Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Vầng Sáng Sao Mai.

17/11/202020:57(Xem: 529)
Vầng Sáng Sao Mai.

VẦNG  SÁNG  SAO  MAI.
buddha-581

Tại sao? Tại sao có sanh già, bệnh chết?

Tại sao nhân loại phải khổ đau?

Tại sao đế vương quyền uy cũng không tránh khỏi lìa xa vương vị?cha ta, vua một thị tộc tại Ca Tỳ La Vệ rồi cũng vậy sao?

Tại sao giai cấp Sát đế Lị quyền uy hơn Thủ Đa la?

Tại sao?....

                                                  ***

Chàng Đạo sĩ bỏ quên râu tóc sau nhiều năm nghiền ngẫm, chiêm nghiệm sự tuần hoàn, bất toàn trong cuộc sống.Một góc rừng kia, củi đang cháy, khói bốc lên thịt người khét mùi lợm giọng; thân ta đây, xác chết kia, khác nhau cái gì, toàn mùi xú uế. Phải chăng phấn son trong hoàng cung che đậy sự bất tịnh.Cung phi mỹ nữ, đàn ca hát xướng che đậy sự than khóc thống thiết của kiếp nhân sinh? Cuộc sống và kiếp người chỉ toàn ảo vọng được trang trí sắc hương đánh lừa cảm giác.Giàu nghèo là vỏ bọc để phân chia giai cấp, vị thế trong xã hội,khi mà nước mắt cùng mặn,máu cùng đỏ, khổ đau như nhau, về với cát bụi, ai cũng như ai, giàu sang mà chi, nghèo hèn là chi???

 Bềnh bồng trước gió xuyên qua rừng khổ hạnh;chàng vén lọn tóc dợn sóng, xỏa qua hai vai, từ tốn nhìn quanh khắp núi xanh, các lão tu bá nạp, y áo không đủ lành lặn, vẫn an nhiên nhắm  mắt, thần thức lạc vào chốn hư vô tĩnh mịch.Các vị thầy vẫn nghiền ngẫm theo dõi hơi thở, luyện tập hatha  yoga, có vị tập Karma Yoga, Mantra Yoga, Jnana Yoga, Bhakti Yoga, Tantra Yoga, Raja Yoga .. đều đạt đến một kết quả nhất định. Siddhārtha, nhìn lại mình, những thành quả đạt, không tìm được con đường tiến cao hơn; các vị thầy ngồi đó vẫn an trú, cảm thọ hỷ lạc pháp hành, trạng thái cảnh giới vô sắc của chư Thiên, xa lìa thế giới mộng tưởng trần gian. Nhìn lên bầu trời bao la, nhìn xuống cảnh vật mênh mông, chúng sanh sống trên sinh mạng lẫn nhau, cảm thấy vui sướng khi gây đau khổ cho nhau. Kiếp sống thật vô nghĩa!

 Động vật ăn đêm, nhẹ bước trên thảm lá khô, sợ làm giao động không gian đang  đặc quánh ngột ngạt.Bầu trời trong xanh u tịch, lắm khi đổ vài cơn mưa trái mùa, không đủ xua tan muỗi mòng. Côn trùng trổi nhạc thê lương nhấn chìm cảnh vật sâu vào tăm tối. Đường mòn xuôi về thôn xóm phủ nhiều lớp lá mục bốc mùi ẩm thấp.Cuối bìa rừng, chân trời lấp lánh vài nụ sao lẻ loi buồn bã, cô đơn.

Chàng Đạo sĩ trẻ đã nhiều năm tự chôn mình cách ly xã hội.Có lẽ khổ hạnh là cách tốt nhất để đổi lấy sự khổ đau của kiếp người; Khổ hạnh là con đường đưa đến an lạc hạnh phúc.Đã bao đời,không chỉ Đạo sĩ Bà La Môn, còn có Kỳ Na giáo, và nhiều hệ phái chọn con đường khổ tu để có được kiếp sống an lạc trong cõi vĩnh hằng sau khi xả bỏ báo thân. Những bậc thầy A-la-la Ca-lam, Ưu-đà-la La-ma tử ...đã giúp chàng Đạo sĩ đạt đến Vô sở hữu xứ định, Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Nhưng, những trạng thái định đó không giải quyết được giải thoát luân hồi; sau khi chìm sâu vào định lực, chàng quán chiếu tận tường mọi cảm thọ. Thầy ta đó, huynh đệ ta đó, năm vị Tỳ kheo khổ tu kia, đều nhập và an trú các bậc Thiền hỷ lạc, như xưa kia, thân phụ làm lễ hạ điền, dưới bóng mát táng cây jambu (diêm-phù-đề), Ta li dục, li pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỉ lạc do li dục sinh, có tầm, có tứ." Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ."

 chàng từng nhập định cảm lạc thọ, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện, phải chăng, đó chỉ là trạng thái khởi đầu cho tiến trình đi sâu vào giải thể mọi cảm thọ, diệt trừ mọi vi tế ngã chấp!

