Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Sống Trọn Vẹn Như Thế Nào

25/05/201917:29(Xem: 586)
Sống Trọn Vẹn Như Thế Nào

SỐNG TRỌN VẸN NHƯ THẾ NÀO

 

Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma

Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

 his-holiness-song-tron-ven

Mục Lục

 

 Lời đầu sách của Tiến sĩ Jeffrey Hopkins

 Nhu câù vì hòa bình và ân cần

 

I- NHỮNG CĂN BẢN.. 12

 1- Ba phương diện để thực tập 13

II- THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC.. 16

2- Nhận diện phạm vi của khổ đau 17

3- Khám phá rắc rối phát sinh và dựng lại như thế nào 25

4- Tránh làm tổn hại 34

5- Mở rộng giúp đở 40

6- Ngưỡng mộ Giác Ngộ. 52

III- THỰC HÀNH THIỀN TẬP TRUNG.. 61

7- Tập trung tâm thức. 62

IV- THỰC HÀNH TUỆ TRÍ 71

8- Thẩm tra chúng sanh và sự vật tồn tại như thế nào 72

9- Trung đạo 80

10- Tâm thức và bản chất sâu thẩm của tâm thức 90

V- MẬT TÔNG.. 96

11- Bổn tôn du già 97

VI NHỮNG BƯỚC TRÊN ĐƯỜNG TU TẬP. 104

12- Tổng quan về con đường giác ngộ. 105

 

 


 

LỜI ĐẦU SÁCH SỐNG TRỌN VẸN NHƯ THẾ NÀO CỦA TIẾN SĨ JEFFREY HOPKINS

 

 

Tôi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma giảng lần đầu tiên vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Dharamsala ở miền bắc Ấn, ngài đã bắt đầu khóa thuyết giảng 16 ngày,  bốn đến sáu tiếng mỗi ngày về những giai đoạn của con đường Giác Ngộ. Tôi đã bắt đầu học Tạng ngữ và thực tập Phật giáo Tây Tạng vào năm 1962, và những vị thầy của tôi, đặc biệt chỉ bảo về những sự phức tạp của các luận điển Tây Tạng, đã chuẩn bị cho tôi việc học hỏi với những học giả du già Tây Tạng tị nạn ở Ấn Độ. Nhưng thật tình mà  nói, tôi không nghĩ rằng một vị tái sanh được chỉ định nắm quyền sinh ra ở đông bắc Tây Tạng năm 1935 và được nhìn nhận qua những sự tiên đoán, các giấc mộng, những biến cố cực kỳ phi thường, và các thử nghiệm như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào lúc 2 tuổi – có thể đảm đương nhiệm vụ quan trọng như vậy.

 

Tuy nhiên tôi đã kinh ngạc.

 

Ngài đã nói về một biên độ rộng của những đề tài liên quan đến con đường Giác Ngộ, chiếm được tâm hồn và trái tim tôi với những khái niệm, rộng và hẹp, phân loại những vấn đề từ lâu chưa được giải quyết, mở rộng đến những người khác và đưa tôi vào những lãnh vực thấu hiểu mới.

 

Bằng Tạng ngữ Đức Đạt Lai Lạt Ma nói với một tốc độ tường tận và minh bạch khiến tôi không thể bị xao lãng. Một lần, ngài hào hứng đặc biệt trong khi đang diễn tả những quán chiếu về việc phát sinh lòng bi mẫn. Giọng của ngài vang lên đến một cấp độ mà ngài nói đùa như “giọng-dê”, trong ấy tôi đã nghe niềm say mê đầy cảm hứng của thi ca. Trong loạt thuyết giảng ấy ngài trình bày phạm vi lãnh hội của những thực tập đưa đến Giác Ngộ, với chiều sâu của triết lý, vốn dĩ là những đề tài thường thường kề cận nhau mà người khác để trong trạng thái cách li. Cùng giọng của cả thi ca và triết lý được trình bày trong quyển sách này, đôi khi chạm vào trái tim với những tường thuật xúc động về thân phận của sự sống và các phẩm chất tốt đẹp của lòng vị tha, và vào những lúc khác là các phân biệt cẩn thận về những thực tập thậm thâm như thiền quán về tánh không, vốn phục vụ như việc nuôi dưỡng qua năm tháng cho quán chiếu.

 

Lúc 5 tuổi, Đức Đạt Lai Lạt được đưa về Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, nơi ngài phải trải qua việc rèn luyện theo chương trình trọn vẹn của tu viện. Qua sự xâm chiếm miền Đông Tây Tạng của Trung Cộng năm 1950, ngài bất ngờ lãnh trách nhiệm chấp chánh thế quyền trung ương lúc 16 tuổi. Mặc dù cố gắng để hợp tác với những kẻ xâm lược, nhưng ngài phải đối diện với hiểm họa cá nhân đang đe dọa và đào thoát đến Ấn Độ năm 1959. Trong lưu vong, ngài đã thành công trong việc tái lập lại trên diện rộng những trung tâm văn hóa Tây Tạng. Ngài đã du hành một cách rộng rãi gần như khắp thế giới, mang theo thông điệp – không chỉ cho những người Phật tử và tín đồ của những tôn giáo khác, mà cho mọi người – về tầm quan trọng của ân cần tử tế với chính kết cấu của xã hội. Trong việc công nhận về những nổ lực không mệt mõi của ngài nhân danh đồng bào Tây Tạng và tất cả mọi dân tộc, ngài đã được trao giải Nobel hòa bình năm 1989.

 

Đức Thánh Thiện đã xuất bản nhiều quyển sách, một số cho những độc giả phổ thông và một số khác cho những người đặc biệt thích thú với Phật giáo. Trong quyển sách này, ngài đã trình bày một truyền thống thực tập tâm linh lâu đời ở Tây Tạng và về kinh nghiệm của chính ngài để cống hiến những ý kiến về vấn đề thực tập một con đường tâm linh như thế nào sẽ đưa đến sự trong sáng tinh thần và việc chuyển hóa cảm xúc. Trong cách này, ngài cho thấy đời sống có thể hiện thực một cách đầy đủ ý nghĩa như thế nào.

 

Qua ba mươi năm mà tôi đã biết ngài và trong mười năm phục vụ như thông dịch viên trưởng của ngài trong những chuyến thuyết giảng ở Hoa Kỳ, Canada, Indonesia, Singapore, Malaysia, Úc Đại Lợi, Anh quốc, và Thụy Sĩ, tôi đã chứng kiến hóa thân của ngài trong những thực tập này với chính thâm tâm thị hiện của ngài. Thật quan trọng để cho chúng ta nhận ra con người tuệ giác tròn đầy, từ bi, hài hước và kỳ diệu này phát xuất từ nền văn hóa Tây Tạng. Chúng ta cần đánh giá rằng văn hóa như một trong những kỳ quan vĩ đại của thế giới.

 

Jeffrey Hopkins, Ph. D.

Giáo sư Tây Tạng học,

Đại học Virginia, Hoa Kỳ


THỰC HÀNH NHƯ THẾ NÀO


NHU CẦU VÌ HÒA BÌNH VÀ ÂN CẦN

 

 

 

  

Tôi đã du hành qua nhiều nơi khắp thế giới, và bất cứ khi nào tôi nói chuyện với mọi người, thì tôi luôn luôn có cảm giác rằng tôi là một thành viên trong gia đình của họ. Mặc dù chúng ta có thể mới gặp lần đầu, nhưng tôi xem mọi người như bạn. Thật sự chúng ta đã biết nhau, một cách sâu sắc, như những con người mà chúng ta cùng chia sẻ những mục tiêu căn bản như nhau: Tất cả chúng ta đều tìm cầu hạnh phúc và không muốn khổ đau.

 

HAI CÁCH ĐỂ HẠNH PHÚC

 

Có hai cách để tạo dựng hạnh phúc. Thứ nhất là bên ngoài. Bằng việc có được chỗ ở tốt đẹp hơn, áo quần tốt đẹp hơn, và những người bạn tốt đẹp hơn thì chúng ta có thể thấy được một tiêu chẩn nào đó của hạnh phúc và hài lòng. Thứ hai là qua phát triển tinh thần, vốn có thể mang lại hạnh phúc nội tại. Tuy nhiên, hai sự tiếp cận này không thể phát triển một cách như nhau. Hạnh phúc bên ngoài không thể tồn tại lâu dài mà không có bộ phận tương ứng của nó. Nếu điều gì đó đang vắng mặt trong nhận thức của ta – nếu điều gì đó tâm hồn ta đang thấy thiếu – thế thì mặc cho quanh ta là những thứ xa hoa nhất, thì ta cũng không thể hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu ta có hòa bình trong tâm hồn, thì ta có thể thấy hạnh phúc ngay cả dưới những hoàn cảnh khó khăn nhất.

 

Tiến bộ vật chất không thôi đôi khi giải quyết một vấn đề nhưng lại tạo ra một rắc rối khác. Thí dụ, những người nào đó có thể có được giàu sang, một nền giáo dục tốt, và vị trí xã hội cao, nhưng hạnh phúc lãng tránh họ. Họ dùng thuốc ngủ và uống rượu quá nhiều. Đôi khi là thiếu thốn thứ gì đó khiến họ không thể hài lòng, vì thế những người này nương tựa vào ma túy hay rượu chè. Trái lại, một số người ít tiền bạc để lo lắng nhưng hưởng thụ hòa bình nhiều hơn. Họ ngủ ngon về đêm. Mặc cho nghèo trong ý nghĩa vật chất, nhưng họ toại nguyện và hạnh phúc. Điều này cho thấy tác động mạnh mẽ của một thái độ tinh thần tốt. Sự tiến bộ vật chất không thôi sẽ không thể giải quyết toàn bộ vấn nạn khổ đau của nhân loại.

 

Trong quyển sách này, tôi cống hiến với quý vị, những độc giả, các kỷ năng từ những truyền thống Tây Tạng, nếu thực hành hằng ngày, thì sẽ đưa đến hòa bình tinh thần. Khi quý vị tĩnh lặng tâm hồn và trái tim, thì sự khuấy động và lo lắng của quý vị sẽ tự nhiên lắng đọng, và quý vị sẽ hạnh phúc hơn. Các mối quan hệ của quý vị với những người khác sẽ phản chiếu những sự thay đổi này. Và như những con người tốt đẹp hơn, quý vị sẽ là những công dân tốt đẹp hơn của đất nước quý vị, và cuối cùng là những công dân tốt đẹp hơn của thế giới.

