Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Muôn Đời Thanh Tân

26/08/202313:33(Xem: 2699)
Muôn Đời Thanh Tân

MUÔN ĐỜI THANH TÂN
Vu-lan-004

 

Khí trời còn nóng lắm nhưng không khí mùa hội hiếu đã chớm sang, âm hưởng tháng bảy đã vọng trong hồn. Tự dưng y nghĩ đến chùa chiền mà lòng lay động, dường như trong tâm có lời thì thầm: “Thế là lại đến mùa báo hiếu!”. Y vốn nhiễu sự mà, lòng vừa nghĩ thế thì thằng Ý chọt liền:

- Báo hiếu mọi ngày, ngày nào chẳng là ngày hiếu, hà cớ gì phải đợi đến tháng bảy mới báo hiếu?

Y phì cười, thằng Ý nói cũng có lý, mặc dù biết nó lý sự nhưng y cũng minh bạch đôi lời với nó. Y vẫn nhớ kỹ lời thầy: “Không tranh cãi dù là ở đời, người học Phật càng không nên tranh cãi”. Y nhân cơ hội này giải thích một tí cho thằng Ý và những người  nhiều lý sự nhưng chưa thông sự lý, thiếu hiểu biết, hoặc giả là bản tánh thích cà khịa, thích gây sự. Y lựa lời nhỏ nhẹ, ôn tồn nhưng rành mạch:

- Này Ý! Chú em nói cũng có lý lắm, báo hiếu cả đời, báo hiếu muôn đời, báo hiếu mọi ngày chứ nào phải đợi đến tháng bảy, nào phải chỉ một mùa. Chú em cần phải biết rằng Vu Lan tháng bảy là lễ hội hiếu trong nhà Phật, là xuất phát từ tích ngài Mục Kiền Liên độ mẹ. Lễ Vu Lan để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã quá vãng; hồi hướng công đức cho tiền nhân; chúc sinh cho cha mẹ hiện tiền. Ngày lễ Vu Lan cũng là cách để xiển dương Phật pháp, đề cao chữ hiếu, khích lệ con người ta sống hiếu đạo, làm gương cho đời.

Thằng Ý lại thắc mắc:

- Cùng là đạo Phật, cớ sao chùa chiền Nam tông không có lễ này?

- Chú em cần phải biết rằng Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông đều cùng căn bản gốc: Tứ diệu đế, bát chánh đạo, thất bồ đề phần, ba mươi bảy phẩm trợ đạo… tuy nhiên về hình tướng và hình thức có khác nhau. Đạo Phật truyền đến đâu thì kết hợp với văn hóa bản địa, tập tánh cư dân, truyền thống địa đương mà hình thành nên những sắc thái khác nhau. Vì vậy mà Phạt giáo của hai truyền thống có những điểm khác nhau.

- Thế Phật giáo Nam tông không có lễ Vu Lan thì không có hiếu à?

Y không nhịn được cười vì cái lối lý sự trẻ con của thằng Ý, tuy nhiên y không dám cười to sợ nó mích lòng. Y bảo:

- Có chứ sao lại không, đạo Phật là hiếu đạo, người con Phật nào mà không hiếu! tuy hiên cách thể hiện và hành động khác nhau. Truyền thống hiếu theo cách của Phật giáo Nam tông còn hay hơn nữa cơ đấy! Thanh, thiếu niên trưởng thành thường vào chùa xuất gia tu học vài năm để báo hiếu cha mẹ, nếu người nào đủ bản lãnh thì xuất gia luôn. Ý thấy chưa? Cách này còn triệt để hơn, hiệu quả hơn, tràn đầy ý nghĩa. Mỗi dòng truyền thừa có phương cách sinh hoạt khác nhau, chúng ta có thể học hỏi để bổ sung cho nhau chứ chẳng có chi mâu thuẫn cả, tất cả chung quy cũng để hoằng pháp, hoằng thuận chúng sanh. Dẫn người vào đạo, đưa người đi đến thoát khổ và giải thoát.

