Chết Đi Về Đâu ?

05/08/202019:57(Xem: 12182)
Chết Đi Về Đâu ?
CHẾT ĐI VỀ ĐÂU ?
Thích Tánh Tuệ
hoa_sen (4)
Một hôm Ngài A Nan hỏi Đức Phật ?
Bạch Đức Thế Tôn, sau khi một chúng sanh qua đời họ sẽ tái sanh về đâu?
 
Đức Phật ôn tồn trả lời;
Này A Nan, cũng như một cái cây, nếu nghiêng về phía nào, thì khi người ta đốn ngã nó sẽ đỗ về phía đó (trọng lực), một chúng sanh sau khi chết cũng sẽ theo nghiệp mà đi như thế ấy.
 
- Một người ham thích ăn nhậu, thì nơi lui tới là quán xá.
Một người thường hay đánh bài thì thường lui tới sòng bài,
Một người thường hay trộm cắp, nơi lui tới những chỗ sơ hở......
Một người thích hành thiền nghe pháp, nơi lui tới là tu viện
Người thích bố thí cúng dường, nơi lui tới là những mảnh đời bất hạnh, những nơi đặt bát,......
 
Như vậy những người đi theo nghiệp (sở thích của họ) chúng ta không thể tụng kinh niệm Phật để kéo họ ra khỏi những cảnh giới nghiệp lực của họ. Trừ khi nào họ uống rượu bị ung thư gan thì họ mới có thể bỏ rượu, những người đánh bài bị tán gia bại sản, công an bắt giam tù đày, vợ con khốn đốn thì họ mới có thể giác ngộ .....
 
Do đó KHỔ LÀ BÀI HỌC GIÁC NGỘ CHO MỖI CHÚNG SANH .
 
Cho dầu họ có tái sanh vào cảnh giới nào cũng chính là bài học giác ngộ của riêng họ. Đừng mong cầu cúng bái để họ có thể thoát nạn trong lúc sống cũng như sau khi chết. Một cánh duy nhất mà họ có thể sớm thoát nạn là họ phải cải tạo cho tốt thì nhanh được giải thoát ra khỏi cảnh khổ .
 
- Người biết tu sẽ hỏi mình trong cuộc sống hằng ngày chúng ta sống được bao nhiêu phút với tâm chánh niệmtâm trí tuệ, tâm vô thamvô sânChúng ta giữ được bao nhiêu giới trong sạchchúng ta hành thiền được bao nhiêu giờ mỗi ngày , chúng ta bố thíkham nhẫnphục vụ được bao nhiêu % ......
 
Ngược lại, con người đa số thường bị đời lôi kéo theo danh lợi địa vịtài sắc danh thực thuỳ.... thường dẫn đến tham ,sân, si, ích kỉ, ganh tỵ, sát phạt, dẫn đến đả thương bằng tay, khẩu chiến bằng miệng .....dẫn đến phá giới, tạo nhiều tâm bất thiện, tâm tư thường hay giận buồn, thương ghét, oán trách, thù nghịch ....
 
Như vậy, những người nào nặng nghiệp với đời, bị đời lôi kéo , bị đời chi phối đa số sau khi chết thường tái sanh vào cảnh khổ, nếu sanh vào cõi người thường hay bị bất hạnh, khổ đau.
 
Ngược lại một người sống an vui trong giáo pháp, thường giữ giới hành thiền, bố thícung kínhkham nhẫnphục vụnghe pháp, tuỳ hỷ, hồi hướngtrí tuệ .... khi sống cũng đã được an vui hạnh phúc sau khi chết nhất định sẽ tái sanh vào cảnh giới an vui hạnh phúc .

 “Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tinh tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.”
 
 “Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.”
 
(Kinh Pháp Cú 112 & 113)
tran-quy-thoi-gian




















Hỏi lại mình 

 
Hỏi tâm, tâm tĩnh lặng chưa?
Hỏi lòng đã mặc nắng, mưa chuyện đời?
Hỏi trăng, hỏi gió, hỏi trời
Hỏi mây phiêu lãng, hỏi đời phù du ...
 
Bước đi trong cõi sương mù, 
Hỏi đầu gậy trúc, thiên thu quê nhà
Hỏi trời, hỏi đất bao la
Sao cho tâm tịnh, sao qua Niết Bàn?
 
- Cần gì phải hỏi mênh mang,
Bình an Tự tính thênh thang xưa giờ!
Chỉ ta không biết, không ngờ.
Ngày đêm chung sống, hững hờ, cách xa!
 
Vô minh là lỗi tại ta!
Tuệ tribuông bỏ, "quê nhà" tại đây!