 

ÂN CẦN TỬ TẾ

 

Tất cả chúng ta bất lực khi được sanh ra. Không có lòng ân cần của cha mẹ thì chúng ta không thể sống còn, kém thành công hơn nhiều. Khi trẻ con lớn lên trong sợ hãi liên tục, không ai tựa nương, chúng đau khổ cả đời. Vì tâm hồn trẻ nhỏ rất yếu đuối, thế nên nhu cầu cho lòng ân cần của chúng đặc biệt rõ ràng.

 

Người trưởng thành cũng cần lòng ân cần. Nếu người nào đó chào đón tôi với một nụ cười dễ thương, và biểu lộ một thái độ thân hữu chân thành, tôi sẽ cảm kích rất nhiều. Cho dù tôi có thể không biết người đó hay thấu hiểu ngôn ngữ của họ, nhưng họ làm cho trái tim tôi vui sướng tức thời. Trái lại, nếu lòng ân cần thiếu vắng, thì ngay cả với người nào đó trong nền văn hóa của tôi, người mà tôi đã biết trong nhiều năm, tôi cũng cảm thấy được. Ân cần và yêu thương, một cảm nhận thật sự của tình anh chị em, những thứ này là rất quý giá. Chúng tạo thành cộng đồng hiện thực và vì vậy là rất quan trọng trong xã hội.

 

TIỀM NĂNG CON NGƯỜI

 

Mỗi chúng ta có cảm nhận tất yếu về tự ngã, “cái tôi”. Chúng ta cũng chia sẻ những mục tiêu căn bản: Chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Thú vật và côn trùng cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, nhưng chúng không có năng lực đặc biệt để nghĩ đến việc đạt được hạnh phúc sâu hơn và vượt thắng khổ đau như thế nào. Như những con người, được ban cho khả năng tư duy, chúng ta có tiềm năng này, và chúng ta phải sử dụng nó.

 

Trong mọi cấp độ - như những cá nhân, và như những thành viên của một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia, và một hành tinh – những kẻ gây rối hiểm độc mà chúng ta đối diện là sân hận và vị kỷ. Loại vị kỷ mà tôi liên hệ ở đây không chỉ là một cảm nhận của cái tôi, nhưng là một sự phóng đại của tính tự cho mình là trung tâm. Không ai tuyên bố cảm thấy hạnh phúc trong khi sân hận. Khi nào mà sân hận vẫn còn khống chế tính khí của chúng ta, thì không thể có sự hạnh phúc tồn tại lâu dài.  Để đạt được hòa bình, tĩnh lặng, và tình thân hữu thật sự, chúng ta phải giảm thiểu tối đa sân hận và trau dồi lòng ân cần cùng một trái tim nhiệt tình. Điều này có thể đạt được qua những sự thực tập mà tôi sẽ diễn tả trong quyển sách này.

 

Việc phát triển một trái tim nhiệt tình của chính chúng ta cũng có thể chuyển hóa những người khác. Khi chúng ta trở thành những con người dễ thương hơn, thì những người láng giềng, bạn bè, cha mẹ, người phối ngẫu, và con trẻ sẽ trải nghiệm ít sân hận hơn. Họ sẽ trở thành nhiệt tình hơn, yêu thương hơn và hòa hiệp hơn. Chính không khí trở thành hạnh phúc hơn sẽ thúc đẩy sức khỏe tốt hơn, có lẻ ngay cả sống lâu hơn.

 

Quý vị có thể giàu sang, quyền lực và học vấn tốt, nhưng nếu không có những cảm nhận lành mạnh của lòng ân cần và yêu thương thì sẽ không có hòa bình trong chính quý vị, không có hòa bình trong gia đình quý vị - ngay cả con cái của quý vị cũng đau khổ. Lòng ân cần là thiết yếu cho hòa bình tinh thần. Khi quý vị thấy những trang sách sắp đến, phương pháp trung tâm cho việc đạt được một đời sống hạnh phúc hơn là rèn luyện tâm thức quý vị trong sự thực tập hàng ngày vốn làm suy yếu những thái độ tiêu cực và làm mạnh những thứ tích cực.

 

Câu hỏi lớn là chúng ta có thể thực tập ân cần và hòa bình hay không. Nhiều vấn nạn đã xuất phát từ các thái độ như đặt chúng ta lên trước bằng mọi giá. Tôi biết từ kinh nghiệm của chính tôi là có thể thay đổi những thái độ này và cải thiện tâm thức con người. Dù nó không màu sắc, không hình thể, và đôi khi yếu đuối, nhưng tâm thức con người có thể trở thành mạnh hơn sắt thép. Để rèn luyện tâm thức, quý vị phải tập nhẫn nại và quyết chí, nó tạo hình cho sắt thép ấy. Nếu quý vị thực tập cải thiện tâm thức với một ý chí mạnh mẽ và khoan dung, bằng việc cố gắng, cố gắng, cố gắng, thì bất chấp bao nhiêu khó khăn mà quý vị có thể chạm trán vào lúc đầu, nhưng rồi thì quý vị sẽ thành công. Với sự nhẫn nại, và thực tập, cùng thời gian, sự thay đổi sẽ đến.

 

Đừng bỏ dở. Nếu quý vị bi quan vào lúc khởi đầu, thì quý vị không thể thành công. Nếu hy vọng và quyết tâm, quý vị sẽ luôn luôn thấy một mức độ nào đó của thành công. Giành được huy chương vàng không thành vấn đề. Quý vị sẽ phải cố gắng tột cùng.

 

LỆ THUỘC HỔ TƯƠNG

 

Phần lớn thế giới bây giờ được nối kết với nhau bởi một mạng lưới truyền thông điện tử và thông tin tức thời. Trong thế kỷ 21, nền kinh tế toàn cầu của chúng ta đã làm cho các quốc gia và người dân của chúng lệ thuộc nặng nề vào nhau. Thời xa xưa, sự trao đổi giữa các quốc gia không cần thiết. Ngày nay, thật không thể duy trì sự cô lập, thế nên nếu các quốc gia không có sự tôn trọng hổ tương, thì các vấn nạn phải sinh ra. Mặc dù có những dấu hiệu nghiêm trọng của rắc rối giữa các quốc gia giàu nghèo, và giữa những nhóm người giàu nghèo trong các quốc gia, thì những rạn nứt kinh tế này có thể được chửa trị bằng một cảm nhận mạnh mẽ hơn của sự lệ thuộc hổ tương và trách nhiệm toàn cầu. Người dân trong nước này phải xem người dân trong nước khác như anh chị em, những người cũng xứng đáng phát triển quê hương của họ.

 

Mặc cho mọi nổ lực tốt nhất của các lãnh tụ thế giới, các khủng hoảng cứ bùng lên. Chiến tranh giết hại người dân vô tội; người già và trẻ con chết liên tục không ngừng. Nhiều chiến binh đang đánh nhau ở đấy không phải do ý muốn của họ, nổi khổ đau thật sự mà các chiến binh vô tội này đang trải nghiệm là rất đau buồn. Việc buôn bán vũ khí – hàng nghìn và hàng nghìn loại vũ khí và đạn dược được sản xuất trong những nhà máy như đổ dầu vào lửa bạo động, nhưng nguy hiểm hơn súng ống hay bom đạn là sự thù hận, thiếu vắng yêu thương, và thiếu vắng sự tôn trọng các quyền lợi của người khác. Khi mà thù hận vẫn còn lưu trú trong tâm thức con người, thì nền hòa bình thật sự là không thể có.

 

Chúng ta phải làm mọi cách để chấm dứt chiến tranh, và để thoát khỏi thế giới của vũ khí hạt nhân. Lần đầu tiên khi tôi viếng Hiroshima, nơi trái bom nguyên tử đầu tiên được thả xuống, khi tôi thấy ngay hiện trường và nghe các câu chuyện của những người sống sót, trái tim tôi xúc động sâu sắc. Bao nhiêu người đã chết ngay trong thời khắc ấy! Bao nhiêu người nữa bị thương tật! Bao nhiêu đau đớn và thê lương mà chiến tranh nguyên tử đã tạo ra! Tuy thế, hãy nhìn vào biết bao tiền của được dành cho vũ khí hủy diệt hàng loạt. Thật sốc, đáng hổ thẹn vô cùng.

 

Những tiến bộ trong khoa học và kỷ thuật đã làm lợi lạc vô vàn cho nhân loại, nhưng không phải là không có giá của nó. Trong khi chúng ta hưởng thụ sự phát triển của máy bay phản lực, thí dụ thế, vốn làm cho chúng ta có thể du lịch một cách dễ dàng trên thế giới, thì những vũ khí tàn phá kinh khủng cũng được tạo ra. Bất chấp quê hương của họ xinh đẹp và xa xôi như thế nào đi nữa, nhiều người vẫn sống trong sợ hãi liên tục của một hiểm họa thật sự: hàng nghìn và hàng nghìn đầu đạn hạt nhân đang chờ tấn công. Nhưng nút bấm phải được một người nào đó nhấn tay vào, và vì thế quyết định của con người là trách nhiệm tối hậu.

 

Cách duy nhất để đạt đến nền hòa bình trường cửu là qua sự tin tưởng, tôn trọng hổ tương, yêu thương và ân cần. Cách duy nhất. Những cố gắng bằng sức mạnh toàn cầu để chiếm ưu thế qua chạy đua vũ trang – cho dù nguyên tử, hóa học, sinh học, và quy ước – là phản tác dụng. Làm thế nào một thế giới đầy thù oán và sân hận đạt được nền hòa bình thật sự? Hòa bình bên ngoài không thể có được nếu không có hòa bình nội tại. Thật cao quý để hành động cho những giải pháp bên ngoài, nhưng chúng không thể được thực hiện một cách đầy đủ khi người ta vẫn còn thù oán và sân hận trong tâm thức họ. Đây là nơi sự thay đổi sâu sắc phải được bắt đầu. Cá biệt thì chúng ta phải hành động để thay đổi những nhận thức căn bản mà những cảm nhận chúng ta lệ thuộc. Chúng ta chỉ có thể làm như vậy qua rèn luyện, bằng việc dấn thân vào việc thực tập với mục tiêu định hướng lại dần dần cung cách chúng ta nhận thức chính mình và người khác.