Thằng Ý xem ra cũng thấm đôi chút nhưng nó vẫn vặn vẹo:

- Đạo Phật là đạo nhân quả, thế ngài Mục Kiền Liên và chư tăng hợp lực đưa bà mẹ Mục Kiền Liên từ địa ngục sanh thiên liệu có trái nhân quả chăng? Vả lại đạo Phật vẫn nói không có thần thông nào cứu được khi quả đã chín muồi, Kinh Suy niệm về nghiệp cũng viết rõ ràng: “ Không có ai có thể làm cho người khác thăng hay đọa, chỉ tự chính bản thân người đó”. Vậy việc cứu mẹ của tích Mục Kiền Liên có trái nhân quả không?

Y ngẫm nghĩ một chút, lời thằng Ý cũng có chỗ để suy gẫm chứ không phải hoàn toàn lý sự. Trong Phật giáo Bắc truyền có nhiều pha trộn thêm bớt của các tổ sư bên Tàu, có nhiều điểm vô lý, chính điều này đã làm mê muội không ít người sơ cơ. Y thân mật nói với Ý:

- Đúng là như thế! tuy nhiên  tích Mục Kiên Liên cũng chẳng có sai, có lẽ nhiều người hiểu sai hoặc là không hiểu cái ý nghĩa của tích truyện. Công đức và tâm thành của ngài Mục Kiền Liên, sự chú nguyện của mười phương tăng đánh thức tâm thức của bà mẹ, khiến bà chuyển đổi tâm niệm, nếu tâm niệm của bà không chuyển thì không có ai có thể cứu bà thoát khỏi địa ngục. Khi cái tâm bỏn sẻn thì bát cơm hóa lửa, khi cái tâm đã chuyển thì hỏa ngục hóa hồng liên. Đó chẳng phải “tâm tưởng sự thành” sao, tất cả không ngoài một niệm tâm. “Thập phương hư không bất ly đương xứ/ cổ kim tam thế bất ly đương niệm”. Sơn hà đại địa, con người, sinh vật, cảnh giới… không ra ngoài một niệm tâm.

Thằng Ý đã xìu lắm rồi, nó nghe và thấm. Tâm niệm của nó cũng đã chuyển so với lúc ban đầu, tuy nhiên nó chưa thể một lúc mà thông được, vả lại bản tánh vốn cang cường. Nó thắc mắc:

- Tâm là gì mà ghê thế? Sao mình và mọi người đều luôn nghĩ muốn giàu sang sung sướng, thành đạt, xinh đẹp, không bệnh tật, thành công… mà  chẳng mấy ai thành tựu được?

Bấy giờ thì y cười to chứ không thể nào kìm chế được nữa, thằng Ý quả là ấu trĩ ngây thơ đến ngờ nghệch.

- Đâu phải nghĩ suông mà thành, phải có nhân thì mới có quả, phải đủ duyên thì mới thành, Muốn được giàu sang, xinh đẹp, thành công… thì phải tu phước, phải bố thí trì, giới, nhẫn nhục, phải học hành đàng hoàng để có nghề nghiệp, có năng lực làm việc… và cần phải có một thời gian dài, không thể một sớm một chiều mà thành tựu được. Ngài Mục Kiên Liên muốn cứu được mẹ thì cũng nhờ công đức tu hành từ vô lượng kiếp, rồi còn nhờ cái duyên thần lực của thập phương tăng, nhờ chú nguyện của mười phương Phật mà cái  tâm niệm ấy mới thành tựu!

- Lễ Vu Lan trong tháng bảy là lễ hiếu, lẽ ra phải hoan hỷ cớ sao người ta cứ bảo tháng bảy là tháng cô hồn? Dân chúng sợ tháng bảy xui xẻo vì cô hồn nên mọi người làm gì cũng kiêng kỵ và tránh né dữ lắm.