Như Nhiên- T Tánh Tuệ
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/02/2022(Xem: 19270)
Tác giả tác phẩm này là Tỳ Kheo Sujato, thường được ghi tên là Bhikkhu Sujato, một nhà sư Úc châu uyên bác, đã dịch bốn Tạng Nikaya từ tiếng Pali sang tiếng Anh. Bhikkhu Sujato cũng là Trưởng Ban Biên Tập mạng SuttaCentral.net, nơi lưu trữ Tạng Pali và Tạng A Hàm trong nhiều ngôn ngữ -- các ngôn ngữ Pali, Sanskrit, Tạng ngữ, Hán ngữ, Việt ngữ và vài chục ngôn ngữ khác – trong đó có bản Nikaya Việt ngữ do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ Tạng Pali, và bản A-Hàm Việt ngữ do hai Hòa Thượng Tuệ Sỹ và Thích Đức Thắng dịch từ Hán Tạng.
22/02/2022(Xem: 9476)
Trong lịch sử, các đại dịch đã buộc nhân loại phải đoạn tuyệt với quá khứ và hy vọng ở tương lai thế giới mới của họ. Điều này không có gì khác lạ. Nó là một cổng thông tin, một cửa ngõ, giữa thế giới đương đại và thế giới tương lai. Nhà văn, nhà tiểu luận, nhà hoạt động người Ấn Độ Arundhati Roy, Đại dịch là một cổng thông tin
21/02/2022(Xem: 7812)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc hiểu biết khác nhau. Bài chuyển ngữ dưới đây đặc biệt nhấn mạnh đến nguồn gốc vô minh tạo ra mọi thứ khổ đau cho con người, đã được nhà sư Tây Tạng Guéshé Lobsang Yésheé thuyết giảng tại chùa Thar Deu Ling, một ngôi chùa tọa lạc tại một vùng ngoại ô thành phố Paris, vào ngày 16 và 30 tháng 9 năm 2004. Bài giảng được chùa Thar Deu Ling in thành một quyển sách nhỏ, ấn bản thứ nhất vào năm 2006.
19/02/2022(Xem: 12043)
Nhân Tết Nhâm Dần, với tâm niệm hộ trì Tam Bảo và mừng tuổi chư Tăng tu hành nơi xứ Phật chúng con, chúng tôi vừa thực hiện một buổi cúng dường Trai Tăng & tịnh tài đến chư Tôn đức Tăng già, các bậc xuất sỹ thường trú tại khu Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng, nơi đức Thế Tôn thành Đạo..
18/02/2022(Xem: 10713)
Phải công nhận với đà tiến triển kỹ thuật văn minh của vi tính, những gì ta có thể được tiếp xúc, thọ nhận sẽ nhiều hơn ngày trước ngàn lần ... khiến chúng ta đã có thể thay đổi dễ dàng theo sự tiến hóa của nhân loại và mở rộng sự hiểu biết với thế giới bên ngoài, hơn thế nữa ký ức chúng ta cũng được lưu lại dưới dạng hình ảnh, những bài pháp thoại và những trang cập nhật có thể truy cứu trong vài phút ...đó là lý do tôi ao ước được viết lại cảm nghĩ của mình khi nghe lại bài pháp thoại tuyệt vời từ 6 năm về trước tại Tu Viện Quảng Đức. Kính xin niệm ân tất cả nhân duyên đã cho tôi có cơ hội này ....
17/02/2022(Xem: 15845)
Cháu tìm ra chút nhân duyên Trời cao biển rộng ngoại tìm ra không? Non xanh nước biếc phiêu bồng Về già ngoại vẫn đếm đong đi tìm Một đời bay mỏi cánh chim Nghiệp duyên ba nổi bảy chìm xang bang Lên non xuống biển tìm vàng Nhân duyên bắt được chỉ toàn đá rêu
17/02/2022(Xem: 10348)
“Một con én một đoạn đường lay lất Một đêm dài nghe thác đổ trên cao Ta bước vội qua dòng sông biền biệt Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
17/02/2022(Xem: 10402)
Phần này tiếp theo loạt bài “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes” về các Kinh Lạy Cha và Kinh A Ve (đánh số 5 và 26). Bài này chú trọng đến các dạng chữ Nôm trong bản Kinh Tin Kính (KTK) của LM Philiphê Bỉnh, đặc biệt là từ tài liệu của các LM de Rhodes và Maiorica, và cũng so sánh với các dạng chữ quốc ngữ trong tài liệu chép tay của cụ Bỉnh.
15/02/2022(Xem: 17828)
Với mục đích quảng bá Phật Pháp miễn phí đến những vị muốn Tu học Phật Pháp, Rèn luyện Anh ngữ, Luyện Dịch Việt-Anh hoặc Anh-Việt, (nhất là những vị đang sinh sống, hoặc sẽ đi hay đang du học, ở những quốc gia sử dụng tiếng Anh – cũng là ngôn ngữ quốc tế được sử dụng khắp thế giới). Thế Giới Phật Giáo .org đã thực hiện sách Song ngữ ANH-VIỆT Đối chiếu (từng đoạn văn Rất NGẮN để dể đối chiếu) sau đây.
13/02/2022(Xem: 14606)
Hiện nay chúng ta đang có 2 cách tính thời gian theo : Âm Lịch và Dương Lịch. Phương Tây và nhiều nước trên thế giới sử dụng Dương Lịch, lịch này tính theo chu kỳ tự quay xung quanh trục mình của Trái Đất và Trái Đất quay xung quanh mặt trời. Trong khi đó cách tính Âm Lịch sử dụng Can Chi, bao gồm thập Can và thập nhị Chi. Trong đó, 10 Can gồm: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ được tạo thành từ Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. 12 Chi được lựa chọn từ các con vật gần gũi với con người hoặc thuần dưỡng sớm nhất. Có một sự khác nhau trong 12 Chi giữa Âm Lịch Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam,.... đó là Chi thứ 4 là con Mèo hay con Thỏ. Ở Việt Nam, 12 con giáp gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng với 12 con vật : Chuột, Trâu, Hổ, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Lợn. Khi ghép lại sẽ tạo thành 60 năm (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12) từ các tổ hợp Can - Chi khác nhau, gọi chung là Lục Thập Hoa Giáp.