Nước non cách mấy buồng thêu

01/04/201313:53(Xem: 26603)
Nước non cách mấy buồng thêu

Nước Non
Cách Mấy Buồng Thêu

Tuệ Sỹ


Một ngày nóng, rồi một ngày lạnh . Người ta cứ mãi triền miên giữa những cơn nóng lạnh bức bách . Bức bách đến kỳ cùng, cho đến khi lòng người vĩnh viễn đắm chìm tận lòng biển . Không nghe và không thấy, người ta chỉ biết nói chuyện bằng những ngón tay, khi nào trời đã tối hẳn. Đến như thế thì đất đá lại biết nói chuyện hơn người . Để bàn tay bất động trên mặt bàn , mối mọt từ mấy trang sách sẽ từ từ chun ra . Trên mặt bàn sẽ hiện nhiều vết máu . Mùi tanh hôi từ các đồng trống kết tụ về ó tiếng quỉ cái đọc thơ trên những xác lá.

Đừng nói chi đến mùa thu này đi mùa thu khác đến . Chỉ có mùi vị tức tưởi tanh hôi của những cảm khái trong cái phong vận hư phù của tuế nguyệt. Những người quen thói chờ đợi và níu cái gì đến tức phải đến, những người ấy một khu ngửi ngửi phải mùi vị ấy thì lảo đảo ngây ngất như nhập đồng cốt , rồi sẽ chập chờn đứng dậy kêu gào , khản giọng kêu gào như quỉ đói . Quỉ đói thì cầu xin một bát cháo ở ngã ba đường , vạch cỏ mà tìm những hạt gạo muối.

Cũng thế, người ta có bổn phận tìm và lựa một đôi lời vụn vặt, nhưng nghe được, rồi đảo qua đảo lại để sắp đạt câu chuyện sinh tồn . Qủi đói còn biết vạch cỏ để kiếm ăn để sống, ngườI ta sao lại không ? Tuy vậy, đã vì sinh tồn sao lại quên được cái cách điệu đong đưa tuế nguyệt.

Nhưng nói gì đến cái chỉ biết khóc và cười của sắn bìm và sương tuyết ? Dù sao, từng đòan người cũng đã lũ lượt ,chờ khi đêm tối, kéo nhau vào những chốn rừng thiêng nước độc , ghé mắt trông chừng những hang đá, mỗI hốc cây. Họ đi tìm ở đâu ? NgườI ta nói, họ đi tìm tình yêu và sự chết. Có kẻ nói gọn hơn , họ đi tìm sự sống. Cũng có thể thực và cũng có thể không thực. Sự thực thì có đãy, nhưng tình thực thì không. Sự tình nào thì chẳng nông và nổi . Cái sự của tình nó nông như vũng nước của dấu chân trâu, cái tình của nó nổi như bong bóng.

Rồi cứ thế mà nó mãi . Từng đọan và từng đoạn xô bồ như đòan người vội vã xô đẩy nhau . Gắng gượng chống chế để kéo dài được mọi sự . Tóc càng dài càng trắng . Đoàn người càng dài càng tối đen, chuyện được kể lể càng dài càng sặc mùi quỉ quái tanh hôi . Cũng còn có những lời nói dài bất tận, dài đến độ trời trở nên xanh và lạnh , lá tre trở thành đỏ và rụng xuống như máu :

Man nương ngâm lộng màn hàn không

Cửu Sơn tỉnh lục lệ hoa hồng

Bài hát của cô gái mọi trên đỉnh Cửu Sơn , trong vùng đất Thương Ngô, chỉ hát cho một người nghe , và người độc nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc có thể nghe , là vua Thuấn. Cái tinh anh và thể phách của ngài không ngự trị trên lịch sử văn minh Trung Quốc, mà chỉ phảng phất trên môi của cô gái mọi . Người ta bắt chước điệu nói hư phù của quỉ mới nói ra như vậy, chứ như điệu nói của người thực thì không bao giờ . Bởi vì nhìn lên thì thấy một xe quỉ, nhìn xuống thì thấy một con heo ủi đất . Thế là trong cái phong vận tiêu tao của tuế nguyệt , một khi trời đất mở ra chỉ thấy toàn heo và đất bùn, khi khép lại, chỉ thấy toàn có quỉ.

Trung Hoa có ba người tài: Tiên tài Lý Bạch, Nhân tài Đổ Phủ, Quỉ tài Lý Hạ . Tiên tài không thấy có sự nghiệp của Nghiêu Thuấn gì hết , mà có Hằng Nga, có Dao trì, thành ra chỉ có đàn bà và rượu.

Nhân tài thì có cười có khóc ; có sao hôm sao mai .

Quỉ tài chỉ có cái xác chết của vua Thuấn và những bài ca vu vơ của cô gái mọi thôi sao?

