Văn Tế Thập Loại Cô Hồn

18/07/202120:51(Xem: 8674)
Văn Tế Thập Loại Cô Hồn
 VĂN TẾ THẬP LOẠI CÔ HỒN
 
thap-loai-co-hon-2

        Nơi gia đình chúng tôi sinh sống, có một nhóm người gốc BÌNH TRỊ THIÊN. Đặc tính cố hữu của bất cứ dòng tộc, quê quán nào khi người Việt đi đến đâu là luôn mang theo phong tục tập quán vùng miền cổ truyền nơi họ đã sinh ra. Đến nơi ở mới, họ cố gắng duy trì tập quán đó, vì họ thấy rất rõ phong tục tập quán chính là diền mối lễ nghĩa duy trì lễ giáo gia đình, duy trì nền nếp thiết lập hạnh phúc cho con cháu.

       Nơi chúng tôi sinh sống, phần lớn là người Việt từ Campuchia, do bị nạn Cáp duồng của Khơmer Đỏ mà phải di tàn về Việt Nam. Đặc biệt cuộc di tản ấy do một vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo là một Cha Đạo ( Linh mục ) tổ chức. Do đó cư dân khu vực chúng tôi sinh sống, được gọi là ấp VIỆT KIỀU và là của Họ Đạo Russeykeo.

        Nguyên thủy cư dân địa phương nầy 90% là người Thiên chúa giáo.

        Người Bình Trị Thiên, do từ phong trào Kinh tế mới di dân tự túc đến sau… Do đất lành nên chim đậu; người Bình Trị Thiên hiền lành chơn chất đã chan hòa quần cư với người Việt Kiều .

         Tuy nhiên “ hòa nhi bất đồng” . Người BTT cộng cư với người Việt Kiều, nhưng không dễ bị đồng hóa. Họ đã tự thủ thân, tìm đến với nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, trên nền văn hóa tín ngưỡng cổ truyền, phong tục tập quán cố hữu, do đó hình thành được HỘI ĐỒNG HƯƠNG BÌNH TRỊ THIÊN tại Xã Xuân Hiệp ( Nay là xã SUỐI CÁT, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) nầy.

         Trong số hội viên sinh hoạt có anh TÌNH là người rất nhiệt tình lý tưởng ấy, đã hiến một phần đất thổ cư cho hội, để Hội ĐH xây dựng Hội Quán cho hội viên sinh hoạt.

          Từ Hội Quán phát triễn thành ĐÌNH . Dĩ nhiên ĐÌNH thì phải là ĐÌNH LÀNG, Mái chùa đầu xóm, đình làng giữa thôn.

           CHÙA thờ Phật, ĐÌNH thờ Thần, là cơ sở TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN. Phật,Khổng, Lão là một tôn giáo đặc thù, là một tổng hợp triết lý, triết học ĐỘC SÁNG của Người Việt Nam chúng ta

 

            Ai từng học với Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, ai từng đọc bộ Tư Tưởng TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG của vị Tiến Sĩ Hóa Học đầu tiên của Việt Nam, từng là GIÁM ĐỐC CỐ VẤN cho nhà máy dệt NAM ĐỊNH, từng là KHOA TRƯỞNG PHÂN KHOA KHOA HỌC NHÂN VĂN, VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH, thì không thể không tiêm nhiễm tư tưởng THÂU HÓA SÁNG TẠO của Cụ NGUYỄN.

Bản thân chúng tôi, tuy thâm nhiểm tư tưởng Phật học, nhưng luôn tùy nghi thích ứng với tư tưởng các tôn giáo khác… do đó gia đình chúng tôi cũng đã tự nguyện vào hội Đồng Hương BTT

           Đề cương lý tưởng quán xuyến của Hội, cụ thể, khi gia đình hội viên,có người cao tuổi ai ốm đau, Ban chấp hành Hội cử người thăm viếng, tặng chút quà nho nhỏ tượng trưng. Ai quá vãng, Hội cử người đến hỗ trợ Nghi Lễ, nhất là phần nghi lễ cổ truyền.

            Từ trước đến nay, tại ĐÌNH của Hội duy trì Cúng Tế Ba lễ lớn hàng năm : MINH NIÊN, TRUNG NGUYÊN, và TẤT NIÊN… Trong ba lễ TẾ THẦN luôn kèm theo một nghi lễ phụ thuộc là CÚNG CÔ HỒN.

