Một Tu Sĩ Giản Dị

18/03/202118:17(Xem: 9711)
Một Tu Sĩ Giản Dị
MỘT TU SĨ GIẢN DỊ
 
Nguyên tác: A Simple Monk
Tuệ Uyển chuyển ngữ

 His-holiness-Dalai-Lama-3



MỘT TU SĨ GIẢN DỊ

Tenzin Gyatso, người được những tín đồ và những người ngưỡng mộ ngài tôn xưng là Đức Thánh Thiện Đạt Lai Lạt Ma, tự gọi ngài là một thầy tu giản dị. nhưng ngài hơn thế ấy rất nhiều. Ngài là lãnh tụ tinh thần và tôn giáo, nguyên thủ của chính quyền lưu vong Tây Tạng, một vị thầy, một nhà du hành quốc tế, một học giả nổi tiếng, tác giả của nhiều quyển sách, và là một diễn giả và giảng sư được săn đón. Năm 2007, trong một buổi lễ ở thủ đô Hoa Sinh Tân D.C., để trao tặng Huân Chương Vàng Quốc hội Hoa Kỳ[1], Chủ tịch Hạ Viện Nancy Pelosi đã nói: “Với hàng triệu người kính tin và ngưỡng mộ, ngài là một nguồn cội của tuệ trí và từ bi. Đối với những người trẻ, ngài là một gương mẫu tích cực của vấn đề làm cho thế giới là một nơi tốt đẹp hơn như thế nào.”

Đồng bào Tây Tạng xem ngài như một biểu tượng của tự do tôn giáo và hy vọng tốt đẹp nhất cho việc độc lập khỏi Tàu Cộng. Từ 1950, quốc gia Tây Tạng đã bị chiếm đóng bởi lực lượng quân sự Tàu Cộng và tuyên bố như một phần của quốc gia ấy, vốn không bao dung cho Phật giáo Tây Tạng hay bất cứ tôn giáo nào khác. Năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma và hàng nghìn người khác đã đào thoát khỏi Tây Tạng để tránh sự đàn áp tôn giáo và ngày nay họ vẫn sống lưu vong. Trong khi ấy, qua một đám đông những người Hán ào ạt định cư tại Tây Tạng, người Hoa hiện đông hơn người Tây Tạng trong xứ sở của chính họ.

Từ khi đào thoát sang Ấn Độ, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tận dụng không mệt mõi vị trí của ngài như lãnh tụ tôn giáo và chính trị của người Tây Tạng để cho toàn thế giới biết về những sự kiện trong xứ sở của ngài và cố gắng để tác động đến chính quyền Tàu Cộng đồng ý để đạt được một mức độ nào đó của sự tự trị cho dân tộc của ngài. Những mục tiêu khác của ngài là bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng, vốn ngài tin tưởng rằng có nhiều cống hiến cho thế giới.

Đồng bào Tây Tạng gọi lãnh tụ của họ bằng nhiều danh hiệu. Một ít trong số này là Kundun, Yishin Norbu, Kyabgon, và Gyalwa Rinpoche. Trong tiếng Anh có nghĩa là “Presence,” “Savior,” “Wish-Fulfilling Gem,” và “Precious Victor.” Tiếng Việt tạm dịch là “Đấng Thị Hiện,” “Đấng Cứu Độ,” “Ngọc ước Toại Nguyện,” và “Đấng Chiến Thắng Tôn Quý.” Những danh hiệu khác bao gồm “Holy One,” “Glorious One,” “Mighty of Speech,” “Excellent Understanding,” “Absolute Wisdom,” “Defender of the Faith,” and “Ocean.” Tiếng Việt là “Đức Thánh Thiện,” “Đấng Vinh Quang,” “Đấng Ngôn Từ Toàn Năng,” “Đấng Thông Hiểu Tuyệt Hảo,” “Đấng Tuệ Giác Vô Thượng,” “Đấng Thủ Hộ Niềm Tin,” và “Đấng Đại Dương.”