                                                          ***

Mảnh y năm xưa, chàng trao đổi Hoàng bào cho tên thợ săn khi vượt qua dòng sông Anoma, tiến sâu vào rừng khổ hạnh, bao mùa mưa nắng, vài nơi mục nát, vài chỗ sút chỉ, chàng khâu túm lại bằng những sợi dây leo rừng.Móng tay dài cong không co lại được.Sau những năm tháng khổ hạnh, chàng Đạo sĩ nhận ra rằng, khổ tu không phải con đường đưa đến giải thoát, chàng Đạo sĩ kể lại:

Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hạt hay súp đậu nhỏ." Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hột hay súp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn chân của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gautama có da đen." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gautama, da không đen, Sa-môn Gautama có da màu xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gautama da không đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gautama da không đen, da không xám, Sa-môn Gautama có da màu vàng sẫm." Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít."

                                               ***

Những hành giả khổ hạnh vẫn miên mật hành trì thiện pháp, tiếc nuối nhìn theo dáng đi của chàng Đạo sĩ trẻ dần tiến về cuối dốc. Năm anh em Kiều Trần Như trách móc – chàng đạo sĩ kia đã đi theo tham dục, không kham nỗi khổ hạnh.

Trong thôn xóm an bình lạ thường, lâu lắm, hình như chàng không nhìn thấy nếp sinh hoạt của cư dân; tiếng trẻ con nô đùa, tiếng chó sủa, đàn bò nhởn nha trên đồng cỏ.Xa kia,mặt trời gác tia nắng trên đọt cây, vài sợi khói lượn lờ trên nóc  lá thôn xóm.Một ngày mới bắt đầu.Chàng chậm rãi dừng chân, mở nắp bát, ngườidân trong thôn, kính cẩn dâng lên chiếc bánh chapati khô khốc đầy phấn bột.

Trên bãi cát nóng, che bởi táng cổ thụ Ni-câu-đà, chàng điềm tĩnh, mắt nhắm mật  định; đường dốc xuống sông, hai cô bé Nanda và Bala đang dắt bò, thấy Siddhārtha đang ngồi thiền định, họ sanh lòng kính mến liền vắt lấy sữa bò, nấu chín rồi dâng lên. Bát sữa đầu tiên sau nhiều năm kham khổ, Siddhārtha ăn xong cảm thấy thân thể khoẻ mạnh,tuy chưa bình phục hẳn, nhưng tinh thần phấn chấn lạ thường.

Gió hiu hiu từ sông thổi lên, Siddhārtha tựa lưng vào gốc cây, định thần dưỡng khí; đã nhiều năm, chàng đạo sĩ trẻ chưa từng được nằm, các vị thầy dạy rằng, ngủ ngồi vần tỉnh táo dễ kiểm soát thân tâm hơn ngã lưng.Nắng phả từng luồng khí nóng làm khô cả lá rừng; y bá nạp thấm đẫm mồ hôi, cũng chóng khô dưới sức nóng 50 độ. Cái rét Đông về cũng không làm cho bao hành giả rừng già trú trong hang động chùn bước. Hạ qua, Đông đến luân chuyển suốt kiếp người, có những hành giả như con dã tràng vật vã phấn đấu với nội tâm trước những hạt giống nhiễm ô bất trị.Cũng có những hành giả buông xuôi khi cố vượt qua những trạng thái tâm thức bị lạc dẫn vào thể nghiệm; không thiếu những thất bại não nề của nhiều hành giả tràn ngập chướng duyên như cơn thác lũ cuốn trôi bao công lao hành trì.

                                                         ***

Chàng lần mò xuống sông tắm, kiệt sức lâu ngày, ngất xỉu bất tỉnh, nàng mục nữ Sujàta chăn cừu đi ngang thấy thế, liền mở túi da đựng sữa đề hồ rót vào miệng cứu sống Người. Nửa tỉnh nữa mê,thần thức như lạc vào không trung dịu vợi; tiếng đàn du dương đâu đó văng vẳng bên tai, hồi tỉnh, Ngài biết đó là âm điệu của lão mù đàn dạo kiếm sống độ nhật.