 

Tình trạng tuyệt vọng của thế giới chúng ta kêu gọi chúng ta hành động. Mỗi chúng ta có trách nhiệm cố gắng để hổ trợ ở cấp độ sâu xa hơn cho cộng đồng nhân loại chung của chúng ta. Bất hạnh thay, nhân loại thường bị hy sinh quá nhiều trong việc bảo vệ lý tưởng. Điều này chắc chắn là sai lầm. Những hệ thống chính trị phải thật sự làm lợi ích cho con người, nhưng, như tiền bạc, chúng có thể điều khiển chúng ta thay vì hoạt động cho chúng ta. Bất kỳ lúc nào, với trái tim nhiệt tình và nhẫn nại chúng ta cũng có thể quan tâm đến những quan điểm của người khác, và trao đổi ý kiến trong những thảo luận trầm tĩnh, thì chúng ta sẽ tìm ra những điểm đồng thuận. Đó là trách nhiệm của chúng ta – vì lòng từ ái và bi mẫn cho con người – để tìm sự hòa hiệp giữa các quốc gia, các lý tưởng, các nền văn hóa, các nhóm chủng tộc, và kinh tế cùng những hệ thống chính trị. Khi chúng ta thật sự nhận ra tính duy nhất của toàn thể nhân loại, thì động cơ của chúng ta để tìm hòa bình sẽ phát triền mạnh mẽ hơn. Trong cảm nhận sâu xa nhất, chúng ta thật sự là những anh chị em của nhau, cho nên chúng ta phải chia sẻ đau khổ của nhau. Sự tôn trọng, tin tưởng và quan tâm hổ tương cho sự cát tường của nhau là hy vọng tuyệt vời nhất cho một nền hòa bình bền lâu.

 

Dĩ nhiên, các lãnh tụ quốc gia có một trách nhiệm đặc biệt trong lãnh vực này, nhưng mỗi cá nhân cũng phải phát huy sáng kiến, bất chấp niềm tin tôn giáo. Quả thật như là con người, bằng việc tìm cầu để thành đạt hạnh phúc và tránh khổ đau, chúng ta là những công dân của hành tinh này. Tất cả chúng ta có trách nhiệm cho việc tạo nên một tương lai tốt đẹp hơn.

 

Để có được một thái độ thân hữu, một trái tim nhiệt tình, tôn trọng cho các quyền của người khác, và quan tâm cho lợi ích của họ thì chúng ta phải rèn luyện tâm thức. Trong quyển sách này, tôi sẽ trình bày một loạt những thực tập được vạch ra từ các truyền thống Tây Tạng sẽ rất hữu ích cho việc hoàn thành những mục tiêu này. Đối tượng chủ yếu của sự thực tập hàng ngày là để trau dồi một thái độ của yêu thương và tĩnh lặng – một thể trạng của tâm thức đặc biệt quan trọng trong xã hội con người ngày nay vì năng lực của nó mang lại một sự  hòa hiệp chân thật giữa các quốc gia, chủng tộc và dân tộc từ những hệ thống tôn giáo, chính trị và kinh tế khác biệt.

 

TẠO DỰNG HÒA HIỆP

 

Hòa hiệp và hữu nghị vốn cần thiết trong gia đình, quốc gia, và thế giới của chúng ta chỉ có thể đạt được qua yêu thương và ân cần tử tế. Bằng việc hổ trợ nhau, với sự quan tâm và tôn trọng, chúng ta có thể giải quyết nhiều vấn nạn một cách dễ dàng. Hòa hiệp không thể xuất phát từ đỉnh điểm của mất lòng tin, lừa dối, bắt nạt và tinh thần ganh đua không thiện cảm. Thành công qua hăm dọa và bạo động là thắng thế tạm thời; thành quả tầm thường của nó chỉ có thể tạo thêm những rắc rối mới. Đó là tại sao chỉ trong vài thập niên sau thảm họa vô vàn của Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II đã nổ ra và hàng triệu người nữa đã chết. Nếu chúng ta thẩm tra lịch sử lâu dài của thù oán và sân hận, thì rõ ràng chúng ta thấy nhu cầu để tìm ra một phương cách tốt đẹp hơn. Chúng ta chỉ có thể giải quyết các vấn nạn của chúng ta qua những phương tiện hòa bình chân thật – không chỉ những lời nói hòa bình mà là một nền hòa bình từ tâm hồn và trái tim. Trong cách này, chúng ta sẽ có một thế giới tốt đẹp hơn.

 

Điều này có thể chứ? Đánh đấm, lừa dối, và bắt nạt đã cột chúng ta vào trong hoàn cảnh hiện tại; bây giờ chúng ta cần sự rèn luyện trong những sự thực tập mới để tìm lối ra. Dường như nó phi thực tế và lý tưởng hóa, nhưng chúng ta không có sự thay thế cho yêu thương, việc nhìn nhận giá trị nhân bản và tính duy nhất của nhân loại. Đây là cách duy nhất để đạt được niềm hạnh phúc miên viễn.

 

Tôi đã du hành từ quốc gia này qua quốc gia khác với ý nghĩa duy nhất này. Tôi đã rèn luyện tâm thức trong nhiều thập niên, vì thế khi tôi gặp gở mọi người từ những nền văn hóa khác nhau thì không có rào cản nào. Tôi tự tin rằng mặc cho những nền văn hóa khác nhau cùng những hệ thống chính trị kinh tế khác nhau, nhưng một cách căn bản tất cả chúng ta là giống nhau. Càng gặp gở nhiều người hơn sự tự tin của tôi càng trở nên mạnh mẽ hơn về tính duy nhất của nhân loại, được đặt nền tảng trong sự thấu hiểu và tôn trọng, là một căn bản thực tế và có thể thành tựu được cho tư cách của chúng ta. Bất cứ nơi nào tôi đến, đây là điều mà tôi nói đến. Tôi tin rằng từ ái và bi mẫn -  một cảm nhận chân thành về tình anh chị em – là tôn giáo phổ quát. Bất chấp ta là Phật tử hay Ki tô hữu, Hồi giáo hay Ấn giáo, cho dù chúng ta hoàn toàn không thực tập tôn giáo gì cả thì vấn đề quan trọng là cảm nhận đồng nhất với nhân loại của chúng ta.

 

Quý vị có đồng ý không? Quý vị có nghĩ là điều này vô nghĩa không? Tôi không phải là một Thánh Vương (God King) như một số người gọi tôi. Tôi chỉ là một tu sĩ Phật giáo. Những gì tôi đang nói là từ sự thực tập của tôi, rất giới hạn. Nhưng tôi thật sự cố gắng để thực hiện những ý tưởng này trong đời sống hàng ngày của tôi, một cách đặc biệt khi tôi đối diện với những rắc rối. Dĩ nhiên đôi khi tôi thất bại. Đôi khi tôi bực tức. Có khi tôi sử dụng những lời thô tháo, nhưng khi xảy ra như vậy, lập tức tôi nghĩ “Ô, như vậy là sai rồi.” Tôi cảm nhận điều này vì tôi đã tiếp thu những sự thực tập yêu thương và tuệ trí làm cốt lõi cho quyển sách này. Những sự thực tập hàng ngày này là rất hữu ích và rất giá trị trong đời sống của tôi. Do vậy, vì biết rằng quý vị và tôi có tâm hồn và trái tim như nhau, cho nên tôi chia sẻ chúng với quý vị.

 

***

 

Khi tôi mới 15, Hồng Quân đánh chiếm miền Đông Tây Tạng, và chỉ trong một năm chính quyền Tây Tạng quyết định tôi nên trực tiếp điều khiển công việc của quốc gia. Đó là một thời điểm khó khăn khi chúng tôi nhìn sự tự do của chúng tôi bị xói mòn, và trong năm 1959, tôi bị buộc phải đào thoát khỏi thủ đô dưới sự che chở của màn đêm. Trong lưu vong ở Ấn Độ, chúng tôi đối diện với các rắc rối hàng ngày từ nhu cầu điều hòa với khí hậu khác biệt quá lớn đến nhu cầu tái thiết lập những cơ cấu văn hóa. Sự thực tập tâm linh đã cho tôi một triển vọng để có thể giữ sự tìm kiếm cho những giải pháp mà không đánh mất quan điểm về sự kiện rằng tất cả chúng ta là những con người bị hướng dẫn lạc lối bởi những ý kiến sai lầm và được hợp nhất bởi những mối quan hệ chung, sẳn sàng cho sự cải thiện.

 

Điều này đã dạy tôi rằng những nhận thức của yêu thương, tĩnh lặng, và tuệ giác là quan trọng với đời sống hàng ngày và phải được trau dồi trong sự thực tập hàng ngày. Rắc rối bắt buộc phải xảy ra, cho nên việc trau dồi thái độ đúng đắn là cần thiết. Sân hận làm suy giảm năng lực phân biệt đúng và sai, và năng lực này là một trong những cống hiến cao cấp nhất của loài người. Nếu nó bị đánh mất thì chúng ta cũng không còn. Đôi khi cũng cần phản ứng một cách mạnh mẽ, nhưng điều này  nên được thực hiện mà không có sân hận. Sân hận là không cần thiết. Nó vô giá trị.

 

Tôi gọi từ bi yêu thương là nguyên liệu chính của địa cầu. Loài người muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Hòa bình tinh thần là nhu cầu căn bản cho toàn thể nhân loại. Đối với những chính trị gia, kỷ , khoa học gia, người nội trợ, bác sĩ, giáo viên, luật sư – cho tất cả mọi người trong mỗi nỗ lực – một động cơ lành mạnh, yêu thương là nền tảng của sự lớn mạnh tâm linh.