Trong lời nói đầu quyển sách của ngài Tự Do trong Lưu Đày: Tự Truyện của Đạt Lai Lạt Ma, Đức Đạt Lai Lạt Ma tự định nghĩa ngài:

Đạt Lai Lạt Ma có những ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau. Đối với một số người nó có nghĩa Tôi là một vị Phật Sống, hóa thân trên trái đất của Đức Quán Thế Âm, vị Bồ tát của Từ Bi. Đối với những người khác nó có nghĩa rằng Tôi là một vị “Thánh Vương” (god king). Vào cuối những năm 1950 nó có nghĩa là Phó Chủ Tịch Quốc Hội của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Sau đó, khi tôi đào thoát lưu vong, tôi bị gọi là một kẻ phản cách mạng và một kẻ ăn bám. Nhưng không có điều nào trên đây là khái niệm của tôi. Đối với tôi “Đạt Lai Lạt Ma” là một danh hiệu biểu thị văn phòng tôi làm việc [chức vị tôi đảm đương]. Tự chính tôi chỉ là một con người, và nhân đây là một người Tây Tạng, người chọn lựa làm một tu sĩ Phật giáo.

MỘT VỊ THẦY LỚN

Danh hiệu “đạt lai” có nghĩa là “đại dương” trong tiếng Mongolia. Chữ “lạt ma” đơn giản có nghĩa là “vị thầy,” tương tự như thuật ngữ “guru” (đạo sư) trong tiếng Sanskrit. Gộp chung lại, có thể được diễn dịch là “vị thầy đại dương” hay “đạo sư đại dương” do bởi chiều sâu của tuệ trí và từ bi của ngài. Có hàng nghìn lạt ma trên thế giới. Họ được dạy và thực hành Phật giáo chỉ ở Tây Tạng và Mông Cổ, vùng Trung Á, nhưng bây giờ rải rác khắp thế giới. Mỗi lạt ma phải trải qua một sự rèn luyện sâu rộng về triết lý và nghi lễ Phật giáo Tây Tạng trước khi được cho phép giảng dạy. Trong cách này, họ tương tự như những tu sĩ Thiên Chúa giáo La mã, những mục sư Tin Lành, những giáo sĩ Do Thái, giáo sĩ Hồi giáo, những người phải được rèn luyện trong những niềm tin tương ứng cho đến khi thấy rằng đủ năng lực để giảng day và thuyết giáo. Mặc dù thế, có một sự khác biệt rất lớn tách rời những lạt ma Phật giáo khỏi những đối tác của họ trong hầu hết những tôn giáo khác trên thế giới. Theo sự tính toán của Phật giáo Tây Tạng thì hầu hết những vị lạt ma là hàng trăm tuổi.

Vì Phật giáo tin tưởng vào sự tái sinh – rằng khi một người chết đi, tâm thức của họ được tái sinh trong một thân thể khác – họ tin những vị thầy lớn sở hữu tâm thức vốn sẽ trở lại, từ đời này sang đời khác, để hướng dẫn họ. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một vị thầy lớn. Trong thực tế, người Tây Tạng tin rằng tất cả mười bốn Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngược lại những năm 1300, cùng sở hữu một tâm thức. Do bởi niềm tin này, họ tôn kính Đức Đạt Lai Lạt Ma, xem ngài như một vị Thánh Vương.