- Chú em lại lầm lẫn nữa rồi, mà nào phải chỉ có chú lầm, qúa nhiều người tà kiến sai vạy. Quan niệm tháng cô hồn là quan niệm dân gian, chúng ta chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu. Người Tàu cho là tháng bảy cửa ngục mở nên cô hồn ngạ quỷ lên dương gian, đó không phải Phật giáo! Phật giáo là đạo của trí huệ không chấp nhận sự mê tín. Phật giáo Bắc truyền bị tiên nhiễm bởi văn hóa Tàu, đạo giáo Tàu nên quần chúng mới có quan niệm sai lầm, hiểu biết lệch lạc như vậy!

Đến đây thì thằng Ý dường như cạn ý và nó cũng nhìn nhận ra những ý nghĩ sai lệch của nó. Nó không lý sự nữa, bấy giờ thì nó thủ thỉ tâm sự:

- Vậy rằm tháng bảy này mình nên phóng sanh, tụng kinh để hồi hướng công đức cho ông bà quá vãng, chúc sinh cho cha mẹ hiện tiền hén!

- Ừ, nhất định vậy rồi, không chỉ rằm tháng bảy, chúng ta sẽ làm bất cứ rằm nào hay bất cứ lúc nào mà chúng ta có thể, không nhất thiết phải đợi đến rằm tháng bảy mới làm. Các chùa làm lễ trong rằm tháng bảy vì là truyền thống, là cách để biểu diễn cho quần chúng thấy biết mà noi theo,

Thằng Ý đặt vấn đề:

- Vậy anh hãy viết chút gì đó về lễ Vu Lan nhé! Viết để tưởng nhớ, viết để chia sẻ cùng mọi người.

- Tất nhiên rồi!

Y thấy vui vui, cuối cùng thì thằng Ý tâm phục khẩu phục vì điều lành, vì thiện lương. Lòng y thấy phấn khởi, tâm phấn chấn khí thế bốc cao và sẵn sàng ngồi vào bàn viết ngay. Y nghĩ bụng mình sẽ viết văn hay làm thơ để tán thán công đức Phật, pháp, tăng để cúng dường; cứ xem như chút tâm hương của lòng thành dâng lên tam bảo. Chợt thằng Thân cựa mình, nó vốn chây ỳ và ù lì, chỉ thích ăn uống và nằm chình ình ra đấy. Nó chẳng muốn hoạt động chi cả, chỉ muốn hưởng thụ mà thôi. Nó thường chống đối những việc phải tốn công sức và tâm ý như: tụng kinh, ngồi thiền, làm công quả hay những việc chung...Dĩ nhiên nó chỉ muốn nằm xem phim chứ chẳng bao giờ hưởng ứng việc ngồi hàng giờ suy nghĩ viết lách. Thằng Thân càm ràm:

- Khéo vẽ bày nhiều chuyện! Sách vở đầy ra cả đấy, chuyện Vu Lan cũ rích có gì mới đâu để mà viết! Viết chi cho mệt xác, thời gian để viết ta cứ hưởng thụ chơi bời chẳng sướng hơn sao? Đời ngắn lắm, đừng bỏ phí!

Thằng Tâm vốn ngấm ngầm quan sát từ khi thằng Ý cà khịa cho đến tận lúc thằng Thân kêu ca, bấy giờ thằng Tâm phán:

- Đời ngắn ngủi lắm, vì vậy càng phải viết! Hổng viết thì mai kia hối tiếc vì chẳng kịp viết! Đúng là Lễ Vu Lan có tự bao đời rồi nhưng chữ hiếu thì vô cùng tận. Đời nối tiếp đời, sanh tử bất tận, đời sống muôn màu, dòng đời liên lỉ từ ngàn xưa đến nay vẫn vậy có gì mới đâu, vẫn hít vào thở ra, vẫn tạo nghiệp ác, nghiệp thiện, vẫn sanh già bệnh chết, vẫn thăng đọa triền miên. Tất cả cũ kỹ vô cùng nhưng tất cả cũng mới mẻ như thường, muôn đời qua đã thế, muôn đời sau cũng thế, muôn đời vẫn cứ thanh tân! Có vậy thì cuộc sống này mới có ý nghĩa để mà sống, mới hay cũ cũng chính tại chúng ta. Sơn hà đại địa này vốn cũ thế mà cũng mới vô cùng. Tâm niệm cũ kỹ nhưng vẫn mới trong từng sát na.