 

TỔNG QUAN CỦA QUYỂN SÁCH

 

Trong những chương tiếp theo, tôi sẽ diễn tả những kỷ năng Phật giáo đặc thù cho việc đạt đến hòa bình tinh thần và một năng lực lớn hơn cho từ bi yêu thương trong phạm vi của hành động để vượt thắng những gì mà Đạo Phật xem như các khái niệm sai lầm về vấn đề sự sống và sự vật tồn tại như thế nào. Trong thuật ngữ Phật giáo, đây là con đường đến Giác Ngộ. Tuy nhiên, bất cứ người nào cũng có thể hiện thực những bước đặc thù đối với việc tự cải thiện khi họ thấy thích hợp.

 

Tôi đã bố cục quyển sách này làm sáu phần. Bắt đầu bằng Những Căn Bản, với câu chuyện về Đức Phật như một sự hướng dẫn cho cuộc sống đầy đủ ý nghĩa, sống trọn vẹn: ở đây tôi giới thiệu ba khía cạnh của sự thực tập tâm linh – đạo đức, thiền định và tuệ trí – vốn là chủ đề chính của quyển sách. Trong phần thứ hai, Thực Hành Đạo Đức, tôi diễn tả hai loại đạo đức: tái định hướng những hành vi của thân thể và lời nói để không làm tổn hại người khác, và việc trau dồi quan tâm sâu sắc hơn cho người khác. Trong phần thứ ba, Thực Tập Thiền Định, tôi diễn tả vấn đề thành tựu tập trung tinh thần như thế nào và khôi phục tĩnh lặng trong những hoàn cảnh căng thẳng như thế nào. Điều này được tiếp theo bởi Thực Hành Tuệ Trí, trình bày chủ đề khó nhưng bổ ích của duyên khởi và tánh không. Ở đây, chúng ta đi sâu hơn vào tư duy Phật giáo khi chúng ta quan tâm đến sự khác biệt giữa tâm thức và bản chất tối hậu của nó. Trong phần thứ tư này, tôi hy vọng giảng giải bất cứ khái niệm nào mà Phật giáo vì một lý do nào đấy cho là hư vô và bi quan bằng việc diễn tả tính tương hợp giữa hiện tướng và thực tại.

 

Những sự thảo luận này về đạo đức, thiền định và tuệ trí diễn ra nhẹ nhàng trong phần thứ năm, Mật Tông tantra, trình bày một sự thực tập du già đặc biệt phối hợp ba thứ này. Tôi cũng thảo luận vấn đề tham muốn có thể được sử dụng trong con đường tâm linh như thế nào bởi những hành giả lão luyện.

 

Phần kết luận, Những Bước Trên Đường Đi, trình bày tổng quan về con đường thực tập từ lúc bắt đầu thẳng đến sự Giác Ngộ, một thể trạng nơi tâm thức và thân thể phát triển trọn vẹn để phụng sự người khác.

 

Từ lúc bắt đầu đến kết thúc, sự tập trung của chúng ta ở trong sự phát triển một trái tim và tâm thức thuần thiện qua một thái độ đạo đức và một sự thấu hiểu về thực tại, được tăng cường bởi sự tập trung. Hãy nghĩ về đạo đức, thiền định và tuệ trí như một như một bản đồ cho sự Giác Ngộ, nhắc nhở chúng ta về mục tiêu cao nhất của sự thực tập – một sự chuyển hóa thái độ đối với hòa bình, yêu thương, tập trung tĩnh lặng, và tuệ trí. Việc thấu hiểu bản đồ, tự nó là một phần của con đường, vạch ra cho chúng ta hướng đến mục tiêu. Tôi hy vọng rằng, những phần của quyển sách này có thể hữu dụng, nhưng nếu không thì cũng tốt thôi!

 

*


I

 

NHỮNG CĂN BẢN


1

BA PHƯƠNG DIỆN THỰC TẬP

                                                 

 

SỰ GIÁC NGỘ CỦA ĐỨC PHẬT NHƯ MỘT MẪU MỰC

 

Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác Ngộ ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập. Tuy nhiên, những người khác tin rằng Đức Phật đã thành tựu Giác Ngộ trước đó lâu xa và rằng trong hóa thân vào thế kỷ thứ 6 Đức Phật chỉ thị hiện con đường tu tập. Ở Tây Tạng, chúng tôi chấp nhận quan điểm sau, và những môn đồ học hỏi từ mẫu mực của ngài vấn đề thực hành như thế nào nhằm để đạt đến Giác Ngộ cho chính họ.

 

Trong trường hợp nào đi nữa, thì chúng ta cũng cần phải chú ý rằng:

 

  • Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra trong một đời sống giàu sang của một hoàng tử trong một hoàng gia Ấn Độ. Vào lúc 29 tuổi, qua việc thấy khổ đau của thế giới, ngài đã từ bỏ vị trí vương giả, cắt bỏ mái tóc, rời bỏ gia đình và tiếp nhận đạo đức của một tu sĩ, một hệ thống của thái độ luân lý phẩm hạnh.
  • Trong sáu năm sau đó, ngài đã dấn thân trong thiền tập khổ hạnh vì mục tiêu thành tựu thiền định.
  • Sau đó, dưới gốc cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đã thực tập những kỷ năng đặc biệt để phát triển tuệ trí, và thành tựu Giác Ngộ. Ngài đã đi giáo hóa trong 45 năm, và nhập niết bàn vào lúc 81 tuổi.

 

Trong lịch sử cuộc đời Đức Phật, chúng ta thấy ba giai đoạn thực hành: đạo đức đến trước tiên, rồi thì thiền định và sau cùng là tuệ trí. Và chúng ta thấy rằng con đường tu tập cần thời gian.

 

THAY ĐỔI DẦN DẦN

 

Việc phát triển tâm thức phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện nội tại, rất giống một trạm không gian lệ thuộc vào hoạt động của nhiều thế hệ khoa học gia đã phân tích và thử nghiệm ngay cả một thành phần nhỏ nhất của nó. Không một trạm không gian hay một tâm thức Giác Ngộ nào có thể hoàn thành trong một đêm. Tương tự thế, những phẩm chất tâm linh phải được xây dựng qua những phương cách đa dạng. Tuy nhiên, không giống như trạm không gian, vốn được tạo thành bởi nhiều người hoạt động với nhau, thì tâm thức phải được phát triển bởi chính bạn mà thôi. Không có cách nào để cho người khác làm công việc giùm cho ta để ta thu thập các kết quả. Đọc những tường thuật về tiến trình tâm linh của một người nào đó sẽ không thể chuyển giao sự thực chứng của nó cho ta. Chúng ta phải tự phát triển nó.

 

Trau dồi một thái độ yêu thương và phát triển tuệ trí là những tiến trình chậm rãi. Khi chúng ta dần dần nhập tâm những kỷ năng cho việc phát triển đạo đức, tập trung tâm thức, và tuệ trí, những tình trạng không được chế ngự của tâm thức trở thành lập lại ngày càng ít dần và ít dần. Chúng ta sẽ cần thực tập những kỷ năng này ngày qua ngày, năm qua năm. Khi chúng ta chuyển hóa tâm thức chúng ta, chúng ta sẽ chuyển hóa [môi trường] chung quanh chúng ta. Những người khác sẽ thấy các lợi lạc từ sự thực tập của chúng ta về bao dung và yêu thương, và sẽ hành động để đem những sự lợi lạc này vào trong đời sống của chính họ.

 

BA SỰ THỰC TẬP

 

Giáo huấn của Đức Phật được phân chia thành ba tập hợp của kinh điển – tam vô lậu học.

 

  • Những nguyên tắc đạo đức – Giới
  • Những lời dạy về thiền tập trung  - Định
  • Những biểu hiện của tri thức giải thích về việc rèn luyện tuệ trí – Tuệ

 

Trong mỗi phần này, sự thực tập chính được diễn tả như một thể trạng đặc biệt từ sự hợp nhất của (1) “tĩnh lặng bất biến” (định) và (2) “tuệ giác đặc biệt” (tuệ). Nhưng nhằm để thành tựu một sự hợp nhất như vậy, trước tiên chúng ta phải chuẩn bị nền tảng của nó: đạo đức – giới.

 

THỨ TỰ THỰC TẬP

 

Đạo đức, thiền định, và tuệ trí – đây là thứ tự cần thiết của thực tập. Những lý do như sau:

 

  • Nhằm để cho trí của tuệ đặc biệt loại trừ những chướng ngại cho việc thấu hiểu thích đáng, và loại trừ những tình trạng tinh thần sai lầm ngay tại chính gốc rể của chúng, chúng ta cần thiền tập trung (chỉ - thiền định), một thể trạng nhất tâm hoàn toàn mà trong ấy tất cả những xao lãng nội tại đã được loại trừ. Bằng khác đi thì tâm quá bị phân tán. Không có thiền tập trung nhất điểm như vậy, tuệ trí không có năng lực, giống như ánh sáng của ngọn đèn trong ngọn gió nhẹ không thể chiếu sáng nhiều được. Do vậy, thiền định phải có trước tuệ trí.
  • Thiền nhất tâm liên hệ việc loại trừ những tán loạn vi tế nội tại chẳng hạn như tâm bị quá giải đải hay quá căng thẳng. Để làm như vậy chúng ta phải chấm dứt những tán loạn qua việc rèn luyện trong đạo đức của việc duy trì chánh niệm và ý thức với việc quan tâm đến các hành vi của thân thể và lời nói – liên tục tỉnh thức về những gì chúng ta đang làm với thân thể và lời nói. Không vượt thắng những tán loạn rõ ràng này, thì thật không thể vượt thắng những tán loạn vi tế hơn bên trong. Vì là qua duy trì chánh niệm mà chúng ta có thể thành đạt một sự tịch tĩnh của tâm thức, cho nên sự thực tập đạo đức phải đến trước sự thực tập thiền định (thiền tập trung, chỉ).

 

Trong kinh nghiệm của riêng tôi, việc tiếp nhận những thệ nguyện của một tu sĩ yêu cầu cho việc giảm thiểu những liên hệ và hoạt động nội tại, có nghĩa là tôi có thể tập trung hơn trong việc nghiên cứu tâm linh. Những thệ nguyện ngăn ngừa các hành vi thân thể và lời nói phản tác dụng làm cho tôi chánh niệm với thái độ của tôi và tiến về phía thẩm tra kỷ lưỡng những gì đang xảy ra trong tâm thức tôi. Điều này có nghĩa là ngay cả khi tôi không cố ý thực tập thiền tập trung, thì tôi cũng phải kiểm soát tâm thức tôi khỏi phân tán và vì vậy liên tục tiến về phía của thiền nhất tâm nội tại. Thệ nguyện đạo đức chắc chắn hành động như một nền tảng.