Mặc dù nhiều người không phải Phật tử không tin vào sự tái sinh – và, do thế, không cùng chia sẻ niềm tin trong nhiều kiếp sống của ngài – nhưng hàng triệu người khắp thế giới  vẫn có niềm tôn kính vô vàn với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sự lạc quan hoàn toàn, dáng vè tích cực, sự thông minh nhanh lẹ, sự tiếu lâm rạng rở,  cảm  nhận hiển nhiên của sự bình an nội tại của ngài, cũng như sự quan tâm rõ ràng cho tất cả mọi người, đã là cảm hứng cho mọi người ở tất cả mọi đức tin. Đối với nhiều người, đó là một hiện tướng kỳ lạ - luôn luôn ăn mặc trong y áo màu nâu đỏ và vàng kim, tuy thế, đeo cặp kính hiện dại và đôi giày nâu Oxford – làm họ tò mò. Đối với những người khác, đó là thái độ trầm lặng, khiêm tốn của ngài, nụ cười mĩm luôn trên đôi môi, cùng tiếng bật cười nhanh chóng và chân thành của ngài.

Tuy thế, không phải tất cả mọi người cùng chia sẻ ý kiến cao cả của vị tu sĩ đáng kính này. Ngài từng bị gọi là một kẻ phản cách mạng và một kẻ ăn bám bởi nhà cầm quyền Tàu Cộng. Một số người thấy những nổ lực để bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng của ngài như cản đường tiến triển – bám vào quá khứ phong kiến. Một số tin rằng ngài tạo ra rắc rối bất cứ khi nào ngài đi hay bất cứ điều gì ngài làm là vì danh tiếng của chính ngài hay vì lợi lạc tiền bạc. Một số đồng bào của ngài không đồng ý với chương trình của ngài. Bất chấp mọi tranh luận, mọi người trên khắp thế giới được Đức Đạt Lai Lạt Ma truyền cảm hứng và thích thú để nghe những gì ngài nói, mặc cho sự khởi đầu khiêm tốn của ngài trong một vùng xa xôi hẻo lánh của Trái Đất.

