Xuân Nầy Con Không Về

03/02/202512:33(Xem: 7619)
Xuân Nầy Con Không Về

xuan-hoa-mai

 XUÂN NẦY CON KHÔNG VỀ

 

Đầu Xuân nghe nhạc phẩm "Xuân nầy con không về" do con mình từ xa gửi về,  gợi nhớ lại những năm tháng lao lý.

Lần đầu tiên trong đời vào nằm trong nhà lao ở vùng hiu quạnh nơi rừng xanh xa lạ. Một cuộc đời tù mà không có tội trong buổi giao thời của đất nước sang trang. 30 năm làm tu sĩ, trãi qua nhiều Tỉnh thành, từ thôn quê đến phố thị, qua bao mùa Xuân trên đất nước chiến chinh, cũng bao lần nghe nhạc Xuân, kể cả nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", thế mà lòng không khỏi xúc động khi nghe văng vẳng giữa đêm khuya, từ nhà dân, có lẽ xa lắm, vọng lại.

Trong phòng giam gần 60 mạng người đủ loại tội phạm. Cận Tết, các phạm nhân đều có gia đình thăm viếng. Đêm giao thừa, anh em tù quây quần từng nhóm giữa các món ăn  ngày Tết. Người nghĩ đến thân nhân bên ngoài liệu có đủ ăn, dành những món ngon nhất gửi vào trại giam, khi mà xã hội còn ăn bột mì, bo bo. Cũng có những tội phạm hình sự vô tư chiếm đọat thực phẩm của kẻ khác. Những anh em binh lính, cán bộ chế độ cũ thấm thía niềm đau giữa lúc xa nhà, vợ con trong đêm giao thừa. Dĩ nhiên họ cũng đã từng xa nhà như thế trong lúc chiến tranh, nhưng cảnh xa nhà trong lúc nầy là vết roi thầm lặng thấm vào con tim. Riêng tôi,một tù nhân không thân thuộc, không bạn bè, không tín đồ, không ai quan tâm trong lúc cuộc sống của họ còn nhiều tất bật cho gia đình, và cũng không có sự gắn bó nào giữa mình và họ.Tôi là một tù nhân cô đơn mà anh em gọi là con bà Phước. Suốt 10 năm ăn cơm tù cũng là 10 năm thấm thía nghiệp quả do mình tạo trong những kiếp xa xưa. Ngày nắng cháy phơi lưng nơi rừng sâu, lao động, đêm gió lạnh Đông về co ro trong chiếc áo tù, mỏng manh; không có gì để nhớ để mong nơi xã hội bên ngoài, hình như an phận và sẵn sáng chấp nhận bỏ xác nơi lao lý mà không một ai nhang khói, giổ quảy, thế nhưng, 10 mùa Xuân là 10 mùa đau thương mỗi khi các  nhạc Xuân vọng lại. Anh em  từng nhóm ngồi hàn huyên bên quà tết thì riêng tôi, nằm quay mặt vào vách để nghe lòng thổn thức cô đơn.

Ra khỏi tù năm 1987, đã 39 tuổi, xã hội còn khó khăn, không chùa nào dám cho nhập cư, đành hội nhập với thế gian, phải thích ứng để sống tiếp tục kiếp gian truân.Ngồi vỉa hè bơm quẹt gas, chở gas, chở hàng mướn suốt 20 năm để có cuộc sống bên lề xã hội. Đến 70 rồi, không còn đủ sức lao động chân tay, buộc phải lao động trí óc để xác định sự tồn tại trên thế gian, tuy vẫn là loại vất vưng không pháp lý ở cõi dương thì chắc sẽ là cô hồn không sổ bộ ở cõi âm.