 

Nhìn vào ba sự thực tập – đạo đức, thiền định, và tuệ trí – chúng ta thấy rằng mỗi thứ phục vụ như căn bản của thứ kế tiếp. (Thứ tự này là minh chứng rõ ràng trong lịch sử cuộc đời của Đức Phật). Do vậy, tất cả những tiến trình tâm linh lệ thuộc vào nền tảng của đạo đức thích hợp.

 

 

*


II

 

THỰC HÀNH ĐẠO ĐỨC


2

NHẬN DIỆN PHẠM VI CỦA KHỔ ĐAU

 

***

 

 

TỔNG QUÁT VỀ NHỮNG LOẠI ĐẠO ĐỨC

 

Nguyên lý chính của đạo đức Phật giáo là để giúp đở người khác, và , nếu không thể, thì tối thiểu không làm tổn hại người khác. Chí nguyện nền tảng này với bất bạo động, được động viên bởi việc quan tâm vì người khác, là trung tâm của ba loại đạo đức trong Phật giáo:

 

  • Đạo đức của việc giải thoát cá nhân (là chủ đề của chương này) một cách chính yếu được thực tập từ việc kiềm chế khỏi những hành vi của thân thể và lời nói làm tổn hại. Sự thực tập này được gọi là “cá nhân” vì nó cung ứng một phương pháp cho một người chuẩn bị để vượt khỏi chu kỳ lẩn quẩn của sanh, già, bệnh, và chết, mà Phật tử gọi là vòng luân hồi (samsara).
  • Đạo đức của việc quan tâm vì người khác – được gọi là đạo đức của Bồ tát (những chúng sanh quan tâm chính yếu với việc hổ trợ người khác) – thực tập một cách chính yếu bởi việc kiềm chế tâm thức khỏi rơi vào vị kỷ. Vì đối với những người thực tập đạo đức Bồ tát, điểm quan trọng là để kiềm chế khỏi sự yêu mến vị kỷ, mà cũng kiềm chế khỏi những hành vi xấu ác của thân thể và lời nói.
  • Đạo đức của Mật tông tập trung chung quanh những kỷ năng đặc biệt cho việc quán tưởng một thể trạng phát triển toàn vẹn của thân thể và tâm thức hổ trợ người khác một cách hiệu quả. Nó cung ứng một phương pháp để kiềm chế và vì vậy vượt thoát nhận thức giới hạn của chúng ta về thân thể và tâm thức, do thế chúng ta có thể nhận thức chính chúng ta tỏa sáng với tuệ trí và yêu thương.

 

ĐẠO ĐỨC CỦA SỰ GIẢI THOÁT CÁ NHÂN

 

Việc thực tập đạo đức cho giải thoát cá nhân đòi hỏi sự tự tỉnh thức cần thiết để tránh khỏi những hành vi của thân thể và lời nói đem đến sự tổn hại cho người khác. Điều này có nghĩa là từ bỏ những gì Phật giáo gọi là mười điều bất thiện. Những điều này tạo thành ba đặc trưng. Thân thể bất thiện là giết hại, trộm cắp, và ,tà dâm. Lời nói bất thiện là nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời độc ác và nói lời vô nghĩa. Tinh thần bất thiện là tham muốn, xu hướng tổn hại, và tà kiến.

 

Vì động cơ có trước và lèo lái hành vi, cho nên việc kiểm soát nó tốt nhất là ngăn ngừa sự thôi thúc và sự lạm dụng tiềm tàng các hành vi của thân thể và lời nói. Khi chúng ta đột nhiên muốn điều gì đó và chỉ tiến tới và thực hiện nó mà không nghĩ đến các hậu quả, sự tham muốn của ta tự biểu hiện một cách hăng hái, không có quán chiếu lợi hại. Trong sự thực tập hàng ngày, chúng ta nghiên cứu việc thẩm tra cộng cơ của ta một cách liên tục.

 

Khi tôi là một thiếu niên, Ling Rinpoche, người lúc đó là giáo thọ phó của tôi, luôn luôn rất nghiêm khắc; ngài không bao giờ mĩm cười, ngay cả không một chút nào. Điều này làm tôi rất chán nản. Bằng việc tự hỏi tại sao ngài quá cứng nhắc như vậy, tôi thẩm tra nhiều hơn và nhiều hơn những gì tôi đang làm trong tâm thức tôi. Điều này giúp tôi phát triển sự tự tỉnh thức với việc quan tâm đến động cơ của tôi. Lúc mới 20 khi tôi vừa trưởng thành, Ling Rinpoche hoàn toàn thay đổi; ngài luôn luôn có một nụ mĩm cười rạng rở khi chúng tôi bên nhau.

 

Sự thực tập hiệu quả đạo  đức giải thoát cá nhân tùy thuộc vào động cơ lành mạnh, dài lâu. Thí dụ, người ta không nên trở thành tăng ni để tránh phải làm việc nặng nhọc vì ăn mặc. Cũng thế, thật không đầy đủ để chỉ mong cầu tránh khỏi sự khó khăn trong kiếp sống này. Được động viên bởi một mục tiêu tầm thường như vậy không giúp để thành tựu sự giải thoát khỏi vòng luân hồi – lý do tối hậu để thực tập đạo đức giải thoát cá nhân.

 

Điều này được củng cố bởi câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật. Một ngày nọ Đức Thích Ca đi ra ngoài tường thành của hoàng cung để chính ngài trải nghiệm cuộc đời. Lần đầu tiên ngài đã thấy một người bệnh, một người già, và một xác chết. Khốn khó sâu xa bởi khổ đau của bệnh tật, tuổi già, và sự chết, ngài đi đến kết luận rằng cuộc sống trần gian là không bền chắc. Sau này, cảm hứng từ một số hành giả tôn giáo, Đức Phật trở nên say mê bởi khả năng của  một đời sống tâm linh cao siêu, và đầy đủ ý nghĩa hơn. Đến lúc ấy ngài đã vượt thoát kinh thành, để lại cuộc sống thông thường sau lưng và theo đuổi viễn tượng ấy.

 

Điều này dạy cho chúng ta những gì? Giống như Đức Phật chúng ta cần bắt đầu bằng việc quan tâm về nổi khổ đau của sinh tử luân hồi và bằng việc quay lưng với những xao lãng tạm thời. Được tác động với thái độ mới này, chúng ta phải áp dụng một hệ thống đạo đức bằng việc viễn ly cõi luân hồi và bằng việc tiếp nhận những thệ nguyện của thái độ tinh khiết qua việc tầm cầu để tránh mười hành vi bất thiện.

 

BỐN CHÂN LÝ CAO QUÝ

 

Nhằm để giải thoát chúng ta khỏi sinh tử luân hồi thì chúng ta cần thấu hiểu bản chất của nó. Chúng ta cần (1) biết những loại khổ đau đặc thù liên hệ, (2) khám phá những nguyên nhân của các khổ đau ấy, (3) thấy có thể loại trừ những nguyên nhân ấy không, và sau đó (4) quyết định những gì nên thực tập. Viễn ly, do thế, liên hệ ít nhất một sự thấu hiểu phần nào đó về Bốn Chân Lý Cao Quý:

 

1-    Sự thật về khổ đau

2-    Sự thật về nguồn gốc của khổ đau

3-    Sự thật về sự chấm dứt khổ đau và cội nguồn của nó

4-    Sự thật về những con đường cho việc thực chứng sự chấm dứt chân thật [khổ đau]

 

Khi Đức Phật giảng dạy lần đầu tiên, ngài đã dạy về Bốn Chân Lý Cao Quý trong thứ tự nêu trên. Tuy nhiên, thứ tự này không phản chiếu vấn đề những sự thật này hình thành như thế nào. Theo trình tự thời gian, sự thật thứ hai – nguồn gốc của khổ đau – đứng trước sự thật thứ nhất. Tương tự thế, sự thật thứ tư – những con đường thực tập – phải đứng trước sự thật thứ ba – sự chấm dứt khổ đau. Tuy nhiên, Đức Phật dạy Bốn Sự Thật trong trình tự của việc thực tập, chứ không trong thứ tự mà trong ấy chúng hình thành.

 

Trong thực tập, chúng ta phải xác định mức độ của khổ đau trước nhất, để biết rằng lối sống này bị bao vây bởi khốn khó; điều này làm sâu sắc mong ước tự nhiên được thoát khỏi khổ đau của chúng ta. Khi chúng ta nhận ra khổ đau là gì, như Đức Phật đã làm, rồi thì chúng ta sẽ bị lôi cuốn vào việc khám phá những nguyên nhân của nó, nguồn gốc của khổ đau. Giống như một vị bác sĩ trước tiên phải chẩn đoán cơn bệnh, thì chúng ta cũng phải thấu hiểu gốc rể của khổ đau trước khi chúng ta có thể điều trị nó. Không phải cho đến khi chúng ta đã xác định những nguồn gốc của khổ đau thì chúng ta mới có thể thấu hiểu rằng có thể có một sự chấm dứt nó hay sao. Cũng thế, không có một sự thấu hiểu quả quyết rằng việc chấm dứt khổ đau là có thể, thì chúng ta có thể xem việc thực hành con đường này giống như sự thử thách khó khăn vô hiệu quả. Sau đó chúng ta có thể tìm đến những con đường của sự thật cho việc thực chứng việc chấm dứt [khổ đau]. Đây là tại sao Đức Phật đã trình bày Bốn Chân Lý Cao Quý trong trình tự của việc thực tập.

 

Tôi thảo luận sự thật thứ nhất ở chương này và ba sự thật kế tiếp ở chương thứ ba.

 

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ NHẤT VỀ KHỔ ĐAU (KHỔ ĐẾ)

 

Khổ đau giống như một cơn bệnh mà tất cả chúng ta mắc phải. Để tìm việc chửa trị, chúng ta phải thận trọng xác định toàn thể phạm vi của cơn bệnh: đau khổ, thay đổi, và điều kiện cùng khắp.