***
Trích từ The Dalai Lama (People in the News)
Tuệ Uyển chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/11/2015(Xem: 16437)
Chuyến tàu chở chúng tôi từ Paris về ga Saint Foy La Grande đúng không sai một phút. Xuống tàu tìm mãi không thấy ai đón. Chúng tôi ra ngoài cửa ga đợi nửa tiếng vẫn không thấy ai. Thế là bắt đầu sốt ruột. Tìm lại trong người và hành lý thì hoàn toàn không có điện thoại của Làng Mai, không có địa chỉ. Nghĩ lại thấy mình thật là không cẩn thận, không chu đáo. Biết đi đâu bây giờ. Từ ngày rời Việt Nam tôi không hề dùng điện thoại, chỉ check email và vào facebook up tin một chút vào buổi tối mới mà thôi.
05/11/2015(Xem: 22727)
Chúng con, một nhóm PT mới dịch xong cuốn quotations "All You Need Is Kindfulness " của Đại Sư Ajahn Brahm. “Kindfulness” là danh từ mới do Ajahn Brahm đặt ra để chỉ “mindful” nghĩa là “sati”, tỉnh thức (hay thường được gọi là chánh niệm) với “kindness”- tâm từ ái. Ajahn luôn luôn nhấn mạnh rằng chỉ chánh niệm không thôi chưa đủ mà chúng ta cần phải thêm vào đó cái "nguyên tố kỳ diệu của tâm từ ái".
31/10/2015(Xem: 19296)
rang mạng Buddhaline.net, một trang mạng Phật giáo rất uy tín vừa phổ biến lá thư số 139 (tháng 10/2015) với chủ đề "Thiền Định", nhằm đánh dấu 15 năm thành lập trang mạng này, và đồng thời kêu gọi những người Phật tử khắp nơi hãy hưởng ứng chương trình "24 giờ thiền định cho Địa cầu" ("24 heures de méditation pour la Terre") sắp được tổ chức trên toàn thế giới.
26/10/2015(Xem: 15418)
Trung tuần tháng10 tới đây, tại La Residence Hue Hotel & Spa (số 5 – Lê Lợi Huế), bà Tạ Thị Ngọc Thảo - một người được biết đến không chỉ với tư cách của một doanh nhân bản lĩnh của thị trường bất động sản mà còn là một cây bút sắc sảo nhưng không kém phần trìu mến trong câu chữ - sẽ ra mắt độc giả cuốn “Thư Chủ gửi Tớ” của chị. Đây cũng là những góc nhìn dưới nhiều khía cạnh của một doanh nhân am hiểu và tự tin, không chỉ trong lĩnh vực sở trường của mình.
24/10/2015(Xem: 16506)
Ajahn Sundara là một ni sư người Pháp, sinh năm 1946. Khi còn trẻ bà học vũ cổ điển và hiện đại, và đã trở thành một vũ công nổi tiếng, đồng thời cũng là giáo sư vũ hiện đại. Thế nhưng bà luôn suy tư và khắc khoải về những gì khác sâu xa hơn. Năm 1978 sau khi tham dự một buổi nói chuyện của nhà sư Ajahn Sumedho về cuộc sống của một nhà sư dưới chiếc áo cà sa, bà đã xúc động mạnh, và cảm thấy dường như một con đường mới vừa mở ra cho mình.
22/10/2015(Xem: 19736)
Khi vừa thức giấc mỗi ngày Bạn ơi hãy nghĩ thân này hôm nay Thật là may mắn lắm thay Vẫn còn tỉnh dậy với đầy niềm vui.
22/10/2015(Xem: 13787)
Ni Sư Ayya Khema sinh năm 1923, cha mẹ theo đạo Do Thái. Thời thơ ấu bà sống ở Bá Linh. Sau một thời gian nghiên cứu, thực hành thiền Phật giáo, Ni sư bắt đầu truyền dạy Thiền khắp thế giới. Năm 1978, Ni sư thành lập tu viện Theravada Wat Buddha Dhamma, nằm trong một khu rừng, gần Sydney, Úc. Ni sư cũng thành lập Trung Tâm Nữ Phật tử Quốc Tế (International Buddhist Women’s Center) và Đảo Parappuduwa dành cho các Ni (Parappuduwa Nuns Island), tại Tích Lan.
21/10/2015(Xem: 20667)
Trong bài giảng dưới đây, nhà sư Ajahn Sumedho, giải thích thật khúc triết và minh bạch thế nào là khổ đau và sự Giác Ngộ qua các thể dạng vận hành tinh tế của tâm thức, Cách giải thích vô cùng sâu sắc và trong sáng đó cho thấy ông là một vị thiền sư ngoại hạng. Thật cũng không lấy làm lạ bởi vì ông là đệ tử của nhà sư Thái Lan Ajahn Chah (1918-1922), một trong số các vị thiền sư lỗi lạc nhất của thế kỷ XX.
18/10/2015(Xem: 13284)
Nhật báo Figaro ngày 14 tháng 10, 2015 có một bài báo tố cáo một lò sát sinh tại một quận lỵ ở Pháp vi phạm các quy tắc y tế về việc giết mổ súc vật. Độc giả có thể xem hình ảnh vô cùng hung bạo và độc ác của lò sát sinh này trên YouTube. Đối với những người Phật giáo thì sau khi xem cũng nên liên tưởng đến những miếng ăn ngon của mình.
14/10/2015(Xem: 10156)
Đức Phật dạy: “Nhứt thiết duy tâm tạo” tất cả đều do tâm tạo, “...Duy ngã độc tôn” “cái ta” là tối cao và quan trọng nhất, quyết định tất cả, thành Thánh thành Phật, hay thành ma thành quỷ, lên thiên đàng vào địa ngục cũng do “cái ta”. Đối với “chân tâm” không có “cái ta” là “nhất minh tinh, lục sanh hòa hợp” tức lục căn: thấy, nghe, biết...rõ ràng, mà không phân biệt, dính mắc với lục trần, đó là “tâm” của người chân tu, giải thoát. Nhưng đối với “vọng tâm” “tâm lỗi lầm” của thế gian thì trong Tương Ưng Bộ Kinh, Phật dạy có 4 hạng người: