Trọn Đời Cống Hiến

10/10/202010:46(Xem: 7578)
Trọn Đời Cống Hiến

TRỌN  ĐỜI  CỐNG  HIẾN
Thich Nhat Hanh9

Thời tiết tháng Tám sụt sùi rơi lệ, miền Trung hàng năm gánh chịu lắm thiên tai; Huế vừa trãi qua cơn bão, Hội An bị ngâp lụt, một số Tỉnh thành thấm đẫm mưa dầm!

Đâu đó, một góc xứ Huế thân thương, đồi thông rũ bóng che chắn các ngôi cổ tự rêu bám như lớp da xù xì lão hóa của người dân tẩm ướp nắng mưa qua bao thế hệ, cam chịu và sống chung với bao nghiệt ngã. Giữa mùa mưa bão, tiếng chuông chiều rên rĩ lãng đãng chìm trong không gian lạnh lẽo cô đơn; nhà nhà ủ kín then cài trốn cái lạnh thấu xương khi Đông chưa đến.

Thế mà, một trong những quê nghèo xơ xác của quê hương, ai ra đi cũng không khỏi chạnh lòng nhớ về chốn ấy; Nắng cháy da, lũy tre bờ sông không đủ che tàn bóng mát, lũ tràn về, ruộng đồng, sông rạch mênh mông biển nước, chuột, rắn, gia cầm giạt trôi ra biển đợi mỗi năm.

                                              ***

Con đường Nam Giao hiu hắc dẫn về Tổ đình danh tiếng. Cổng Tam quan vẫn im ỉm như chưa bao giơ mở rộng vòng tay đón nhận bao phiền muộn đời thường; Nơi ấy, sau cánh cổng, ngôi chánh điện uy nghi trầm lắng. “Sắc tứ Từ Hiếu tự” là một vinh dự được vua Tự Đức ái mộ đức Hiếu của cố Hòa Thượng Nhất Định tổ khai sơn, đối với mẹ, nguyên là một thảo am ẩn tu cùng mẹ. Năm 1848, HT viên tịch, vua cho trùng tu mở mang thành ngôi già lam. Từ Hiếu mang tính Đức Hiếu của người con Phật. Từ đó, trãi qua bao đời kế thế trụ Pháp vương gia, các bậc chân tu khả kính. Từ năm 1848 đến nay, các đời trụ trì tiếp tục tái thiết, trùng tu trở thành ngôi phạm vũ uy danh nơi chốn Sông Hương, núi Ngự.

Trong mãnh đất khô khốc, chớm nở một chồi hoa; Ngôi cổ tự bao sinh hoạt buồn vui đời Tăng lữ, trong đó, có những chú điệu được giáo dục nghiêm minh, từng lót dạ sắn khoai độn cơm hằng bữa, trái vả chấm chao  làm món ăn thường ngày, thế mà vẫn ê a trên lưng trâu, dưới cội thông ngấu nghiến các bộ luật, Tỳ ni Nhật dụng đợi ngày phủi chóp. Mưa vẫn mưa, nắng vẫn nắng bao mùa  lá rụng, các điệu lớn dần với thời gian, trôi giạt khắp bốn phương, người làm trụ trì, kẻ đi hoằng pháp, chú điệu Nguyễn Xuân Bảo năm xưa, rời khỏi quê nghèo, biến thành cánh chim bạt gió với đạo danh T.Nhất Hạnh. 16 tuổi khi thọ Sa di, những năm 1950 người đã có nhiều dự kiến đưa đạo Phật thoát khỏi sinh hoạt lối mòn. Miền Nam Việt Nam là đất dụng võ cho những tầm nhìn vượt thời gian, từ đây, thầy đóng góp cho PGVN không ít những công sức về giáo dục, văn hóa, xã hội, sáng tác hàng trăm tác phẩm nổi tiếng, trong đó, Hoa sen Trong biển lửa lúc vận động hòa bình cho Việt Nam.Chẳng những thế, Người còn khuyến cáo bảo vệ môi trường, Người nói:  

“Ta và Đất Mẹ không phải là hai thực tại riêng biệt. Đất Mẹ chính là ta, ta là đất Mẹ.Đất Mẹ không phải chỉ là môi trường.

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa, bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này.”

