Học Lời Thầy Trao.

19/12/202007:36(Xem: 8321)
Học Lời Thầy Trao.
Học Lời Thầy Trao.
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-15
Lối xưa người đến dạo chơi,
Hoá thành chú Tiểu, học lời Thầy Trao.
Thênh thang mây trắng hôm nào,
Ra vào chốn tịnh, trăng sao gối tình.

Lặng nghe Thầy Tụng âm kinh,
Uy hùng Đức hạnh, dáng hình thong dong.
Bái song thân vào cửa không,
Phật Học Quảng Trị, ngỏ lòng tự do.

Thiền môn nhịp mỏ tròn vo,
Chuông ngân vang khắp, chuyến đò qua sông.
Dòng Thạch Hãn, nước xanh trong,
Chú Tiểu thửa ấy, thuộc lòng Công phu.

Chấp trì nguyện chí chân tu,
Bái Ngài Chánh Trực, giả từ song thân.
Chấp lao phục dịch đền ơn,
Ươm mầm hạnh tuệ, hương thơm vang ngần.

Giới kinh, luật Mật muôn phần,
Pháp hoa, kinh tạng, soi tầm chiêm sâu.
Thầy dung dị nói từng câu,
Khiêm cung lấy hạnh, bấy lâu nay rồi.

Thân mang bệnh trả cho đời,
Nuôi tâm xuất chí, từng lời Di ngôn.
Đi về tâm Phật thổi hồn,
Nuôi từng ý nguyện, Giác Chơn Tên Thầy.

Từ nhiếp độ hạnh dung đầy,
Dạy trao đồ chúng, chữ Này giản đơn.
Sáu bảy năm sống biết ơn,
Trải phần hoá độ, chẳng hờn chi ai.

Truyền trao Chánh pháp Như Lai,
Ngộ từng con chữ, chẳng phai bao giờ.
Liễu nhiên an trú vầng thơ,
Nhất thành hơi thở, ra vô kiếp người.

Nhẹ nhàng tâm hạnh sáng ngời,
Dạo quanh chùa Củ, nhặt lời Huân nhiên.
Thả thân tịnh cảnh nhiếp thiền,
An vui tự chủ, giữa niềm Trời Tây.

Chấp trì niệm Phật hương bay,
Đến như giấc mộng, thân này trả xong.
Chốn cảnh tịnh giữa Huyền không,
Thu thần Tịch diệt, một lòng Tây phương.

Thất chúng đệ tử tâm hương,
Kim Tiên chốn Tổ, chơn thường ghi ơn.
Thành tâm bái vọng tri âm,
Mong Thầy Tái hiện, muôn phần Đời Con.


       Kính bạch giác linh Ôn, hơn 67 năm Ôn thác tích giữa chốn Hồng Trần, hơn 27 năm mùa hạ An cư, Ôn là vị Danh Tăng mô phạm cho tất cả thất chúng đệ tử noi gương.
        Một đời tu sĩ không thị phi hơn thua, không tranh ghế quyền uy, không so đo tính kế, không vọng ngôn hai lời, mà chính Ôn luôn học theo lời Thầy thế độ, Ngài thượng Chánh hạ Trực, bậc mô phạm Tùng lâm uy Đức, cho Tăng tín đồ Phật giáo Quảng Trị.
         Một đời khiêm cung, luôn dành phần hơn cho người khác, giản dị vô cùng như chiếc áo nâu sờn bạc phai màu, chiếc xe Honda Cúp 86 ngày trước Ôn vẫn dùng trong suốt thời gian hành hoá, hay giữ gìn oai nghi luật hạnh mà Ôn đã hành trì.
         Kính bạch Ôn, chúng con Tỳ kheo Minh Thế, có nhân duyên diện kiến Ôn nhiều lần Tại Quảng Trị, vào những năm lưu dấu tu học dưới mái chùa An Dạ, chùa Hà Mỹ, hay thính giới Bồ tát, hay các Phật sự sau này ở quê hương Quảng trị mỗi khi con có dịp về trong những năm 2007-2008-2009-2015-2017-2018, cứ một lần vậy là chúng con học nhiều đều hay.
         Khi gặp Ôn ở tại chùa Hà My, Chùa An Đôn, chùa Phật Học Quảng Trị, Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang, Chùa Long An..., tất cả lưu dấu nhiều cho chúng con.
         Lời Ôn dạy tuy mộc mạc chất phát, nhưng thấm từng con chữ tu hành cho ai đó khi phát tâm xuất gia.
        Ôn dạy rằng:
“ Người tu sĩ, càng khiêm cung bao nhiêu thì sanh tử nhẹ bấy nhiêu.
Người tu sĩ càng tham bao nhiêu, thì ái nghiệp nặng bấy nhiêu...”
        Ôn dạy tiếp, trong lần khác, chúng con ghi nhớ:
“ Người Tu nhớ về giới học chạm đến tâm an tịnh, nhờ vào thiền tập, làm những gì giản đơn, thì người tu sĩ ấy có lối về chạm đến cảnh tịnh mà chư Phật trao cho chúng ta.
Người tu sĩ, giới hạnh khiêm cung, thì vị ấy có được tâm an trú Chánh niệm, thực hành kinh Tứ Niệm Xứ, thì chính ta chạm phải vào lối tự do An lạc...”
         Một lần như vậy con học được, và vui khi chúng con gặp Ôn.
         Kính bạch Ôn, việc Giáo hội Ôn tận tụy trong cương vị cho phép, việc tu học Ôn luôn trì Pháp Hoa, Đại Bi, Kinh Niết Bàn.., Ôn dung dị hết mức không phân biệt giàu nghèo, Ôn không tham về vật chật tiền tài, mà Ôn chỉ lo tu và học những gì Sư phụ Ôn trao cho Ôn, bằng tâm ứng nhiếp hoá, đơn sơ mà tự tại.
          Bạch Ôn, chúng con được nghe Quý anh em huynh đệ kể lại:
      “Sáng Ngày, 29-10-Canh Tý, Ôn đi vòng quanh sân chùa, chạm tay vào những đau ấn năm xưa nơi Ôn một đời tu học, hầu Ngài Bổn sư thế độ, những ấn tâm mà bảo tháp hiện chùa, Tam bảo, cổng tam quan, Ôn đều đi qua, tăng xá, nhà Trù, thiền phòng đông Tây, Ôn từng đi qua nhìn chúng lần cuối, như bài pháp Vô Ngôn...
       Thế đến, Ôn xuống nhà Trù gặp O Huê, rồi bảo rằng: O Huê ơi..! Nấu cơm cúng Phật, cúng Tổ, rồi nấu cơm cho chúng chưa..?
        O Huê đáp: Bạch Ôn, chúng con đang làm việc bếp, và chúng con sắp nấu.
         Ôn dạy: Được rồi, nhớ nấu nhé, mười lăm phút nữa, gọi Ôn dạy để đi cúng ngọ và dùng cơm.
          Lúc bấy giờ, Ôn không thị tướng thân bệnh gì, thân thể sắc Hồng, dung nghi đẹp. Với lại Ôn bảo: Thầy lên đây...!
        Thế rồi, thời khắc cũng xong cho cơm vừa chín, Ôn đã an nhiên thâu thần thị tịch trên chiếc giường mà hằng ngày Ôn ngự tọa.
        Sau khi in cơm cúng Ngọ xong, thì O Huê bảo các chú tiểu lên mời Ôn dạy để đi cúng Ngọ.
       Các chú tiểu vào Liêu phòng phương trượng, chấp tay bạch: Bạch Ôn chúng con thỉnh Ôn đi cúng ngọ, thế là Âm ba ấy đã lặng thinh như tờ in dấu Hồng hạc, nhạn  trắng Trắng trời trong.
        Các chú tiểu lay Ôn thì không thấy trả lời, vội vàng chạy xuống nói, O Huê Ơi, con lay Ôn mà Ôn không trả lời.
        Thế là vội chạy lên Liêu phòng, thì Ôn đã quy Tây, an nhiên như giấc ngủ, đi vào Niết bàn, nhẹ như hạc nắng Trời Tây cởi áo rủ bụi Hồng về cảnh Di Đà Tây Phương...”
        Cứ thế mà danh hiệu niệm Phật A Di Đà Âm vang lên mãi, thỉnh trống hùng thanh, Bát nhã cung rước, Ôn đi nhẹ quá để lại vô giá bài học Tử sinh mà Thế Tôn chỉ dạy trong hn thở.
Hay vận hành kinh quán niệm hơi thở vào ra.
Chúng con giờ này cung kính vọng bái từ xa, bên hiện chùa Phước Thăng- Thị Trấn Phước An- Đaklak.
        Để ghi lại bài thơ, bài ai điếu hài niệm lời Ôn cho chúng con lúc sinh tiền trong hạnh nguyện khiêm cung.
Cung kính cuối đầu khể thủ lễ, hướng về Quảng Trị Nơi lưu dấu nhục Thân Ôn.
                 Tk: Thích Minh Thế
                 Bút danh: Hỷ Tâm Hải Triều.
                 Bút hiệu: Tịnh Nhật Vân Quang
                 Ngày 16-12-2020.
                 Ngày Âm Lịch: 03-11-Canh Tý.

Dưới đây là một số hình ảnh Tang lễ Cố Thượng Tọa thượng Giác hạ Chơn.
Viện chủ Trú Trì Phật Học Quảng Trị.


Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-1Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-2Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-3Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-4Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-5Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-6Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-7Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-8Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-9
Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-10Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-11Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-12Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-13Tang-le-HT-Thich-Giac-Chon-14

***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2025(Xem: 5969)
Hơn một thập niên sống và học đạo ở Na Lan Đà (Ấn Độ), pháp sư Nghĩa Tịnh đã ghi chép nhiều nhận xét về luật lệ cho tăng đoàn Phật giáo vào TK 7. Đây cũng là một mục đích chính của ngài sau 25 ở nước ngoài và hơn một thập niên du học ở Na Lan Đa (Ấn Độ). Phần này chú trọng vào điều 33 với tựa đề là “Tôn kính quai thức” 尊敬乖式 (tạm dịch/NCT các tục lệ/tôn kính ngược ngạo). Tuy điều 33 chỉ có 161 chữ, nhưng gồm nhiều khái niệm Phật giáo và dữ kiện rất đáng chú ý. Các ghi chép trong đó cho thấy hai bức tranh toàn cảnh của người thường (phàm/tục) phải trải qua giai đoạn xuất gia, sống một đời khất sĩ theo gương hạnh đầu đà để cuối cùng tìm đến niết bàn (vô sinh). Tương phản với người phàm sống trong tham vọng và xa xỉ, giả dối để mưu sinh. Ngoài ra, ảnh hưởng của Phạn ngữ không nhỏ trong văn hoá Trung Hoa, phản ánh qua các cách dịch nghĩa và kí âm còn tồn tại đến ngày nay; một số đã trở thành vốn từ căn bản của các ngôn ngữ bản địa mà ít người biết là có gốc 'ngoại lai'. Một số Hán và Phạ
10/02/2025(Xem: 8461)
Khi tiếng pháo đón chào năm mới 2025 chấm dứt, khi người Hòa Lan trở về với cuộc sống bình thường mỗi ngày thì đó lại là lúc người Việt Nam nơi đây chuẩn bị đón chào năm mới. Chúng ta đón Tết Nguyên Ɖán trong không khí gia đình, chúng ta không hưởng được không khí Tết ngoài đường phố, trong các cửa hàng như ở quê nhà.
10/02/2025(Xem: 5038)
Khi nào bạn thấy tâm và cảnh vốn là không, bạn sẽ thấy bất kỳ nơi nào cũng là Niết Bản. Lời dạy đó là từ một bài thơ của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) khi ngài dạy ý chỉ Thiền tông cho vua Trần Nhân Tông. Lời dạy đó cũng là đúc kết từ nhiều Kinh khác nhau do Đức Phật truyền dạy.
10/02/2025(Xem: 8212)
Trong tạng kinh Nikàya (Pali), cụ thể là Kinh Tương Ưng Bộ Samyutta Nikàya, Tương Ưng Nhân Duyên, những gì Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chứng ngộ, thấy biết như thật tương ưng với những gì chư Phật quá khứ đã chứng ngộ và thấy biết như vậy. Thế Tôn gọi đó là TÙY TRÍ (Tùy trí chư Phật quá khứ: thấy biết giống như chư Phật quá khứ đã thấy, đã chứng ngộ). Đấng Thiện Thệ cho rằng những ai Tùy Trí như vậy sẽ có Pháp Trí (tức là Pháp Trí như vậy do Tùy Trí Chư Như Lai mà có, nên tràn đầy ánh quang minh hay Pháp Quang).
06/02/2025(Xem: 10335)
XUÂN VÀ CON ĐƯỜNG CỦA BỒ TÁT ĐI Pháp thoại Hòa thượng Thích Thái Hòa giảng cho Phật tử ngày mùng 2 tết Giáp Thìn, tại Tịnh Nhân Thiền đường, Tự viện Phước Duyên - Huế Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật.
05/02/2025(Xem: 8300)
Trời xuân ấm vạn nẻo đường Đất xuân ấm giữa vô thường thế gian; Non xuân đứng giữa núi ngàn, Nước xuân chảy giữa muôn vàn điệu ru;
05/02/2025(Xem: 7212)
Trong cuộc sống chúng ta thường lẫn lộn giữa thực tế và ước mơ, thế nhưng ước mơ cũng có thể giúp chúng ta nhìn vào thực tế một cách thực tế hơn, hoặc ngược lại thì thực tế đôi khi cũng có thể khơi động và làm sống lại các ước mơ của mình trong quá khứ. Câu chuyện mà tôi sắp thuật lại dưới đây nêu lên các ước mơ của một người mẹ hiện lên với mình như một sự thực, và các ước mơ của một người con mãi mãi vẫn là ước mơ.
05/02/2025(Xem: 8314)
NẾN VU LAN THẮP SÁNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG Trong truyền thống Phật giáo, lễ Vu lan là ngọn nến hiếu hạnh thắp sáng giữa đời thường để cho ai có mắt thì được thấy, có trí thì được sáng tỏ, có tâm thì cảm và có tình, thì tình thêm sáng đẹp, rộng và sâu.
05/02/2025(Xem: 9612)
CÁC PHÂN KHOA PHẬT GIÁO Tôi viết bài này, xin chia sẻ đến những ai muốn quan tâm đến lãnh vực giáo dục trong Phật giáo, nhưng chưa có điều kiện để nghiên cứu.
04/02/2025(Xem: 5096)
Có một bài thơ khó hiểu trong Thiền Tông. Bài thơ có tên là Ngũ Vị, có khi gọi là Động Sơn Ngũ Vị, và có khi gọi là Ngũ Vị Quân Thần. Bài thơ khó hiểu phần vì dùng nhiều chữ xưa cổ, nhiều hình ảnh thi vị, và vì chỉ cho một số chặng đường tu học trong Thiền Tông. Bài này sẽ tham khảo nhiều giải thích để làm sáng tỏ bài thơ này.