 

1-    Khổ khổ: Một trình độ của khổ đau là hiện tướng đau đớn mà tất cả chúng ta cùng nhận ra như vậy. Ngay cả những con thú cũng muốn thoát khỏi nó. Những sự đau đớn thân thể và tinh thần trong đời sống hàng ngày, nhức đầu và đau khổ vì chia lìa là thuộc phạm trù này.

2-    Hoại khổ: Những gì chúng ta thường trải nghiệm như vui sướng là chủ yếu giảm đau đớn. Nếu thực phẩm hay thức uống ngon lành, thí dụ thế, thật sự đúng là vui lòng – nếu chúng có một bản chất nội tại vui lòng – thế thì bất chấp chúng ta ăn hay uống thế nào, thì chúng ta cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc và hạnh phúc lớn hơn trong sự đo lường tương ứng. Thay vì thế, nếu chúng ta hưởng thụ quá mức, thì chúng ta bắt đầu khổ sở trong thân thể và tâm thức chúng ta. Điều này cho thấy rằng những trải nghiệm vui sướng này có bản chất nội tại là đau khổ. Tôi muốn kể một câu chuyện về một gia đình đã mua một máy truyền hình mới. So sánh với máy cũ, nó thật sự là tuyệt vời, và mọi người xem nó ngày ngày. Nhưng cuối cùng họ cũng mệt mõi vì nó. Điều này cho thấy rằng căn nguyên của vui sướng là khổ đau. Những tình trạng như vậy về hạnh phúc tạm thời được gọi là khổ đau của sự thay đổi.

3-    Hành khổ: Thêm nữa một đau khổ thông thường và khổ đau của thay đổi, có một trình độ sâu xa hơn của khổ đau gọi là điều kiện cùng khắp. Tâm thức và thân thể hoạt động dưới sự ảnh hưởng của nghiệp (những xu hướng được tạo ra bởi những hành vi trước đây) và của phiền não, hay chướng ngại ẩn tàng, các cảm xúc chẳng hạn như tham muốn, và thù hận. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta được sinh ra từ và trong ảnh hưởng cùng khắp của nghiệp và các cảm xúc phiền não. Ngay cả những tình trạng trung tính của cảm giác cũng ở dưới tác động của các nguyên nhân và điều kiện vượt khỏi sự kiểm soát của chúng ta – chúng ta bị vướng trong một tiến trình dễ bị tác động với khổ đau.

 

Điều Kiện Con Người

 

Khởi đầu sự sống của chúng ta là sự sinh ra, trong tiến trình ấy chúng ta đau khổ, và vào lúc kết thúc sự sống là sự chết, trong tiến trình ấy chúng ta cũng đau khổ.

Giữa hai điều này, hai thứ đến là tuổi già và bệnh tật. Bất chấp chúng ta giàu sang như thế nào hay thân thể mạnh khỏe thế nào, thì chúng ta cũng phải đau khổ qua những hoàn cảnh thế này.

 

Trên tất cả những điều này làm đưa đến sự không toại nguyện. Ta muốn nữa và nữa và nữa. Điều này, trong một ý nghĩa, thật sự là nghèo đói – luôn luôn là đói, đói, đói mà không có lúc nào hài lòng. Những người khác có thể không giàu có, nhưng sự toại nguyện làm cho họ ít lo lắng hơn, ít kẻ thù hơn, ít rắc rối hơn, và ngủ rất ngon lành. Hơn một lần, khi tôi viếng một ngôi nhà rất xinh đẹp trong những cộng đồng giàu có, tôi đã nhìn trộm tủ đựng thuốc trong nhà tắm và đã thấy một số thuốc men cung cấp năng lượng hàng ngày và những thứ khác phụ trợ cho giấc ngủ ban đêm. Toại nguyện có thể làm cả hai việc này tốt hơn vì nó làm giảm thiểu lo lắng trong ngày, mở đường cho giấc ngủ một cách an bình.

 

Trong cuộc sống tất bật hiện đại, chúng ta đánh mất tầm nhìn với giá trị thật sự của con người. Mọi người trở thành tổng lượng những gì họ sản xuất. Con người hành động như những máy móc vốn thể hiện chức năng làm ra tiền. Điều này chắc chắn là sai. Mục tiêu của việc làm ra tiền là vì hạnh phúc cho con người, chứ không phải thứ khác. Con người không phải vì tiền, mà tiền là vì con người. Chúng ta cần đủ tiền để sống, cho nên tiền là cần thiết, nhưng chúng ta cũng cần nhận ra rằng nếu quá dính mắc vào cảnh sung sướng, thì cũng không giúp ích gì. Tất cả những vị thánh nói với chúng ta rằng, càng trở nên giàu sang, ta càng phải chịu đựng khổ đau hơn.

 

Ngay cả thân hữu cũng có thể đem đến khổ đau. Thông thường người ta cảm thấy rằng thân hữu mang đến vui sướng hơn và hạnh phúc hơn, nhưng đôi khi họ mang đế rắc rối hơn. Ngày nay thân hữu ta có bộ mặt mĩm cười, nhưng trong một lúc đàm luận có thể biến thành chua chát, và bắt đầu đấu tranh, không có chút gì hữu nghị. Chúng ta thật sự có được hạnh phúc và hài lòng từ những thân hữu của chúng ta, nhưng nó là tạm thời, không phải là hạnh phúc chân thật. Trong một ý nghĩa sâu xa, mối thân hữu thông thường cũng là bản chất của khổ đau.

 

Hãy nhìn vào thân thể của chính ta. Bất chấp ta hòa nhã, đáng yêu thế nào và hình dáng của ta đẹp đẻ thế nào, nhưng nếu ta để rơi ngay cả một giọt máu, thì ta đột nhiên trông không đẹp lắm. Dưới làn da này là thịt sống; nhìn sâu hơn thì ta thấy xương. Bộ xương trong một viện bảo tàng hay một nhà thương làm cho hầu hết mọi người chúng ta không thoải mái, nhưng bên dưới tất cả chúng ta hoàn toàn giống nhau. Một số người có thể mập béo, những người khác gầy ốm, một số đẹp trai, nhưng nếu ta nhìn họ qua máy quang tuyến X, ta sẽ thấy một phòng đầy những bộ xương với những hố mắt khổng lồ. Bản chất thân thể của chúng ta là như vậy.

 

Hãy xem đến niềm sung sướng của việc ăn uống. Hôm nay ta có một số thức ăn ngon  miệng. Khi ta ăn nó, thật là tuyệt vời, nhưng khi nó đi qua dạ dày và ruột của ta, nó thay đổi thành thứ gì đó không quá tuyệt vời. Khi ăn, chúng ta tránh chú ý rằng điều này là những gì xảy ra, và chúng ta vui mừng suy nghĩ, “Ô, bây giờ là thức ăn rất tốt! Tôi thật sự vui sướng.” Nhưng thức ăn tốt lành ấy dần dần đi qua thân thể ta, và cuối cùng đi vào nhà vệ sinh trong một dạng thức mà không ai xem là đẹp đẽ. Thứ này mọi người xem như rất dơ bẩn thật sự là sản phẩm của thân thể con người này. Trong một ý nghĩa, việc làm ra phẩn tiểu là một chức năng chính của thân thể chúng ta!

 

Ăn uống, hoạt động và làm ra tiền tự chính nó là vô nghĩa. Tuy nhiên, ngay cả một hành vi nhỏ của từ bi có ý nghĩa và mục tiêu cho cuộc sống của chúng ta.

 

BỀN BỈ VÀ HY VỌNG

 

Hãy phân tích. Suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ. Khi ta làm vậy, ta sẽ nhận ra rằng phương thức thông thường của cuộc sống chúng ta hầu như vô nghĩa. Đừng nản lòng. Thật là ngu ngơ nếu bỏ cuộc bây giờ. Trong những trường hợp như thế khi ta cảm thấy hầu như vô vọng, thì ta phải thực hiện một cố gắng đầy năng lực. Chúng ta quá quen thuộc với những trạng thái sai lầm của tâm thức mà thật khó khăn để thay đổi với một ít thực tập nhỏ nhoi. Chỉ một giọt mật không thể thay đổi vị đắng chát áp đảo. Chúng ta phải kiên nhẫn khi đối mặt với thất bại.

 

Trong những hoàn cảnh khó khăn cá nhân thì phương kế tốt nhất là cố gắng duy trì tính trung thực và chân thành tối đa như có thể. Trái lại, bằng việc đáp trả một cách nghiệt ngã và ích kỷ, đơn giản là ta sẽ làm vấn đề tệ hại hơn. Điều này rỏ ràng trong nhưng hoàn cảnh đau thương của gia đình. Chúng ta phải nhận ra rằng những trường hợp khó khăn hiện tại là hoàn toàn qua những hành vi vô nguyên tắc của ta trong quá khứ, cho nên khi chúng ta trải nghiệm một thời điểm khó khăn, thì hãy hành động một cách tốt đẹp nhất để tránh thái độ sẽ làm gia tăng gánh nặng cho ta về sau.

 

Thật quan trọng để giảm dần những trạng thái vô nguyên tắc của tâm thức, nhưng thậm chí quan trọng hơn là đối diện với nghịch cảnh với một thái độ tích cực hơn. Hãy giữ điều này trong lòng: Bằng việc chào đón rắc rối với sự lạc quan và hy vọng, thì ta đang làm giảm thiểu mức độ của những rắc rối tệ hại nhất. Xa hơn thế, hãy tưởng tượng rằng chúng ta đang làm dịu bớt gánh nặng của những vấn nạn khổ đau của mọi người trong cách đó. Sự thực tập này – việc quán tưởng rằng bằng việc chấp nhận nổi đau khổ của ta là ta đang sử dụng hết những nghiệp chướng tiêu cực của mọi người dành để cảm nhận nổi đau như vậy – là rất hiệu quả. Đôi khi tôi bị bệnh, tôi thực tập tiếp nhận nổi khổ đau của người khác cho chính tôi và ban cho họ năng lượng hạnh phúc của tôi; điều này cung ứng tốt cho một sự giảm nhẹ tinh thần.

 

Mỗi ngày vào buổi sáng sớm, và đặc biệt khi tôi có thời gian, tôi thực hành việc này trong một cung cách tổng quát với việc quan tâm đến tất cả chúng sinh. Nhưng đặc biệt tôi tách rời những lãnh tụ Trung Cộng và những cán bộ nào đã quyết định trong vấn đề tra tấn và giết hại những người Tây Tạng nào đó, tôi quán tưởng họ, tôi đưa thành kiến, thù hận, và kiêu ngạo của họ vào trong chính tôi. Tôi cảm thấy rằng, do bởi sự tu tập của chính tôi, ngay cả nếu trong thực tế tôi có thể hấp thu một phần thái độ tiêu cực của họ, nhưng nó không thể tác động thái độ của tôi và biến tôi thành một người tiêu cực. Thế nên, hấp thụ những tiêu cực của họ không phải là một vấn đề lớn lao đối với tôi, nhưng nó làm giảm đi các rắc rối của họ. Tôi làm việc này với một cảm giác mạnh mẽ rằng nếu trong ngày ở văn phòng tôi nghe sự diệt chủng của họ, mặc dù một phần của tâm tư tôi hơi bị kích thích và sân hận, nhưng bộ phận chính vẫn ở dưới ảnh hưởng của sự thực hành buổi sáng; cường độ của sân hận được giảm thiểu đến mức độ không còn hiện hữu.

 

Cho dù sự thiền quán này có thật sự hổ trợ cho những cán bộ đó hay không, thì nó cũng cho tôi một sự bình an của tâm hồn. Rồi thì tôi có thể hiệu quả hơn, lợi lạc là vô biên.

 

-*-

 

Không hoàn cảnh nào có thể làm ta mất hy vọng. Tuyệt vọng là nguyên nhân thật sự của thất bại. Hãy nhớ rằng, ta có thể vượt thắng bất cứ vấn nạn nào. Hãy điềm tĩnh, ngay cả khi hoàn cảnh ngoại tại là rối rắm hay phức tạp; sẽ có một hiệu quả nho nhỏ nếu tâm thức ta hòa bình. Trái lại, nếu tâm tư ta bị cuốn hút với sân hận, thế thì ngay cả khi thế giới là hòa bình và thoải mái, thì sự hòa bình của tâm hồn cũng sẽ lẫn tránh ta.

 

-*-

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Kiểm soát động cơ của ta thường xuyên như có thể. Ngay cả trước khi rời khỏi giường ngủ vào buổi sáng, hãy thiết lập một quan điểm bất bạo động, không lạm dụng cho một ngày của ta. Vào buổi tối, hãy thẩm tra những gì chúng ta đã làm trong ngày.

 

2-    Hãy chú ý có bao nhiêu khổ đau trong cuộc đời của chính ta:

 

       * Có những nổi đau thân thể và tinh thần nào từ bệnh tật, tuổi già, và sự chết, mà một cách tự nhiên ta tìm cách lẫn tránh.

      * Có những trải nghiệm tạm thời, như ăn thức ăn ngon, vốn dường như sung sướng trong và của chính nó, nhưng, nếu làm thỏa thích một cách liên tục, sẽ biến thành đau khổ. Đây là khổ đau của sự thay đổi – hoại khổ. Khi một hoàn cảnh chuyển từ sung sướng sang đau khổ, hãy quán chiếu trên sự kiện rằng bản chất sâu xa của niềm sung sướng ban đầu tự nó bộc lộ. Dính mắc vào những sự sung sướng nông cạn sẽ chỉ mang đến khổ đau hơn.

      * Hãy quán chiếu trên vấn đề ta bị vướng trong một tiến trình rộng khắp của điều kiện – hành khổ, chính là ở dưới sự kiểm soát của nghiệp và cảm xúc phiền não, hơn là ở dưới sự kiểm soát của ta

 

3-    Dần dần phát triển một quan điểm sâu xa hơn, thực tế hơn về thân thể bằng việc quan tâm đến những thành phần của nó – da, máu, thịt, xương, và v.v…

 

4-    Hãy phân tích đời sống của ta một cách chặc chẽ. Nếu ta làm vậy, thì cuối cùng ta thấy rằng thật khó để mà lạm dụng đời sống của ta bằng việc trở thành một người máy hay bằng việc tìm ra tiền như con đường đi đến hạnh phúc.

 

5-    Hãy tiếp nhận một thái độ tích cực khi đối mặt với khó khăn. Hãy quán tưởng rằng bằng việc chịu đựng một hoàn cảnh khó khăn với sự uyển chuyển thì ta cũng đang ngăn ngừa những hậu quả tệ hại của nghiệp chướng mà bằng khác đi ta có thể trải nghiệm trong tương lai. Hãy tự mang lấy gánh nặng khổ đau của mọi người như vậy.

 

6-    Hãy thường xuyên đánh giá những hệ quả tiêu cực và tích cực có thể có của những cảm giác chẳng hạnh như tham dục, sân hận, ganh tỵ, và thù oán.

 

            *Khi rõ ràng rằng hậu quả của chúng là rất tai hại thì hãy tiếp tục phân tích. Dần dần sự tự tin của ta sẽ mạnh thêm. Hãy lập đi lập lại việc quán chiếu vào những bất lợi của sân hận, thí dụ, nó sẽ làm cho ta hận ra rằng sân hận là vô nghĩa.

            *Quyết định này sẽ làm cho sân hận giảm thiểu dần dần.

 

-*-


3

KHÁM PHÁ RẮC RỐI PHÁT SINH VÀ DỪNG LẠI NHƯ THẾ NÀO

 

 

-*-

 

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ HAI: NGUỒN GỐC CỦA KHỔ ĐAU (TẬP ĐẾ)

 

Sau khi đã xác định phạm vi của khổ đau, chúng ta cần khám phá nguồn gốc của nó, vốn có hai phần: phiền não, hay chướng ngại ẩn tàng, các cảm xúc, và nghiệp chướng nhiễm ô.

 

Các Cảm Xúc Phiền Não Chướng Ngại Ẩn Tàng

 

Vì các cảm xúc phiền não, nghiệp chướng nhiễm ô, hay các hành vi, tôi sẽ thảo luận chúng trước tiên. Có hai loại cảm xúc phiền não – một thứ là rõ ràng và thứ kia không rõ ràng. Một thí dụ về thứ rõ ràng là nổi sợ hãi kinh khủng từ quá khứ đã trở thành cố định trong tâm thức. Trong trường hợp này, một cách chắc chắn thì thật lợi lạc để cho cảm giác của ta biểu lộ và thảo luận về vấn đề ấy.

 

Khi tôi khoảng mười bốn tuổi vào mùa hè ở Cung điện Norbulingka, vị Nhiếp Chính (người lúc ấy là giáo thọ trưởng của tôi) la mắng tôi sau một bài giảng mà ông dạy hàng năm. Với một thái độ nghiêm khắc, ông nói, “Ngay cả ngài tương đương với một vị trời, thái độ của ngài vẫn phải làm cho phù hợp với một con người.” Tôi bị tổn thương bởi vì tôi đã nghĩ rằng tôi đang hành động như một học trò bình thường đang lắng nghe ông giảng dạy mặc dù tôi là Đạt Lai Lạt Ma thứ bậc ở trên ông. Tôi bị bức rức và không thoải mái cả vài tháng sau. Rồi thì quân Trung Cộng xâm lăng miền Đông Tây Tạng vào năm 1950, và tôi phải đào thoát khỏi thủ đô Lhasa đến Tomo ở miền Tây Nam Tây Tạng gần biên giới với Ấn Độ. Đúng lúc các quan chức ở Lhasa khuyến nghị tôi rằng tình trạng có thể xoay sở được và tôi nên trở lại. Trong khi tôi trên đường trở lại Lhasa, chúng tôi dành vài ngày ở lại tu viện của vị Nhiếp Chính, Talungdra. Một ngày nọ, ông đã hỏi tôi trong buổi nói tán chuyện ngẫu nhiên rằng có phải vì thái độ của ông mà tôi đã từng phiền lòng không. Tôi đã đề cập những vì đã từng xảy ra, thế nào đấy một cách mơ hồ, không chi tiết lắm. Thật là khuây khỏa! Thế là chúng tôi có một dịp trú ngụ dễ chịu ở tu viện.

 

Thật tốt đẹp để nói về những thứ như vậy vốn xảy ra chỉ một lần, trái lại những thứ cảm xúc phản tác dụng – vốn bao gồm những thứ cảm giác như tham dục, oán hận, thù hằn, ganh tỵ, và giao tranh – không nên được biểu hiện; bằng không chúng trở thành thường xuyên hơn. Biểu lộ chúng có xu hướng làm chúng mạnh hơn và lan tràn. Thật tốt đẹp để quán chiếu về những bất lợi của việc tiến hành trong những cảm xúc như vậy và thay thế chúng với những cảm giác của hài lòng và yêu thương. Chúng ta nên vượt thắng một cách mạnh mẽ những cảm xúc tiêu cực khi chúng xuất hiện, nhưng thậm chí sẽ là tốt đẹp hơn để tìm cách ngăn chặn chúng ngay từ đầu.

 

Tham dục và thù hận làm sinh khởi những cảm xúc phản tác dụng khác và do thế tạo nên hàng loạt vấn nạn trong thế giới này. Chúng ta không thể toại nguyện để sống với những hậu quả của tham dục và thù hận. Trong hai thứ này, thù hận là tệ hại hơn cả trên căn bản tức thời bởi vì  nó đem đến tổn hại một cách nhanh chóng cho người khác, nhưng tham dục tương ứng cho việc đưa đẩy trong tiến trình của sinh tử luân hồi – những vòng bất tận của sinh, già, bệnh, chết – từ kiếp này đến kiếp khác.

 

Gốc rễ của tham dục và thù hận là si mê về bản chất chân thật của tất cả chúng sinh hữu tình (động vật) cũng như mê mờ về bản chất của chúng sinh vô tình (sự vật). Sự si mê này không chỉ là thiếu hiểu biết mà cũng là một ý thức tưởng tượng đối ngược với lẽ thật; hiểu sai những gì thật sự như vậy. Có nhiều trình độ của nhận thức sai lầm, như thất bại để thấu hiểu những gì nên tiếp nhận trong thực tập và những gì cần loại bỏ trong thái độ hàng ngày, nhưng ở đây chúng ta đang nói về sự si mê ở gốc rễ của tất cả mọi khổ đau. Đây là khái niệm rằng tất cả chúng sinh hữu tình và những hiện tượng khác tồn tại một cách cố hữu, trong và của chính chúng. Tôi sẽ thảo luận về chủ đề khó này trong Chương Tám, Chín và Mười.