-         Ông, làm sao mà tạo được âm thanh du dương như thế?

-          dây đàn quá căng sẽ đứt, quá dùn sẽ lạc điệu, đó là quy luật trung hòa mới tạo được những gì mình muốn, âm điệu cũng thế, du dương, khoan nhặt do ta biết điều độ – ông lão đáp.

 Từ bỏ kiếp khổ hạnh, đạo sĩ trẻ tươi khỏe với dưỡng chất bình thường, Người đến gốc cây Bồ Đề Thiền định; chị em nàng Sujata dâng cúng bát cháo sữa.Dưới cái nhìn thẩm thấu vạn vật, mọi sự khoác sắc màu tươi tắn; Người thả nhẹ gót sen trên bãi cát vàng, nước sông trong xanh, Siddhārtha ngâm chân vào dòng mát lạnh, cảm giác tươi mát dễ chịu.Một linh cảm thành tựu cho công phu tu tập, Đạo sĩ nâng nhẹ bình bát để trên mặt nước nguyện -: "Nếu ta được chứng quả thành Phật, thì nguyện cho cái bát nầy nổi trên mặt nước và trôi ngược lại dòng sông". Đúng như lời nguyện, chiếc bát trôi ngược về vùng nước xoáy cách đó không xa, nơi mà tương truyền trong Hiền kiếp, ba chiếc bát vàng của Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni và Phật Ca Diếp đắc đạo trước kia cũng tại nơi này.

Trở  lên bờ,về cội Bồ Đề ở Bodh Gaya, bèn xếp tréo chân, thẳng lưng trong tinh thần tỉnh táo sáng suốt. Em bé Sotthiya Svastika dâng cúng Người bó cỏ làm tọa cụ. Sau khi an trú thân tâm,mặt nhìn về hướng Đông, phía bờ sông Ni liên Thuyền, phát nguyện: "Dù cho da, thịt, xương, gân của ta có tan hoại và máu ta có khô cằn. Nếu không đạt quả vị Chánh Giác, ta sẽ không rời chỗ này"

                                                       ***

Đêm Đông, không như những cái lạnh thấu xương mọi năm, không gian tĩnh mịch, trong xanh màu ngọc bích,trùng dế vắng lặng, vạn vật trôi vào cõi xa xăm như ngàn tinh tú thăm thẳm cô đơn, như sự cô đơn của một hành giả từ bỏ mọi cám dỗ trần thế để chọn kiếp không nhà, không nơi an trú, lẻ loi, cô độc, hướng đến cảnh giới sâu thẳm nội thức.Mênh mông đất trời, vị Đạo sĩ trẻ vẫn miên man nhập định. Vẳng từ xa, tiếng gà lẻ loi rơi vào cô tịch. Bầu trời le lói mờ nhạt một vài sao khuya.

Từ vô thức xuất hiện ảo ảnh thịnh nộ, đe dọa hành giả, như những mũi tên bắn vào kính chắn, tự  rơi rụng từ xa, Đạo sĩ vẫn an nhiên bất động; Da du đà La, La Hầu La, xuất hiện réo gọi Thái tử trở về cuộc sống chăn êm nệm ấm, vị đạo sĩ trẻ vẫn bất định giữa đất trời giá lạnh; cung phi mỹ nữ ẻo lả nhún nhảy mời gọi, chàng vẫn bình thản nhìn những chiếc bóng vô hồn dần tan biến giữa màn đêm. Siddhārtha tiếp-tục nhập Diệt-Thọ-Tưởng định. Canh một vừa điểm, tuệ giác xuất hiện, Túc mạng minh, vô lượng kiếp quá khứ của Ngài biết rõ như lòng bàn tay.Vẫn điềm nhiên an trú đến canh hai, Thiên Nhãn Minh cũng xuất hiện, Ngài thấy rõ tương quan nhân quả của mọi chúng sanh. "Tại sao con người cứ phải sanh ra để chịu cảnh sanh, già, bệnh, chết". Câu trả lời: "Nguyên do chính là Lậu hoặc".Canh ba Ngài đạt được Lậu Tận Minh, một minh triết nhìn thấy nguyên nhân mọi sự trong tam giới.