Đầu những năm 1960, trường Thanh niên Phụng sự Xã hội là một tổ chức mang nhiều tham vọng giúp đỡ người dân trong các vùng đạn bom xây dựng lại cuộc sống trước bao đổ nát, nhưng, chiến tranh khó bao dung lòng nhân đạo, xương máu nam nữ, tu sĩ đổ xuống, không làm cho đất mẹ xanh tươi hơn, chôn vùi lý tưởng đi trước thời cuộc của một tu sĩ nung bầu nhiệt huyết với quê hương và đạo pháp. Thầy đành rũ áo xa quê biền biệt hơn 40 năm xuôi ngược trên đất khách quê người. Thiền sư Nhất Hạnh đã được thế giới biết đến từ đó, từ độ kết hợp với mục sư Martin Luther King Jr, vận động hòa bình, năm 1967 được Mục sư đề nghị giải Nobel hòa bình, vô thường rẽ chia đôi bạn cùng lý tưởng, để rồi, một thân một bóng, Thiền sư  đưa Phật giáo vào đời với danh xưng “nhập thế”; chính vì thế, nhiều thành phần trong xã hội, các Tôn giáo đều có người tham gia nếp sống “chánh niệm”, “hiện pháp lạc trú”, “Thực tập 5 chánh niệm”. giúp giải quyết mọi áp lực căng thẳng  trong đời sống xã hội công nghiệp.

Ngoài trung tâm tu học chính Làng Mai tại Pháp, nhiều Tu viện đã được thành lập như: Tu viện Lộc Uyển, tu viện Bích Nham, tu viện Rừng Phong, trung tâm tu tập Thanh Sơn, tu viện Từ Hiếu – Diệu Trạm, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, chùa Đại Bi. trung tâm tại Úc,Trung tâm Làng Mai Quốc tế Thái Lan. Tu viện Mộc Lan, Thiền đường Hơi thở nhẹ, Viện Phật học ứng dụng Châu Á… và một số cơ sở cá nhân tu tập theo pháp “chánh niệm” của Thiền sư T. Nhất Hạnh.

Ngoài những trung tâm chính thức , Thiền sư còn hướng dẫn Thiền tập chánh niệm cho Google, Ngân hàng Thế giới và Trường Y đại học Harvard, các sinh viên đại học, sĩ quan cảnh sát, các nghị sĩ dân biểu...

                                                            ***

Đơn giản hóa pháp hành Phật giáo đi vào xã hội công nghiệp là một cải tiến thành công, đem lại sinh khí mới cho các thế hệ hiện đại; Theo Người,An trú trong giây phút hiện tại là trở về quê hương đích thực của mình,quê hương đích thực không hề bị giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc tịch hay chủng tộc. Hiểu biết và thương yêu là chất liệu làm nên hạnh phúc. Chúng ta thực tập yêu thương, thực tập từ bi và biết rằng yêu thương đem đến hạnh phúc. Không có yêu thương thì không có hạnh phúc. Tất cả những bậc đạo sư xưa nay đều dạy ta yêu thương và cách yêu thương cụ thể nhất là tránh gây đau khổ và hiến tặng niềm vui.”

Người nói:  “Tâm trí có thể đi theo hàng ngàn hướng, nhưng trên con đường tuyệt đẹp này, tôi bước đi trong hòa bình. Với mỗi bước, hoa nở. “

                                                        ***

Những năm gần đây, tuy bị đột quỵ, nhưng thần thái vẫn an lạc, làm điểm tựa cho hàng vạn đệ tử khắp nơi. Tung hoành khắp thế giới, lá vẫn muốn rụng về cội; cuối đời người, Ngài mong được trở lại chốn ban đầu mà chú tiểu Nguyễn Xuân Bảo năm xưa chôn chặt bao kỷ niệm và nuôi dưỡng lắm ước mơ, để trở thành một tu sĩ Phật giáo Việt Nam lừng danh thế giới; chiếc bóng hào quang nhập lại quê hương, ai ra đi cũng không khỏi chạnh lòng nhớ về chốn ấy. Hào quang đó, danh vọng đó không chỉ thuần dãy lụa che thân có thể tránh được bao chông gai chống phá. Cũng chả lạ, Đức Phật và chúa Jesus cùng các Thánh nhân đều không tránh khỏi chướng duyên nơi cỏi tục –“ Nếu đường đời bằng phẳng cả thì anh hùng hào kiệt có hơn ai”, Do có tầm nhìn quá xa thời đại nên phải trôi giạt nơi đất khách, do sinh hoạt tâm linh vượt truyền thống, can đảm đổi mới nên bao chướng ngại phải đeo mang. Nhìn chung, sự thành công đóng góp không nhỏ cho Phật giáo và xã hội, vẫn là nét son cho PGVN và dân tộc VN khi Người được dựng tượng đài, vinh danh một trong 25 nhân vật quốc tế tại Fox Square Park ở thành phố Oakland, California.

Như lời của Melvin McLeod đã viết: “Tôi đã gặp một vị Thầy đúng nghĩa trên nhiều phương diện, thâm sâu và chứng đạt, chú trọng cả tu tập lẫn xây dựng tăng thân, thấm nhuần vừa giáo pháp truyền thống vừa biết rõ hướng đi của thế giới ngày nay”. Hay, nhận xét của Malte Conradi và Sarah Raich: “Nếu nhân vật Yoda – nhà hiền triết trong phim Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars) – được xây dựng dựa trên một người có thật trong cuộc đời thì ắt hẳn phải là vị thầy này”. 

                                                 ***

Huế rét mướt, bão tố lung lay quê hương nghèo khó, nhưng vẫn khó mà làm nghèo sức khỏe Thiền sư đang cán mốc ngày “tiếp nối” tuổi 94, hàng vạn tín đồ đang hướng về Tổ đình Từ Hiếu, nơi từng rạng danh Tổ Nhất Định về đức Hiếu, gần hai thế kỷ sau, ngôi cổ tự trầm lắng một lần nữa sẽ tiếp đón một danh Tăng đem Phật giáo vào đời bằng con đường nhập thế - chờ đợi ngày 11/10 được long trọng đón mừng.

MINH MẪN
09/10/2020

(kỷ niêm sinh nhật sư ông 11/10/2020)

 