Ngỡ như bị chai lỳ với cuộc sống con người, thế nhưng, con trai đã gửi về nhạc phẩm "Xuân nầy con không về", một nhạc phẩm không xa lạ, từng là ngọn roi thầm lặng tạo vết thương con tim trong quá khứ, giờ đây, nó vẫn còn đủ khả năng tác động niềm đau cho bản thân và nghĩ đến số phận cho đứa con nơi xứ người, cuộc sống mỏng manh như sợi tơ hồng vất vưng trên đọt cây trước gió. Tuy tương lai của con rạng rỡ, nhưng hiện tại không có gì bảo đảm để tương lai vững chắc như thế. 20 tuổi một thân một mình con lưu lạc xứ người, chịu bao gian nan vất vả không có người thân bên cạnh; nhiều tháng con phải ăn bắp và khoai lang chiên lót dạ để tiếp tục vượt qua khó khăn. Giờ đây con được cô P cưu mang chỗ ở, mọi sự còn lại vẫn là gánh nặng đè trên vai người cha 70 năm khốn khổ suốt đời. Rất may, con chịu khó học và đủ bản lãnh vượt thử thách. Nỗi buồn xa xứ những năm qua của con du sao vẫn là nỗi buồn tha hương lập nghiệp, vẫn hơn là nỗi buồn lúc 8 tuổi ba phải lưu lạc để ngày hôm nay tiếp tục làm kiếp cò lặn lội nuôi con. Làm người để trả quả cho đời, cho con, cho gia đình...ba không buồn nhưng vẫn đắng lòng mỗi độ Xuân sang. Trên đoạn đường còn lại, tuy không có ai là thân thuộc, nhưng vẫn còn đọng lại một chút thông cảm của ai đó trên quả đất nầy. 7 tỷ người chỉ cần một ai  hiểu mình là đủ ấm lòng, như vậy mình chưa phải là kẻ cô đơn, vẫn phải tiếp tục sống cho qua kiếp người.

Đây là mùa Xuân thứ 4 con xa nhà, xa nhà cho một tương lai xán lạn. 70 năm ba xa lạ với cuộc đời mà vẫn phải chấp nhận, không một hạnh phúc nào thật sự để bù đắp cho 70 năm gian truân kiếp người; chỉ mong tất cả người quen cũng như lạ đểu hạnh phúc mỗi độ Xuân sang, để phố phường, không ai là lẻ loi giữa rừng người hạnh phúc. Gian nan là phương tiện giúp ta mạnh mẽ hơn, đời còn dài, con sẽ tiếp tục gặp khó khăn để tiến thân, dẫu sao, ngôi sao định mệnh của con vẫn sáng hơn ngôi sao của người cha nầy chưa từng được ăn học, chưa từng được ai lo lắng nuôi nấng dù đang ở trong tù lúc xưa.

"Xuân nầy con không về" thì những Xuân sau con cũng về thôi.

 

 

(những ngày giáp Xuân BÍNHTHÂN 2016 - 27/ CHẠP NĂM ẤT MÙI )      