             Trước tôi, từng đã có các cụ Trưởng Lão phụ trách vai GIA LỄ … Nay các cụ nắm tay nhau về trình diện Tổ tiên ông bà… Khuyết người, không ai phụ trách, tôi nghiêng vai phụ gánh …

              Khi phụ trách GIA LỄ, phần nghi TAM HIẾN cúng thần tôi giữ đúng nghi Cúng thần của người BTT… Nhưng đến phần Nghi lễ CÚNG CÔ HỒN, tôi đã tự CẢI BIÊN…Phần tụng, tôi tụng đúng theo NGHI THỨC CÚNG CÔ HỒN trong các cuốn NGHI THỨC NHẬT TỤNG của PG Riêng phần ĐIỆP CÚNG tôi đã viết phụ họa bài VĂN TẾ nầy, học và mô phỏng theo phong cách của TỐ NHƯ TIÊN SINH, khi Ngài viết VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH…

                  Tôi không biết đã từng có ĐÀN TRÀNG SIÊU LINH BẠT ĐỘ nào đọc tụng bài sám của Cụ TỐ chưa! Hầu hết các bậc thượng thủ, thế hệ trước đều đọc tụng theo nghi thức Ngài BÍCH LIÊN phụng soạn.

                   Riêng bài VĂN TẾ nầy tôi đã năm lần bảy lượt đọc cúng tại ĐÌNH SUỐI CÁT,… Đặc biệt, tôi từng cảm ứng các vị đã lắng nghe và đã hoan hỷ hưởng thọ lễ phẩm …

VĂN TẾ

THẬP LOẠI CÔ HỒN

CUNG DUY

Bình Trị Thiên quê nhà chốn cũ

Khí anh linh hội tụ sâu dày

Sinh cơ lập nghiệp Đồng Nai

Xã nhà Xuân Hiệp dựng xây cơ đồ.

Tiết trung nguyên huyền hồ phổ độ

Thiết lễ nghi bày tỏ lòng thành

Mười phương Trời Phật chứng minh

Đàn tràng lai giáng hiễn linh ngưỡng nguyền.

Rượu ba tuần tinh truyền kính chước

Trà ba phen vị ngọt kính dâng

Trước xin kính ngưỡng thiên ân

Sau xin kính lạy tôn thần chứng tri.

Chủ tế giữ oai nghi tế hạnh

Bồi bái cùng đoan chánh thân tâm

Ba lần triệu thỉnh thiện thần

Mười phương chứng giám quang lâm độ trì

Nếp nhà được uy nghi đạo nghĩa

Cháu cùng con mạnh khỏe sum vầy

Lộc tài sung mãn tháng ngày

Hồng ân ghi tạc quý ngài chứng tri.

Nay xót nghĩ huyền vi máy tạo

Tiết trung nguyên áo não đất trời

Gió mưa bao nổi ngậm ngùi

Xót người chín suối khôn nguôi lệ lòng.

Nào những kẻ duỗi rong non biển

Vục cá tôm hay kiếm gió trầm

Nào ngờ hỏng bước sa chân

Biển non gửi lại tấm thân lạc hồn.

Người khí phách sóng cồn vũ lực

Trĩu hai vai nợ nước nợ nhà

Mũi tên làn đạn xông pha

Mộ vùi nông giữa mưa sa trận tiền.

Xót thương kẻ triền miên xuôi ngược

Đói miếng cơm chén thuốc đồng tiền

Bán buôn tần tảo dưới trên

Chân sa nước lũ thác ghềnh cuốn trôi.

Nào những kẻ gốc cây quán chợ

Lê tấm thân góc xó xin ăn

Ốm đau gục chết bất thần

Hồn vô định ấy mộ phần giờ đâu !

Lại xót kẻ yêu nhau oan nghiệt

Mẹ cha thương hơn thiệt cản ngăn

Thuốc rầy thuốc chuột đoạn căn

Bây giờ hồn dẫu ăn năn muộn rồi.

Xót thương ai tiền chuôi bạc nén

Cặp xách tay léng phéng thương trường

Súng dao du đảng chận đường

Nát thân phu trượng khói hương quên ngày.

Thảm thương người xa bay mộng ước

Lên chuyến xe xuôi ngược công danh

Nào ngờ tai nạn giao thông

Chết trong tức tưởi bần thần hồn oan.

Kể sao xiết tân toan vạn mối

Đo sao cùng những nỗi oan khiên

Nay xin thắp nén hương nguyền

Ngưỡng cầu siêu độ cảnh tiên mau về

Nào ai kẻ hôn mê sút sảo

Giọt máu rơi cây gáo gốc đa

Đoãn phần số mạng anh hoa

Nay ngôi báu cõi thiên hà về nương.

Xét gốc tội trăm đường vạn mối

Tham sân si lửa ấy trót nhen

Thiện tâm nhận đáy bùn đen

Hồn nay vất vưỡng tuổi tên khôn tường.

Hồn đọa lạc tha hương lữ thứ

Nẽo u đồ cương tỏa ngày đêm

Đọa đày nước khát cơm thèm

Không ai phụng tự biết tìm đâu nương.

Nay Bổn Hội chiêu hồn phụng cúng

Thiết lễ nghi nhật dụng kính dâng

Viên thành đạo nghĩa do tâm

Dâng lên ân đức chư thần xót thương.