***
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/08/2020(Xem: 11379)
Ngày xưa, sau khi Đức Phật chứng Đạo, tại sao Ngài không mở trường Thiền để có thể dạy hàng ngàn, hàng vạn người cùng một lúc? Ngược lại, Ngài chỉ vân du từ nơi này sang nơi khác, tùy căn cơ khai thị cho những người hữu duyên Ngài gặp trên đường? Đơn giản vì trình độ, hoàn cảnh và cơ địa mỗi người một khác, nên đức Phật ngay nơi mỗi người khai thị pháp mà người đó đang trải nghiệm, và vì vậy chỉ người đó mới thật sự biết đức Phật đang chỉ dạy điều gì, người khác có nghe hay đọc lại kinh điển tường thuật thì cũng chỉ để tham khảo hay suy luận mà thôi.
30/08/2020(Xem: 13692)
Khúc đàn Khổng-Vọng-Vi là tiếng khóc của Đức Khổng Tử, tiếc thương người đệ tử thân yêu Nhan Hồi, mệnh yểu mà chết sớm khi tuổi còn thanh xuân. Tiếng khóc bộc lộ tình thầy trò cực kỳ thắm thiết, cực kỳ cảm động đó đã chạm vào những giây tơ mà bật lên âm thanh, truyền cảm tới thẳm sâu tâm linh hậu thế.
29/08/2020(Xem: 14838)
Có một truyền thuyết kỳ lạ, nhưng có lẽ ít được biết đến bởi người Mông Cổ về một con voi xanh, đã góp phần xây dựng một Bảo tháp Phật giáo khổng lồ tại Ấn Độ cổ đại. Con voi lao động cả đời để xây dựng công trình Phật giáo, nó làm việc đến kiệt sức. Tuy nhiên, những nỗ lực của nó vẫn bị bỏ qua, và ngay cả vị Lạt Ma cấp cao đến cúng dường Bảo tháp cũng quên cảm ơn nó. Con voi vô cùng tức giận và phát lời thề rằng, sẽ phá hủy Phật giáo ba lần trong những lần tái sinh sau đó của nó.
29/08/2020(Xem: 13530)
Trên lộ trình tu học, tìm hiểu Phật pháp, và tự đặt mình vào cương vị một người con Phật, đôi khi sự tự hào không chỉ hỗ trợ tinh thần vững tiến mà còn giúp thêm cho ý chí hanh thông, vượt qua nhiều chướng duyên, trong lý tưởng mình đã chọn. Trong thời đại bùng nổ thông tin đa chiều như hiện nay, kiến thức và sự tự hào ấy được chắp thêm nhiều đôi cánh thêm bay cao, bay xa.
28/08/2020(Xem: 13461)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Dươc Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Kính Bái Bạch Thượng Tọa Thích Tâm Phương, Tổng Vụ Trưởng TV Từ Thiện Xã Hội GHPGVNTNHN tại UĐL-TTL, Viện Chủ Tu Viện Quảng Đức, Thay mặt Ban Hướng Dẫn Gia Đinh Phật Tủ Việt Nam tại Úc Đại Lợi, chúng con cung kính cung thỉnh Thầy hoan hỷ quang lâm chứng minh buổi: Lễ Thắp Nến Cầu Nguyện Nạn Nhân Covid-19 & Lễ Cài Hoa Hồng Nhân Mùa Báo Hiếu Qua trực tuyến: https://youtu.be/__xo5VCsy34 Vào tối Thứ Bảy, ngày 29 tháng 8 năm 2020 lúc 23:00g Melbourne.
28/08/2020(Xem: 23946)
Thiền là một lối sống, một dòng suối thuần khiết trong trần thế đa tạp và là thứ ánh sáng kỳ diệu nơi thế tục. Hãy trải nghiệm cuộc đời bằng tâm Thiền, tìm ra những điều tốt đẹp chân chính trong cuộc sống với lòng Bồ Đề, trái tim Bát nhã và tâm Thiền của chúng ta. “Cuộc sống chính là Thiền”, chúng ta phải hiểu ra đạo Thiền trong cuộc sống. Xa rời thế tục để cầu Thiền bái Phật chẳng khác nào “bắt cá bằng cọc đa”, không thể nào chứng ngộ. Giống như tổ thứ 6 thiền sư Huệ Năng nói: “Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính dịch phi đài. Bổn lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai.” Bồ đề là tâm, trần ai bắt nguồn từ cuộc sống, dùng trí tuệ của Thiền để quét sạch, vậy trời đất sẽ tự nhiên bình yên, thanh tịnh.
28/08/2020(Xem: 21468)
Thiền là một lối sống, một dòng suối thuần khiết trong trần thế đa tạp và là thứ ánh sáng kỳ diệu nơi thế tục. Hãy trải nghiệm cuộc đời bằng tâm Thiền, tìm ra những điều tốt đẹp chân chính trong cuộc sống với lòng Bồ Đề, trái tim Bát nhã và tâm Thiền của chúng ta. “Cuộc sống chính là Thiền”, chúng ta phải hiểu ra đạo Thiền trong cuộc sống. Xa rời thế tục để cầu Thiền bái Phật chẳng khác nào “bắt cá bằng cọc đa”, không thể nào chứng ngộ. Giống như tổ thứ 6 thiền sư Huệ Năng nói: “Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính dịch phi đài. Bổn lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai.”
27/08/2020(Xem: 14890)
Trong gần nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Đức Phật đã giảng dạy và hóa độ cho rất nhiều người thuộc nhiều thành phần, căn cơ và nguồn gốc khác nhau. Tùy cơ duyên mà Ngài sử dụng những phương cách giảng khác nhau để khai mở trí tuệ cho hàng đệ tử. Có khi Ngài dùng lời dịu dàng để khuyên răn. Có khi Ngài dùng các lý luận sắc bén để thuyết phục. Có khi ngài dùng những ví dụ, những ngụ ngôn. Có khi ngài dùng những định nghĩa. Cũng có khi Ngài dùng các ẩn dụ mạnh mẽ.
27/08/2020(Xem: 10388)
Tiến sĩ Phật tử Pierce Salguero là một tác giả, nhà nghiên cứu, giảng viên, người hâm mộ và nhà phê bình Phật giáo & Y học Châu Á. Ông là Tổng biên tập Y học Châu Á: Tạp chí của Hiệp hội Nghiên cứu Quốc tế Y học Cổ truyền Châu Á; là Phó Giáo sư Lịch sử Châu Á & Nghiên cứu Tôn giáo; Chủ nhiệm Chương trình Nghiên cứu Liên ngành.
26/08/2020(Xem: 14744)
Phần này bàn về cách dùng quan tiền và các cách tính tiền thời trước và thời LM de Rhodes, dựa vào tự điển Việt Bồ La và một số tài liệu chữ quốc ngữ và nước ngoài. Ngoài ra, một số nhận xét của người ngoại quốc khi dùng đồng tiền An Nam cũng cho thấy thực trạng của loại tiền này. Các phê bình này hầu như thiếu vắng trong tài liệu Hán, Nôm hay chữ quốc ngữ. Đây là những chủ đề có rất ít người đề cập hay khảo sát sâu xa.