Thằng Thân ì ạch bước tới, vẻ mặt cau có khó chịu. Nó lấy tay chỉ vào giá sách:

- Kinh sách chất như núi, phim ảnh cả kho, viết chi nữa cho mệt, cứ nằm dài ra mà hưởng đi!

- Đúng như thế! Tài liệu chất như núi nhưng mỗi người là một bản thể khác nhau, cách nghĩ khác nhau, cách thể hiện khác nhau, mỗi thời đại có một cách trình bày khác nhau… Vả lại trong cái kho ấy và trong dân gian có không ít sai lệch tà vạy vì vậy cần phải viết để chấn tác, để cổ vũ cái hay cái đẹp. Viết để làm mới, tạo nét mới thêm hương sắc cho vườn hoa.

Thằng Thân đuối lý nên không nói gì nữa. Thằng Tưởng nó lêu lổng từ đâu đâu không biết, bất chợt quay về và xía vô:

- Thời đại công nghệ cao, kỹ thuật số, mạng Net phủ khắp nơi… Con người ta giờ chỉ xem phim ảnh, tiktok, face Book, Twitter, Instagram… Chẳng có ai đọc nữa đâu! viết chi cho uổng công phí sức!

Đến đây thì y chùng xuống, lòng thấy buồn quá, đây là một sự thật không thể tránh né, một sự thật phải chấp nhận và phải thích nghi theo thì mới sống được. Đây cũng là lẽ thường tình trong thế giới vô thường. Mọi vật, mọi việc thay đổi liên miên, thay đổi không ngừng dù chỉ là trong phút giây. Cái vòng quay của tiến trình thành – trụ – hoại – diệt chẳng chừa bất cứ ai hay bất cứ sự việc gì.  Điều thằng Tưởng vừa nói cũng chính là tâm sự của y và bao nhiêu người cầm bút khác. Đừng nói là sách vở trong đạo, ngay cả văn chương chữ nghĩa ngoài đời giờ cũng chẳng còn mấy ai đọc. Y phân vân chưa biết nói gì thì thằng Ý bênh vực cho y:

- Đành rằng là vậy! Tuy nhiên không phải tất cả mọi người, vẫn còn một bộ phận nhỏ độc giả tiếp tục đọc, say mê đọc, thiết tha với chữ nghĩa, yêu mến sách vở. Vả lại đã là con ong thì phải thụ phấn làm mật, là con tằmt hì phải nhả tơ. Viết không ai đọc vẫn viết, hơn nữa đây là việc cổ xúy cái đẹp cái hay, cái nhân văn. Ngoài đời thì góp hương hoa, trong đạo thì tạo phước đức cho người.

Thằng Thân bĩu môi:

- Phàm việc gì cũng phải nhắm đến kết quả, phải biết kết quả rõ ràng thì mới nên làm, còn như mơ hồ thì làm chi cho mệt xác!

Xưa nay thằng Thân vốn chỉ nghĩ đến cái lợi vì nó vốn tôn thờ chủ nghĩa vật chất. Nó thích hưởng thụ ngủ nghỉ, ăn chơi. Nó luôn luôn mong được ve vuốt nuông chìu. Nó lười biếng, ngại khó, không thích nhúc nhích, nhất là những việc mang tính chất tinh thần thì nó càng ghét. Chẳng mấy khi nó thuận  với thằng Ý hay thằng Tâm trong việc tác ý tu tập học hành hay làm việc ích lợi chung cho người, cho đời. Mỗi lần lên chùa nó cự nự gây khó dễ. Nó chỉ muốn đến nơi phồn hoa đô hội hoặc những chỗ ăn chơi, ngồi thiền thì nó kêu đau chân, mỏi lưng; tụng kinh nó tham mệt chỉ muốn di nằm, bởi vậy thằng Ý và thằng Tâm phải chống chọi với nó dữ lắm, đã vậy thằng Tưởng còn xúi giục thằng Thân làm những chuyện bậy bạ khiến cho nó thêm lười và càn quấy. Cũng không ít lần y nghe lời xúi của thằng Thân dẹp hết chuyện viết lách linh tinh để nằm dài xem phim cho sướng. Y cũng chìu thằng Thân và đã để cho nó sai khiến y nhiều việc lẽ ra không nên làm. Riêng việc viết bài cho hiếu hội Vu Lan sắp tới đây thì y quyết chí vượt qua sự chây lì của thằng Thân.

