Học Lời Thầy Trao.

12/19/202007:36(View: 8226)
Học Lời Thầy Trao.
Học Lời Thầy Trao.
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-15
Lối xưa người đến dạo chơi,
Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao.
Thênh thang mây trắng hôm nào,
Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.

Lặng nghe Thầy Tụng âm kinh,
Uy hùng Đức hạnh, dáng hình thong dong.
Bái song thân vào cửa không,
Phật Học Quảng Trị, ngỏ lòng tự do.

Thiền môn nhịp mỏ tròn vo,
Chuông ngân vang khắp, chuyến đò qua sông.
Dòng Thạch Hãn, nước xanh trong,
Chú Tiểu thửa ấy, thuộc lòng Công phu.

Chấp trì nguyện chí chân tu,
Bái Ngài Chánh Trực, giả từ song thân.
Chấp lao phục dịch đền ơn,
Ươm mầm hạnh tuệ, hương thơm vang ngần.

Giới kinh, luật Mật muôn phần,
Pháp hoa, kinh tạng, soi tầm chiêm sâu.
Thầy dung dị nói từng câu,
Khiêm cung lấy hạnh, bấy lâu nay rồi.

Thân mang bệnh trả cho đời,
Nuôi tâm xuất chí, từng lời Di ngôn.
Đi về tâm Phật thổi hồn,
Nuôi từng ý nguyện, Giác Chơn Tên Thầy.

Từ nhiếp độ hạnh dung đầy,
Dạy trao đồ chúng, chữ Này giản đơn.
Sáu bảy năm sống biết ơn,
Trải phần hoá độ, chẳng hờn chi ai.

Truyền trao Chánh pháp Như Lai,
Ngộ từng con chữ, chẳng phai bao giờ.
Liễu nhiên an trú vầng thơ,
Nhất thành hơi thở, ra vô kiếp người.

Nhẹ nhàng tâm hạnh sáng ngời,
Dạo quanh chùa Củ, nhặt lời Huân nhiên.
Thả thân tịnh cảnh nhiếp thiền,
An vui tự chủ, giữa niềm Trời Tây.

Chấp trì niệm Phật hương bay,
Đến như giấc mộng, thân này trả xong.
Chốn cảnh tịnh giữa Huyền không,
Thu thần Tịch diệt, một lòng Tây phương.

Thất chúng đệ tử tâm hương,
Kim Tiên chốn Tổ, chơn thường ghi ơn.
Thành tâm bái vọng tri âm,
Mong Thầy Tái hiện, muôn phần Đời Con.


       Kính bạch giác linh Ôn, hơn 67 năm Ôn thác tích giữa chốn Hồng Trần, hơn 27 năm mùa hạ An cư, Ôn là vị Danh Tăng mô phạm cho tất cả thất chúng đệ tử noi gương.
        Một đời tu sĩ không thị phi hơn thua, không tranh ghế quyền uy, không so đo tính kế, không vọng ngôn hai lời, mà chính Ôn luôn học theo lời Thầy thế độ, Ngài thượng Chánh hạ Trực, bậc mô phạm Tùng lâm uy Đức, cho Tăng tín đồ Phật giáo Quảng Trị.
         Một đời khiêm cung, luôn dành phần hơn cho người khác, giản dị vô cùng như chiếc áo nâu sờn bạc phai màu, chiếc xe Honda Cúp 86 ngày trước Ôn vẫn dùng trong suốt thời gian hành hoá, hay giữ gìn oai nghi luật hạnh mà Ôn đã hành trì.
         Kính bạch Ôn, chúng con Tỳ kheo Minh Thế, có nhân duyên diện kiến Ôn nhiều lần Tại Quảng Trị, vào những năm lưu dấu tu học dưới mái chùa An Dạ, chùa Hà Mỹ, hay thính giới Bồ tát, hay các Phật sự sau này ở quê hương Quảng trị mỗi khi con có dịp về trong những năm 2007-2008-2009-2015-2017-2018, cứ một lần vậy là chúng con học nhiều đều hay.
         Khi gặp Ôn ở tại chùa Hà My, Chùa An Đôn, chùa Phật Học Quảng Trị, Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, Chùa Long An..., tất cả lưu dấu nhiều cho chúng con.
         Lời Ôn dạy tuy mộc mạc chất phát, nhưng thấm từng con chữ tu hành cho ai đó khi phát tâm xuất gia.
        Ôn dạy rằng:
“ Người tu sĩ, càng khiêm cung bao nhiêu thì sanh tử nhẹ bấy nhiêu.
Người tu sĩ càng tham bao nhiêu, thì ái nghiệp nặng bấy nhiêu...”
        Ôn dạy tiếp, trong lần khác, chúng con ghi nhớ:
“ Người Tu nhớ về giới học chạm đến tâm an tịnh, nhờ vào thiền tập, làm những gì giản đơn, thì người tu sĩ ấy có lối về chạm đến cảnh tịnh mà chư Phật trao cho chúng ta.
Người tu sĩ, giới hạnh khiêm cung, thì vị ấy có được tâm an trú Chánh niệm, thực hành kinh Tứ Niệm Xứ, thì chính ta chạm phải vào lối tự do An lạc...”
         Một lần như vậy con học được, và vui khi chúng con gặp Ôn.
         Kính bạch Ôn, việc Giáo hội Ôn tận tụy trong cương vị cho phép, việc tu học Ôn luôn trì Pháp Hoa, Đại Bi, Kinh Niết Bàn.., Ôn dung dị hết mức không phân biệt giàu nghèo, Ôn không tham về vật chật tiền tài, mà Ôn chỉ lo tu và học những gì Sư phụ Ôn trao cho Ôn, bằng tâm ứng nhiếp hoá, đơn sơ mà tự tại.
          Bạch Ôn, chúng con được nghe Quý anh em huynh đệ kể lại:
      “Sáng Ngày, 29-10-Canh Tý, Ôn đi vòng quanh sân chùa, chạm tay vào những đau ấn năm xưa nơi Ôn một đời tu học, hầu Ngài Bổn sư thế độ, những ấn tâm mà bảo tháp hiện chùa, Tam bảo, cổng tam quan, Ôn đều đi qua, tăng xá, nhà Trù, thiền phòng đông Tây, Ôn từng đi qua nhìn chúng lần cuối, như bài pháp Vô Ngôn...
       Thế đến, Ôn xuống nhà Trù gặp O Huê, rồi bảo rằng: O Huê ơi..! Nấu cơm cúng Phật, cúng Tổ, rồi nấu cơm cho chúng chưa..?
        O Huê đáp: Bạch Ôn, chúng con đang làm việc bếp, và chúng con sắp nấu.
         Ôn dạy: Được rồi, nhớ nấu nhé, mười lăm phút nữa, gọi Ôn dạy để đi cúng ngọ và dùng cơm.
          Lúc bấy giờ, Ôn không thị tướng thân bệnh gì, thân thể sắc Hồng, dung nghi đẹp. Với lại Ôn bảo: Thầy lên đây...!
        Thế rồi, thời khắc cũng xong cho cơm vừa chín, Ôn đã an nhiên thâu thần thị tịch trên chiếc giường mà hằng ngày Ôn ngự tọa.
        Sau khi in cơm cúng Ngọ xong, thì O Huê bảo các chú tiểu lên mời Ôn dạy để đi cúng Ngọ.
       Các chú tiểu vào Liêu phòng phương trượng, chấp tay bạch: Bạch Ôn chúng con thỉnh Ôn đi cúng ngọ, thế là Âm ba ấy đã lặng thinh như tờ in dấu Hồng hạc, nhạn  trắng Trắng trời trong.
        Các chú tiểu lay Ôn thì không thấy trả lời, vội vàng chạy xuống nói, O Huê Ơi, con lay Ôn mà Ôn không trả lời.
        Thế là vội chạy lên Liêu phòng, thì Ôn đã quy Tây, an nhiên như giấc ngủ, đi vào Niết bàn, nhẹ như hạc nắng Trời Tây cởi áo rủ bụi Hồng về cảnh Di Đà Tây Phương...”
        Cứ thế mà danh hiệu niệm Phật A Di Đà Âm vang lên mãi, thỉnh trống hùng thanh, Bát nhã cung rước, Ôn đi nhẹ quá để lại vô giá bài học Tử sinh mà Thế Tôn chỉ dạy trong hn thở.
Hay vận hành kinh quán niệm hơi thở vào ra.
Chúng con giờ này cung kính vọng bái từ xa, bên hiện chùa Phước Thăng- Thị Trấn Phước An- Đaklak.
        Để ghi lại bài thơ, bài ai điếu hài niệm lời Ôn cho chúng con lúc sinh tiền trong hạnh nguyện khiêm cung.
Cung kính cuối đầu khể thủ lễ, hướng về Quảng Trị Nơi lưu dấu nhục Thân Ôn.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 16-12-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 03-11-Canh Tý.

Dưới đây là một số hình ảnh Tang lễ Cố Thượng Tọa thượng Giác hạ Chơn.
Viện chủ Trú Trì Phật Học Quảng Trị.


Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-1Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-2Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-3Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-4Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-5Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-6Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-7Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-8Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-9
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-10Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-11Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-12Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-13Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-14

***
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
2/23/2021(View: 20083)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
2/23/2021(View: 17339)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
2/20/2021(View: 14833)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
2/20/2021(View: 16580)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
2/20/2021(View: 12632)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
2/17/2021(View: 11527)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
2/17/2021(View: 11983)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
2/16/2021(View: 7851)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
2/14/2021(View: 9006)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.
2/14/2021(View: 8093)
Ta hãy tự thoát ra khỏi thân mình hiện tại mà trở về lúc ta mới được sanh ra. Trong phút giây đặc biệt đó ta là gì? Ta vừa được chào đời, được vỗ mông để bật tiếng khóc là phổi ta hoạt động, mọi chất nhớt trong miệng được lấy ra và không khí vào buồng phổi: ta chào đời. Thân ta lúc đó là do 5 uẩn kết tạo từ hư không, 5 uẩn do duyên mà hội tụ. Cơ cấu của thân thể ta là 7 đại đất nước gió lửa không kiến thức. Cơ thể ta mở ra 6 cổng (căn) để nhập vào từ ngoài là 6 trần để rồi tạo ra 6 thức.