Ba tuần trà nước trầm hương

Cúi xin giọt nước cành dương tẩy trần

Cúi xin chư vị thiện thần

Tiếp đưa vong thoát trầm luân u đồ

Nguyện xin vong mơ hồ lai vãng

Gạo muối nầy tài sản tư lương

Ba tuần chí nguyện khói hương

Rước hồn về cõi Tây Phương thanh nhàn

Hồn có tưởng trần gian xin hãy

Độ trì cho hết thảy ngoài trong

Lộc tài ân nghĩa thong dong

Cơ ngơi bền vững đất Đồng Nai đây.

Hội đồng hương chấp tay kính bái

Sớ kính dâng quỳ lạy tôn thần

An hòa phù độ nhân dân

Thái bình thịnh trị bội phần ngưỡng mong

Ngày 16 tháng 7 năm Giáp Tuất

Hội Ái Hữu Đồng Hương Bình Trị Thiên

CÚI ĐẦU DÂNG SỚ

HẠNH PHƯƠNG

Chấp bút

 



***
youtube
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/03/2021(Xem: 13274)
Huế, cố đô một thời, là thành phố nhỏ bé như vậy mà lại có nhiều chùa nhất so với các miền khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bởi, nơi đây có chiều dài lịch sử lập quốc của nhà Nguyễn từ khi người đầu tiên khai mở là Nguyễn Hoàng, muốn tránh sự sát hại của người anh rể là Trịnh Kiểm nên xin đi xa vào Nam để khai khẩn đất hoang theo sự vấn kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua câu phán: “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.“ Và, Chùa Thiên Mụ danh Tự có từ đó. Đứng đầu bảng trong 10 ngôi chùa nổi tiếng tại Huế.
07/03/2021(Xem: 8870)
“Ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp”. Đây là lời dạy của đức Phật dành cho tỷ-kheo Vakkali. Lời dạy này được ghi lại trong Kinh Tiểu Bộ và Kinh Tương Ưng; do Hòa thượng Minh Châu dịch từ tiếng Pàli sang tiếng Việt. Trước khi tìm hiểu lời dạy trên của đức Phật, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về ngài Vakkali một chút.
06/03/2021(Xem: 7473)
Kính bạch Thầy nhân ngày phụ nữ sắp tới và còn trong tháng giêng, con chợt nghe bài hát này , nhớ đến trong bài pháp thoại Thầy kể về cụ bà Tâm Thái . Kính dâng bài thơ này đến Cụ Bà Tâm Thái và những bà mẹ từ thôn quê đến thị thành nhân ngày phụ nữ . Kính, HH Lễ hội 8/3 ngày phụ nữ bình đẳng ! Những bà mẹ quê ....từ sáng tinh mơ, Có khi nào nghĩ đến quyền lợi bao giờ. Sáng chiều vất vã hy sinh trong lặng lẽ !
27/02/2021(Xem: 11827)
Myanmar, đất nước chùa tháp, đang khổ đau. Hưởng ứng lời hiệu triệu kêu gọi của chư tôn tịnh đức tăng già Phật giáo “vì dân, do dân và của dân”, hàng triệu người dân trong mọi tầng lớp đã đổ ra đường phố ở các thị trấn và thành phố trên khắp đất nước Phật giáo Myanmar để phản đối cuộc đảo chính của chế độ độc tài quân sự Myanmar, đã lật đổ Chính phủ dân cử của nhà vô địch dân chủ kỳ cựu, nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) vào ngày 1 tháng 2 vừa qua.
25/02/2021(Xem: 15955)
Phần này bàn về cụm danh từ "khoa học" trong tiếng Việt từ thời bình minh của chữ quốc ngữ đến nay. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "The Emergence of the Modern Sino-Japnese Lexicon – Seven Studies" (chủ biên/dịch giả Joshua A. Fogel – NXB Brill – Leiden/London 2015), và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
25/02/2021(Xem: 12617)
Vào hôm thứ ba, ngày 16 tháng 2 vừa qua, Đoàn thể Phật giáo Myanmar đã Tuần hành phản kháng chế độ độc tài quân sự Myanmar, tham gia chiến dịch chấm dứt chế độ độc tài quân sự Myanmar dưới sự cai trị hung hãn của các tướng lĩnh quân đội, và trả tự do cho các nhà lãnh đạo bị giam giữ của Chính phủ dân cử bị lật đổ, bao gồm cả nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD).
23/02/2021(Xem: 12760)
Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng về việc xây dựng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) và các cơ sở dân sự ở các khu vực khác ngoài Ladakh, một khu vực ở bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ. Nó kéo dài từ Siachen Glacier trong phạm vi Karakoram đến Himalaya ở phía nam và có người gốc các dân tộc Ấn-Arya và Tây Tạng, chẳng hạn như dọc theo biên giới tranh chấp ở Vương quốc Phật giáo Bhutan và Arunachal Pradesh, một trong hai mươi chín bang của Ấn Độ.
23/02/2021(Xem: 14108)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 19986)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17213)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.