 

**

Mấy nay bận rộn quá, đi làm về là lăn ra ngủ, thằng Thân rên rỉ ca cẩm đủ điều. Nó muốn phải ngủ thêm nữa để bù những lúc đi làm trong khi ấy thì gian đã cận kề ngày rằm rồi, không khí mùa hiếu hội đã tràn ngập khắp các chùa. Mọi người về chùa làm công quả nấu nướng, dọn dẹp, trang hoàng cờ xí, chưng hoa quả… Y quyết định cuối tuần này phải đứng về phe thằng Tâm và thằng Ý để viết cho xong một truyện ngắn hay một bài tản văn về đề tài Vu Lan hiếu hội, trước cúng dường thập phương thường trụ tam bảo, sau dâng cho đời, cho những ai còn yêu thích chuyện chữ nghĩa văn chương. Thằng Ý và thằng Tâm hoan hỷ vô cùng, nó reo lên vui mừng vì cuối cùng y cũng đứng về phe nó, mặc cho thằng Thân và thằng Tưởng ra sức gây khó dễ và phàn nàn.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0723

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/10/2012(Xem: 6255)
Thekchen Choeling, Dharamsala, ngày 25 tháng 9 năm 2012 - Sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma an tọa vào chỗ ngồi của Ngài, vị đại diện của đoàn Phât Tử đến từ Việt Nam đã dâng tặng Ngài một cây hoa thường được trồng trong các khuôn viên chùa ở Việt Nam. Ngài cảm ơn vị đại diện và bắt đầu cuộc nói chuyện, 2012_09_25_Vietnam_N03"Hôm qua, chủ đề chính của tôi là đạo đức thế gian và hôm nay tôi muốn nói một chút về Phật Pháp. Thông thường, khi tôi nói chuyện về Phật giáo, tôi muốn giải thích một cái gì đó về các tôn giáo khác trên thế giới để mọi người có thể đánh giá cao tính năng độc đáo của giáo lý đạo Phật. Các học giả lớn của trường Đại học cổ Ấn Độ University of Nalandanhư ngài Long Thọ, Thánh Thiên (Aryadeva), Phân Biệt Minh Bồ Tát (Bhavaviveka), Tịch Hộ (Shantarakshita), và ngài Kamalashila, đã so sánh quan điểm triết học Phật Giáo với quan điểm không phải triết học Phật giáo một cách rõ ràng. Tại Ấn Độ, những quan điểm của Phật Giáo thường không bị thách thức và cách mà các học giả bảo v
25/09/2012(Xem: 9681)
Hiện có hai nguồn tin đối nghịch về Bột Nêm. Một bên cho rằng Bột Nêm KHÔNG AN TOÀN vì có chứa hai chất "sodium 5 va guanylate" (I&G).
25/09/2012(Xem: 7367)
Theo triết lý nhà Phật, Tâm là chủ thể tạo tác ra mọi thứ (Vạn pháp do tâm tạo), trong đó có tướng. Tâm là nhân mà pháp là quả.
23/09/2012(Xem: 7281)
Thế kỷ 21 đang chứng kiến nhiều đổi thay lớn lao trong những phát kiến khoa học. Xã hội phương tây ngày càng hướng về đời sống vật chất, hưởng thụ nhiều hơn. Đời sống tâm linh, đời sống Tôn giáo ngày càng như xa lạ đối với giới trẻ, thành tố cho một phạm trù cộng đồng nhân loại mới. Khi một xã hội, mà con người chỉ lo tìm cách giành dựt lợi nhuận, dối trá trong cư xử và tàn bạo trong cuộc cờ “mạnh được yếu thua”
21/09/2012(Xem: 13119)