Nhưng có thể chắc chắn là không có mối tư lự não nùng giữa những cái còn cái mất của ngày qua tháng lại . Quỉ mà sống thì cũng đồng như không sống . ? Chở quỉ một xe? ( Kinh Dịch) chẳng khác nào chở cái không hư dạo giữa cõi tuần hoàn có sinh có diệt. Quỉ chỉ biết khóc mà thôi , và tiếng khóc của nó làm cho người ta sợ hãi thực . Biết sợ như thế rồi sau đó mới biết cười và biết nghêu ngao trong Du hí tam muội . Tóc trắng da mồi la tinh thể của Du hí tam muộI vậy : Bạch phát thương nhan, chính thị Duy- ma cảnh giới ( Tô Đông Pha)

Nơi cõi đó có một mùa xuân vĩnh cửu kết tụ thành bụi phân hoa liễu :

Chi thượng liễu miên suy hựu thiểu

Thiên nhai hà xứ vô phương thảo

(Tô Đông Pha)

Sự kết tụ ấy đã khơi mở một nguồn suối tuôn trào, thành một niềm tương ứng vừa gần gũi vừa xa xôi của kẻ ở góc biển này và người ở chân trời nọ :

Ngồi kể lại chuyện ngày xưa cũ kỹ

Em không nghe vì

anh cũng không nghe

Hồn hoa phấn xông hương sầu dị dị

Tóc vàng tơ tỉ mỉ ngón tay đè.

Vì ngọc trắng cát lầm thu xiêu lệch

Gió băng trời xin thổi bụi bay theo

Ngàn xuân rộng

vô ngần trong bóng nguyệt

Đầu xanh em tư lự suốt sông đèo

( Bùi Giáng, Mưa Nguồn)

Vì sự bức bách của nóng và lạnh, cho nên cái chuyện chưa từng xảy ra, bỗng chốc đã trở thành cũ kỹ . Từng ngày từng ngong ngóng buổi chiều để đi suốt qua một cánh đồng cỏ, ghé mắt trông chừng bóng liễu rủ. Trời sáng người làm quỉ, trời tối quỉ làm ngườI . Người và quỉ cứ gây phiền muộn mãi cho nhau đến thế thì thôi.

Nước non cách mấy buồng thêu

Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng

Trong buồng thêu đầy những mối mọt . Chúng không còn tham lam đắm đuối vật vờ với mùi giấy mùi mực của đống sách này chồng lên đống sách nọ như nấc thang dài vô tận đưa thẳng lên trời . Bây giờ chúng mê mẩn tâm thần chết lên chết xuống với cái mùi vị hương nồng của tóc cũ tóc mới , từ tóc ngắn chấm vai cho đến tóc dài chấm gót chân đỏ , chấm đến một vùng đất bạc.

Đứng mãi đãy hay đi ? Và đi đâu để đạp chân lên miền tương ứng ? Tương ứng của xa vời trong gang tấc và của gang tấc trong xa vời ? Hay một lần từ giả chỗ đứng đóđể mà đi tức là đi mãi, đi cho biết hết cõi sinh tồn , hết cõi hủy diệt ?

Gác kinh viện sách đôi nơi
Trong gang tấc lại gấp mười quan san

Câu chuyện sau đây nghe được từ sau tấm vách của một gia đình nọ.Cái gia đình ấy không tối nào mà vắng tiếng to tiếng nhỏ. Họ là hai anh em ruột thịt .Bằng cái tuổi ấy , nếu không nhịn được , ai cũng có quyền lập gia đình riêng , tội gì mà phải gắn bó , rồi chung đụng để cứ gây phiền tóai cho nhau hoài . Họ làm phiền nhau thì có, mà làm phiền hàng xóm thì không. Bởi vì , dù họ có cãi nhau thực đấy , nhưng nghe rành rõi; không vội vàng gay gắt .

- Sao chú không bảo nó xéo đi nơi khác, thế có hơn không?

- Có gì mà phiền ? Hắn đến đó vì chuyện riêng của hắn , can dự đến ai.

- Ừ, thì đã can dự gì đến ai. Sao chú không lấy mắt của chú treo lên trên cành cây mà nhìn nó có hơn không ? Tội gì thấp thỏm trông chừng.

---o0o---


Vi tính: Thúy Nga

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2021(Xem: 16660)
Huế, không khí vẫn bình lặng, sự bình lặng làm cho những ai quen sống cuộc đời phóng túng phải kinh hãi và họ kinh hãi là phải lắm, vì rất ít ai có khả năng nghe được tiếng nói từ bình lặng và hiến dâng trọn vẹn cho sự bình lặng đó. Ngày xưa, khi những vị giáo sĩ ngoại đạo tranh cãi nhau, làm cho không khí xáo động hết bình lặng, hoặc tình cờ, hoặc vì chủ đích, đức Phật đi đến giữa chúng tranh cãi ấy, thì trong chúng đó họ tự bảo nhau: “Đức Gotama đến kia kìa! Ngài là bậc an tịnh, trầm lặng, Ngài không muốn ồn ào!”. Họ nói với nhau như vậy xong, họ liền giữ sự im lặng mỗi khi gặp đức Thế Tôn.
08/11/2021(Xem: 17013)
Mùa xuân là hình ảnh của con người. Tâm của con người như thế nào, nó sẽ tạo ra mùa xuân cho con người đúng như thế ấy. Tâm của một người xấu thì không thể nào tạo ra một mùa xuân đẹp cho chính mình, huống hồ gì họ có thể tạo ra một mùa xuân đẹp cho gia đình và xã hội. Mùa xuân là hình ảnh của cộng đồng người. Tâm thức của cộng đồng người như thế nào, họ sẽ tạo ra mùa xuân cho chính cộng đồng của họ đúng như thế ấy. Tâm của một cộng đồng người đặt đức tin của họ vào những thế lực ngoại tại, thì tự thân của cộng đồng đó sẽ tạo ra những biểu tượng thần thánh để tôn sùng và tô vẽ cho mùa xuân của cộng đồng họ qua hình ảnh thánh thần.
08/11/2021(Xem: 16442)
Sáng ngày 6/11/2021, tại thôn Nà Danh, xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Đại diện Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN, và các nhà tài trợ doanh nhân Phật tử Công ty TNHH ToTo, Cục Hải Quan Hà Nội, Công ty Cổ Phần TM&DV Ngọc Hà, Công ty TNHH Kentetsu World Express Việt Nam, Công ty Cổ Phần Tư Vấn Công Nghệ Thiết Bị và Kiểm Định xây dựng CONINCO, cùng Đại diện Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Lê Lai đã tiến hành Khánh thành trường Mầm non trên địa bàn xã.
08/11/2021(Xem: 11071)
Thói quen của chúng sinh thường tự cho mình là trung tâm, và việc mãi mê những ham muốn vật chất không bao giờ thỏa mãn. Đối với mọi thứ trên đời, các bạn muốn sở hữu những thứ tốt, và từ chối những cái xấu, tức là tham lam và chán ghét. Khi tâm trí con người bị chi phối bởi hai thế lực này, họ không thể nhìn nhận sự việc một cách khách quan, và cách đối nhân xử thế dễ bị trục trặc. Một số người nổi tiếng, nhưng họ thực sự có hạnh phúc? Một số người không ngần ngại sử dụng các phương tiện không chính đáng để đạt được danh và lợi, chẳng hạn như làm hại người khác vì lợi ích riêng cho bản thân, hoặc ức hiếp đánh đập những người mà họ không thích. Mọi người không ngừng suy nghĩ về sự khác biệt, và họ có thể cảm thấy tội lỗi khi tỉnh giấc lúc nửa đêm dài trong mộng. Nếu tâm không thể thanh thản thì khó có thể gọi là một cuộc sống hạnh phúc.
08/11/2021(Xem: 12194)
Vô Tầm Vô Tứ Định là tầng Định thứ hai trong bốn chi Thiền do đức Phật thiết lập. Bốn chi Thiền đó gồm Sơ Thiền tương xứng với Sơ Định hay Định Hữu Tầm Hữu Tứ, Nhị Thiền tương xứng với Vô Tầm Vô Tứ Định, Tam Thiền tương xứng với Xả hay An Chỉ Định, Tứ Thiền tương xứng với Chánh Định.
08/11/2021(Xem: 15144)
Tổ chức Từ thiện Xã hội Cộng sinh Toàn cầu và Thiếu Lâm Tự (소림사), thành phố Bucheon, Gyeonggi, Hàn Quốc đã hoàn thiện trong xây dựng ngôi Trường Tiểu học Bucheon Sorimsa (부천소림사초등학교) và trao tặng một nơi lý tưởng học tập cho các em thiếu niên tại Nepal.
08/11/2021(Xem: 26367)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
08/11/2021(Xem: 22291)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
07/11/2021(Xem: 11988)
Phần này bàn về cách dùng đã, đã đã, đã tật và làm đã, đã làm vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Ngoài các bản Nôm của LM Maiorica ghi ở đoạn sau, tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
04/11/2021(Xem: 14867)
Sau đây là bản Việt dịch bài giảng pháp của Đại Sư Mahasi Sayadaw (1904-1982) trước các thiền gia trong buổi lễ khai thị ở trung tâm thiền tập Mahasi Meditation Center, Rangoon, Miến Điện. Bài này được dịch từ tiếng Miến sang Anh ngữ bởi Unyi Nyi, và sửa chữa lại năm 1997 bởi Đại Sư Pesala.