 MINH MẪN

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/10/2011(Xem: 13264)
Danh từ Hạnh Phúc cũng như Thực Phẩm, có nhiều nghĩa khác nhau. Có thức ăn cho kẻ nghèo, cho người trung lưu và hạng người giàu sang. Có những loại thức ăn quốc tế, sản xuất từ các vùng khác nhau, tất cả đều bồi dưỡng cho cơ thể. Hạnh Phúc cũng thế. Tùy theo giai cấp và sự hiểu biết mà con người có cách nhìn khác nhau về hạnh phúc. Hạng người trí thức có quan điểm hạnh phúc khác với những người bình dân sống cuộc đời đơn giản, nhưng các bậc Giác Ngộ mới đạt được Hạnh Phúc Tối Thượng.
20/10/2011(Xem: 17709)
Bên nắng hồng xưa cũ Màu lam phủ chân đồi đời người bao suơng gió niềm tin vẫn lên ngôi Gió thức giấc sáng nay sưởi ấm lòng ẩn sĩ bên vô ngã vô thường an nhiên cùng chánh pháp ..
20/10/2011(Xem: 13503)
Chúng ta tự khẳng định là con của Đức Phật, nhưng chưa thấy Phật thì phải đi tìm Phật, như đi tìm người cha mà mình bị thất lạc; đó là quá trình tu hành của giai đoạn một. Và đến giai đoạn hai, khi tìm được Phật là thấy Phật rồi, chúng ta mới thật sự học Phật, làm theo Phật, là giai đoạn ba.
11/10/2011(Xem: 13713)
Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đíchcủa cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái timtốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác.
09/10/2011(Xem: 11171)
Tôi thích lang thang trên hè phố để ngắm nhìn những em bé đang tung tăng cắp sách đến trường. Những khu chợ đông vui mà trật tự, đường phố thì khang trang và sạch sẽ.
06/10/2011(Xem: 13806)
Ở đây một trong những người thầy vĩ đại của thời đại chúng ta đặc biệt nói chuyện cùng những người trẻ và trình bày một triết lý thực tế của sự giáo dục không liên quan gì đến những cống hiến hiện nay trong hầu hết những trường học và đại học của chúng ta. Krishnamurti phơi bày những gốc rễ của sợ hãi và loại bỏ những thói quen được thiết lập sâu thẳm của truyền thống, mô phỏng, và thành kiến.
04/10/2011(Xem: 13324)
Tiếp theo, chúng ta nói về sự bố thí. Phía trước tôi đã nói đến có một lần tôi ở trường học, hôm khánh thành toà lầu Học viện Thương nghiệp, tôi cũng tham gia buổi lễ khai mạc. Trong buổi lễ, nhà trường có mời một vị giáo thọ người Mỹ nổi tiếng của Học viện Thương nghiệp đến diễn giảng. Sau khi tôi nghe rồi, tôi có cảm khái rất sâu sắc. Bởi vì ngay lúc đó hiệu trưởng đang ngồi bên cạnh tôi, chúng tôi rất thân quen nhau, tôi liền cảm khái nói với hiểu trưởng, tôi cười đùa mà nói với ông rằng giáo trình của Học viện Thương nghiệp này tôi cũng có thể dạy.
02/10/2011(Xem: 18847)
Hôm nay chúng tôi giảng về Sự tương quan giữa Bát-nhã và Thiền tông. Đề tài này hơi cao, quí vị chịu khó lắng nghe kỹ mới thấy giá trị của đạo Phật. CácThiền viện của chúng tôi trước khi sám hối phải tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Sau khi xả thiền cũng tụng một biến Bát-nhã Tâm Kinh. Nhiều người hỏi tại sao không tụng kinh khác mà lại tụng Bát-nhã Tâm Kinh. Bởi vì Bát-nhã Tâm Kinh là một bài kinh rất thiết yếu cho người tu Phật, chẳng những tu Thiền mà tu Tịnh, tu Mật đều quí cả.
25/09/2011(Xem: 16426)
Chúng ta không cần đi đâu xa, ở ngay tại nhà nhìn qua trang báo hằng ngày cũng đủ cho chúng ta thấy những tệ nạn xã hội hiện nay như thế nào. Rượu chè, cướp bóc, cờ bạc, mãi dâm... xảy ra thường xuyên, nếu ta có thời giờ bỏ ra vài năm hay cả cuộc đời để thống kênhững sự kiện ấy cũng không thể nào hết được, vì thế mà các nhà báo chí không thất nghiệp, nay tường thuật tệ nạn này, mai báo cáo tệ hại khác...
25/09/2011(Xem: 19411)
Dịch giả trước đây đã nêu lên chủ đề này qua một bài viết ngắn vàongày 7 tháng 8 năm 2010, mang tựa đề là "CâuChuyện về Barlaam và Joasaph: hay một sự trùng hợp lạ lùng giữa các tôngiáo",(có thể xem bài này trên các mạng Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức...). Thế nhưng quả là một sự ngạc nhiên kỳ thú là khilùng lại các tài liệu cũ thì tình cờ mới thấy rằng trước đó gần một năm Viện ĐạiHọc Phật Giáo Âu Châu (UBE : Université Bouddhhique Européenne) cũng đã đưa vấnđề này lên mạng trong số phát hành ngày 1 tháng 12 năm 2009, tức là vào dịp nhữngngày lễ cuối năm ở Âu Châu. Bài viết này có thể xem như là một bài khảo cứu nêulên một số dữ kiện để chúng ta cùng suy tư về một vài khía cạnh nào đó của tôngiáo nói chung.