                                                       ***

4 tuần thiền định dưới cội Pipphala (Bồ Đề), đạt được Tam minh, giải đáp được bài toán giải thoát luân hồi, Đức Phật nói: "Ta biết như thật 'Đây là khổ '. 'Đây là nguyên nhân của khổ '. 'Đây là sự diệt khổ '. 'Đây là con đường đưa đến diệt khổ )' ".

Vào tuần lễ thứ 7, Ngài chứng ngộ: Chân Như tánh, Bất Ly Như tánh, Bất Dị Như tánh, Y Duyên tánh , tức Lý Duyên Khởi, Không tánh, Huyễn tánh và Bình đẳng tánh của thế giới hiện tượng. Qua tiến trình thực nghiệm tâm linh, Ngài đã chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,  trở thành một vị Phật Shakyamuni (Thích-ca Mâu-ni) — "Trí giả của dòng dõi Thích-ca".

Trăng thượng tuần như vành móng tay tiếp sáng cho ngôi sao Mai lạc dần hướng Đông, gió từ dòng sông Ni Liên Thuyền vuốt ve cội Bồ Đề,lá tung bay như chư Thiên rải hoa chúc tụng đấng đại giác. Ánh rạng Đông làm mờ nhạt sao Mai, Trí tuệ giác ngộ làm nhạt nhòa vô minh vô lượng kiếp; thân  màu hoàng kim của Shakyamuni  thắp sáng cả tam giới như giáo lý thắp sáng con đường giải thoát.

 

MINH MẪN                                                                                                             12/11/2020

 kỷ niêm mùa Thành Đạo

    

 




***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/12/202008:57(Xem: 399)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/202008:20(Xem: 355)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/202011:16(Xem: 404)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/202010:43(Xem: 377)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/202010:37(Xem: 367)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/202012:25(Xem: 992)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.
20/12/202018:59(Xem: 518)
Trong một thời khắc lịch sử, cả nước đã chứng kiến sự hội tụ của quá khứ, hiện tại và tương lai khi ba thế hệ của triều đại Wangchuck, Vương quốc Phật giáo Buhtan đến viếng thăm khu đất của Pungthang Dewachhenpoi Phodrang vào ngày hôm 16 vừa qua. Lễ Kỷ niệm 113 năm Quốc khánh Vương quốc Bhutan, được tổ chức bên trong Punakha Dzong “Cung điện Hạnh Phúc”, từng là nơi ngự của Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel đáng tôn kính hơn 400 năm trước, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.
20/12/202018:53(Xem: 409)
Matxcơva, ngày 15 tháng 12: Hội nghị Bàn tròn trực tuyến với chủ đề “Đối thoại các Tôn giáo trong Thế giới hiện đại, Dialogue of Religions in Modern World“ do Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu Học thuật về Cơ đốc giáo phương Đông (INaSEC) đồng tổ chức tại Khoa Tôn giáo và Thần học (FRT) thuộc Đại học Vrije Amsterdam và Đại học Chính thống Cơ đốc giáo, Nga nhân danh Thánh John Divine.
19/12/202008:03(Xem: 544)
Cơ quan Chính quyền Trung ương Tây Tạng lưu vong (CTA) cho biết, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen, vị học giả Phật giáo Tây Tạng đã viên tịch, xả báo thân tại tu viện Gaden Jangtse, miền nam Ấn Độ, theo truyền thông cho hay, Ngài đã “Chết lâm sàng” đến nay gần 1 tháng (26 ngày), nhưng thi thể vẫn không phân hủy. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo và Văn hóa thuộc (CTA) cho thấy rằng, Tôn giả Geshe Tenpa Gyaltsen đã đi vào trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là thukdam (Tib: ཐུགས་ དམ་).
19/12/202008:01(Xem: 382)
Tòa nhà Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan, thủ đô Thimphu, Bhutan. Hôm thứ Năm, ngày 10 tháng 12 vừa qua, cả hai Nghị viện Quốc hội Vương quốc Phật giáo Bhutan đã thông qua dự luật hợp pháp hóa các mối quan hệ đồng tính, biến Vương quốc Himalaya nhỏ bé trở thành quốc gia châu Á mới nhất thực hiện các bước, nhằm nới lỏng các hạn chế đối với các mối quan hệ đồng giới. Trước đó, mục 213 và 214 của bộ Luật Hình sự Vương quốc Phật giáo này quy định xu hướng “Tình dục trái với tự nhiên”, được hiểu rộng rãi là đồng tính luyến ái – không được phép.