"Heartwood of the Bodhi tree" (Cốt lõi của cội Bồ-đề) - Buddhadasa Bhikkhu, Hoang Phong chuyển ngữ
18/09/2012(Xem: 12949)
Qua bài viết này, người viết mong rằng sẽ góp một phần nhỏ kiến thức về ý nghĩa chân thật về Phật giáo đối với Phật tử đi chùa.
14/09/2012(Xem: 21956)
Thế giới đang sử dụng Thiền như thức ăn như nguồn sống không thể thiếu trong cuộc đời thường. Ngay ở nước Mỹ, quốc gia tân tiến bậc nhất về khoa học kỹ thuật cũng đã áp dụng Thiền như một phương thuốc trị liệu tâm lý.
14/09/2012(Xem: 8696)
Tất cả những pháp môn tu chỉ nhằm chuyển hóa tâm thức, vì chỉ có chuyển hóa tâm thức. Nhìn trên căn bản, mỗi người tu Phật cần thực hành hai phương diện. Thứ nhất, hành giả phải có khả năng rút khỏi xã hội một thời gian nhất định nào đó, có thể vài giờ, vài ngày, vài tháng hoặc vài năm... Thứ hai, có khả năng đem những kinh nghiệm từng trãi nơi tịnh tu vắng vẻ cống hiến lại cho cuộc đời, cho những người hữu duyên và cho chính cuộc sống hằng ngày mỗi chúng ta. Như hơi thở ra và hơi thở vào, cả hai đều cần thiết như nhau. mới phổ độ chúng sanh một cách chân thật.
14/09/2012(Xem: 9058)
Mấy năm trước, nhân dịp Đức Dalai Lama đến thăm thung lũng Lahoul nơi chúng tôi tu tập ở Ấn Độ; lúc đó Ngài trú lại một tuần để thăm viếng, ban lễ điểm đạo và giảng pháp. Sau buổi thuyết pháp dài mấy tiếng đồng hồ, tôi hỏi một phụ nữ Lahoul rằng: “Bác có biết Đức Dalai Lama giảng gì không?”. Bác gái trả lời: “Dạ, con không hiểu nhiều nhưng con biết Ngài giảng là, nếu ta có lòng từ bi thì đó là điều tốt”. Đúng vậy, cơ bản là như thế. Đâu có gì đáng nói hơn thế nữa phải không? Nếu chúng ta có lòng từ bi, điều đó không tốt lắm sao? Vậy từ bi nghĩa là gì?
12/09/2012(Xem: 6507)
Đã có một trong những sự phát triển sâu xa , xuất hiện từ thế kỷ 20 , tác động đến đời sống của hàng tỷ người , nhưng vẫn chưa được chú ý rộng rãi . Bên cạnh những biến đổi đầy ấn tượng về chính trị và xã hội , những phát triển về khoa học và công nghệ , cùng những hệ thống mới trong lãnh vực vận tải và truyền thông , các sử gia tương lai chắc chắn sẽ quan tâm đến sự tự do tương đối . Họ sẽ nhận thức rằng chính sự tự do tương đối đã trước hết diễn dịch rồi sau đó định hình cho cá tính của từng con người ; cuối cùng mang lại quyền tồn tại cho loài người . Tuy những yếu tố quen thuộc tạo nên tự ngã , như là tính cách sắc tộc , khu vực định cư , dòng dõi , gia đình …vẫn hiện diện , nhưng những yếu tố đó không còn quan trọng vì một chuỗi những yếu tố độc đặc mới xuất hiện trong thế kỷ 20 . Cho nên khi đã hoàn toàn chấp nhận các ý niệm dân chủ tự do như một bản chất thực nghiệm làm nền để xác định ý nghĩa của việc làm người , hiếm khi chúng ta xem xét những ý niệm đó đã làm biến đổi hình th
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]