ở chùa Quán Âm, Kansas City, tiểu bang Missouri. Khi đến nơi tôi thấy trên bàn của phòng có quyển sách The Art of Living. Ngoài những thời gian thăm viếng các chùa như Phổ Hiền, Pháp Hoa, ...và một vài nơi ở thành phố Kansas như Country Plaza cùng Limestone Kansas City, và thăm một số nhà Phật tử, thời gian còn lại tôi đã dịch ngay chương đầu của quyển sách này (12/08/2011), ngay trong thời gian ở chùa Quán Âm. Sau ba ngày ở Kansas City tôi chia tay với thành phố này và anh Quảng Tịnh Đạt, hội trưởng chùa Quán Âm đã tặng tôi quyển sách này. Thế là tôi mang theo và dịch luôn trọn quyển sách.
12/07/2025(Xem: 7501)
“Nghệ thuật sống hạnh phúc trong thế giới phiền não” được bác sĩ Howard C. Cutter tổng hợp và viết lại từ những lời dạy của đức Dalai Lama tại nhiều bối cảnh thuyết giảng khác nhau. Tác phẩm được trình bày theo một hệ thống gồm bốn phần, ba phần đầu là một tác phẩm độc lập mang cùng tựa đề tác phẩm này và phần 4 cũng là một tác phẩm bỏ túi độc lập, vì có cùng nội dung nên được gộp vào phần cuối của tác phẩm, để độc giả có thể thưởng thức hai tác phẩm trong một của đức Đạt Lai Lạt Ma.
12/07/2025(Xem: 8417)
ĐẠO PHẬT ĐÃ HƯỚNG ĐẠO con đường phát triển của Đức Đạt Lai Lạt Ma – cả nội tại lẫn ngoại tại – và vẫn là một sự hướng dẫn cho cội nguồn thích đáng của nhân loại. Những bài diễn thuyết bao hàm trong sự sưu tập này không đối diện trực tiếp với mục tiêu Giác Ngộ hay Quả Phật. Đúng hơn, chúng soi sáng những chủ đề phổ thông về từ bi; bất bạo động và hòa bình; chủ nghĩa thế tục; một thân thể, tâm thức, cá nhân, và xã hội lành mạnh; và tiềm năng của con người cho hạnh phúc qua sự thực chứng nội tại. Loài người trên thế giới hiện hữu đã sẵn sàng để tiếp nhận tuệ giác xuất phát từ Phật giáo và về Phật giáo vốn trực tiếp che chở chúng ta khỏi khổ đau của chúng ta.
12/07/2025(Xem: 8444)
Nguyên bản: Advice on Dying and Living a Better Life Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
12/07/2025(Xem: 7979)
Tại sao con người tìm đến tôn giáo? Bởi vì con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, hay niết bàn. Tại sao con người cần những ý tưởng cực lạc, thiên đàng, và niết bàn?
12/07/2025(Xem: 8036)
Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng có lẻ nhân loại là một gia đình loài người duy nhất trong vũ trụ này, và trái đất là ngôi nhà duy nhất của loài người chúng ta. Trong thực tế, chúng ta thấy khi một con chó, mèo hay bất cứ một con thú nào sắp chết thì tất cả những con bò chét, con ve vội vả chạy ra khỏi con thú ấy đề tìm thân thể một con thú khác để sinh sống, còn con người chúng ta nếu trái đất này có mệnh hệ gì thì chúng ta sẽ chạy đi chốn nào. Người ta nói rằng số lượng vũ khí hạt nhân hiện có trên thế giới có thể phá hủy cả chục trái đất mà chúng ta đang ở. Người ta cũng nói rằng hơn nửa tài nguyên thiên nhiên hay có thể là hai phần ba tài nguyên thiên nhiên là đang dùng vào việc chế tạo vũ khí.
10/07/2025(Xem: 6176)
SỐNG TỐT ĐẸP HƠN Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Sưu tập: Renuka Singh Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
10/07/2025(Xem: 7617)
ĐƯỜNG ĐẾN AN BÌNH THẬT SỰ Nguyên tác: Many Ways to Nirvana Nhà xuất bản: Penguin Compass - 2005 Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma Sưu tập và hiệu đính: Renuka Singh Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 23/02/2011