 

Nghiệp Chướng Nhiễm Ô

 

Tất cả mọi sự vui sướng và đau khổ tùy thuộc vào nghiệp và những hành vi quá khứ, chúng đã tạo ra những khuynh hướng trong tâm thức. Nghiệp có thể được phân chia thành đạo đức và không đạo đức tùy vào chúng hoặc là phát sinh vui sướng hay đau khổ về lâu dài. Thí dụ, nếu hệ quả của một hành vi là để xuất sinh một đời sống mới của con người, thế thì hành vi đó là đạo đức vì hệ quả lâu dài của nó là sự luân hồi tốt đẹp. Trái lại, nếu hệ quả của một hành vi là làm sự tái sinh của ta như một quỷ đói, thế thì hành vi ấy là không đạo đức vì hệ quả lâu dài của nó là là một sự luân hồi xấu.

 

Nghiệp cũng có thể được phân chia thành (1) những thứ vốn xây dựng bản phác họa tổng quát của một kiếp sống mới bằng việc quyết định loại tái sinh nào cũng như tuổi thọ của đời sống ấy, và (2) những thứ vốn ghi vào các chi tiết của một kiếp sống, chẳng hạn như sự thịnh vượng, sức khỏe tốt, và v.v… Loại (1) được gọi là “con đường của hành động” vì hành động ấy (đạo đức hay không) phục vụ như một con đường, hay một phương tiện, đến một kiếp sống hoàn toàn trong một sự luân hồi hạnh phúc hay một sự luân hồi khốn khó. Để là một “con đường của hành động”, một nghiệp nhân phải có bốn đặc trưng: ý định thúc đẩy; xác định chính xác về cá nhân hay đối tượng; chuẩn bị đúng mức; và hoàn toàn thành tựu. Đôi khi tất cả những nhân tố này xảy ra, như trong trường hợp chúng ta có ý muốn cho một người ăn xin và thật sự làm như thế; đôi khi chỉ có động cơ hiện diện, và ta có ý muốn cho một người ăn xin nhưng không thật sự làm như thế; hay ta có thể có một kết quả vô ý thức, nếu một vài đồng tiền rơi qua một cái lỗ của túi áo ta nằm trên lề đường và người ăn xin lượm nó lên. Các hành động không có tất cả bốn đặc trưng có thể rơi vào loại (2), vốn ghi vào trong chi tiết của một kiếp sống.

 

Cuối cùng, những thứ nghiệp có thể được phân chia thành những loại thực hiện bởi những nhóm, chẳng hạn như tổ chức từ thiện, và những loại thực hiện cá nhân. Những hệ quả của các thứ nghiệp có được trải nghiệm trong cùng một kiếp sống, trong kiếp sống tới, hay trong một kiếp sau đó. Những nghiệp đạo đức hay không đạo đức mạnh mẽ với động cơ đầy năng lực để hổ trợ hay làm tổn hại có thể mang lại các hệ quả của chúng trong cùng một kiếp sống.

 

Tiến Trình Của Sự Chết

 

Nhằm để thấu hiểu các loại nghiệp và những đặc điểm đặc biệt của chúng của những trình độ tu tập cao nhất, thì chúng ta cần thấu hiểu động lực của ba giai đoạn: tiến trình của sự chết; trạng thái trung ấm thân giữa kiếp sống này và kiếp sống tới; và tiến trình tái sinh từ trạng thái trung ấm thân. Sự trao truyền các nghiệp nhân từ kiếp sống này sang kiếp sống khác xảy ra lúc lâm chung qua một tâm thức rất vi tế của linh quang. Mặc dù trình độ sâu sắc nhất này của tâm thức tồn tại qua đời sống, nhưng nó chỉ biểu hiện vào lúc lâm chung, và do vậy thường được giảng dạy trong phạm vi này.

 

Ta có thể học hỏi thêm về điều này trong nhiều bản văn của Tantra Yoga Tối Thượng (Vô Thượng Du Già), được Đức Phật giảng dạy, chẳng hạn như Mật Điển Bí Mật Tập Hội. Những văn bản này diễn tả nhiều đặc trưng khác nhau của tâm hay thức, đi từ thô đến vi tế. Những thể trạng vi tế của tâm là năng lực và hiệu quả hơn khi được áp dụng trong sự thực hành tâm linh. Trình độ thô của thức lãnh hội qua mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thức. Vi tế hơn là ý thức, tự nó vốn đi từ những trình độ thô, chẳng hạn như ý nghĩ thông thường, đển giấc ngủ sâu và bất tĩnh nhân sự khi hơi thở đã dừng, đến tâm vi tế sâu nhất của linh quang. Ngoại trừ trong những thể trạng thiền định ngoại hạng,  bằng không thì thức vi tế nhất hay sâu xa nhất tự nó chỉ biểu hiện khi chúng ta lâm chung, sắp chết. (Rút lui kém và do thế phiên bản tóm tắt cua những trình độ vi tế của thức cũng xảy ra khi ngủ, chấm dứt một giấc mơ, nhảy mũi, ngáp, và trong lúc xuất tinh. Tôi sẽ thảo luận thứ cuối cùng trong Chương Bổn Tôn Du Già)

 

Tiến trình của sự chết liên hệ đến một loại chấm dứt, hay hòa tan, của bốn yếu tố nội tại: đất (vật thể rắn của thân thể); nước (chất lỏng), lửa (sức nóng), gió (năng lượng, chuyển động). Trong đời sống bình thường, những yếu tố này phục vụ như căn bản cho thức, nhưng trong tiến trình lâm chung, năng lực của chúng hổ trợ cho thức giảm lần, bắt đầu với yếu tố đất. Mỗi bước trong tiến trình hòa tan thật sự gia tăng năng lực của yếu tố tiếp theo để hổ trợ cho thức. Từng bước một giống như thế này:

 

1-    Khi yếu tố đất, hay chất cứng của thân thể ta hòa tan vào yếu tố nước, sự biểu lộ bên ngoài là thân thể trở nên gầy ốm hơn; nội tại, ta thấy những gì xuất  hiện là một ảo giác được thấy trong một sa mạc.

2-    Khi yếu tố nước của thân thể hòa tan vào yếu lửa, những dấu hiệu bên ngoài là chất lỏng trong thân thể cạn kiệt – miệng khô, mũi co dúm lại, và v.v…; nội tại ta thấy những gì được diễn tả như luồng khói từ một ống khói hay khói tràn ngập khắp phòng.

3-    Khi yếu tố lửa của thân thể hòa tàn vào trong yếu gió, hay không khí, sự biểu lộ bên ngoài là sức nóng của thân bị giảm dần; nội tại, ta thấy những gì giống như những con đom đóm vào ban đêm hay giống như những tia lửa bắn ra. Sức nóng rút lui khỏi thân thể trong những cách khác nhau – (1) từ bàn chân lên đến tim hay (2) từ đỉnh đầu đi xuống. Cách (1) tốt đẹp hơn bởi vì nó biểu thị rằng tâm thức sẽ xuất khỏi thân thể hoặc là đi lên hoặc là thẳng tới, không đi xuống, và vì vậy sẽ rất có thể hướng đến một kiếp sống tới thuận lợi. Điều này  được hình thành bởi nghiệp đạo đức.

4-    Tiếp theo, gió hay chuyển động năng lượng trong thân thể, hòa tan vào thức, và hơi thở bên ngoài chấm dứt; vào lúc này ta thấy một hiện tướng giống như ánh sáng ở trên một cây đèn sáp nhấp nháy khi cháy gần hết. (Một số bác sĩ xem người ở trạng thái này là đã chết, nhưng theo quan điểm Phật giáo việc chấm dứt hơi thở bên ngoài không có nghĩa là thần thức đã rời thân thể.) Ánh sáng nhấp nháy được tiếp theo bởi hiện tướng của một ngọn lửa ổn định.

 

Bốn giai đoạn cuối cùng của sự chết liên hệ sự hòa tan những trình độ thô của thức vào các trình độ vi tế hơn. Điều này xảy ra khi gió, hay năng lượng bên trong, vốn phục vụ như sự gắn kết của thức tan rả. Hãy nghĩ về thức như cưỡi trên năng lượng như một kỵ mã trên lưng ngựa. Trong việc chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, những năng lượng vốn phục vụ như sự gắn kết của nhiều loại ý thức hòa tan, di chuyển căn bản của thức từ các trình độ thô đến vi tế hơn của năng lượng. Những việc này xảy ra dần dần trong bốn giai đoạn.

5-    Tâm của ta tự nó biến thành một tính chất màu trắng cùng khắp, rộng lớn sinh động. Nó được diễn tả như bầu trời trong sáng tràn đầy ánh sáng của mặt trăng – không phải mặt trăng chiếu sáng trong không gian trống rỗng mà không gian tràn đầy ánh sáng trắng. Tư tưởng khái niệm đã tan biến, và không có gì hiện hữu ngoại trừ sự trắng trong sinh động này, vốn là thức của chúng ta. Tuy nhiên, một cảm nhận vi tế về chủ thể và đối tượng vẫn duy trì, cho nên thể trạng này là nhị nguyên một cách nhẹ nhàng.

6-    Tâm ta biến thành tính chất đỏ hay cam rộng lớn, sinh động hơn trước đây; không có gì khác xuất hiện. Nó giống như một bầu trời trong sáng tràn đầy ánh sáng mặt trời – không phải ánh sáng mặt trời chiếu sáng trong bầu trời mà là tự không gian như vậy, tràn đầy ánh sáng đỏ hay cam. Trong thể trạng này tâm thức ít nhị nguyên hơn nữa.

7-    Tâm ta tự nó biến thành thể trạng màu đen tĩnh lặng, vi tế và sinh động hơn nữa; không có gì khác xuất hiện. Điều này được gọi là “gần thành tựu”, bởi vì ta đang gần đến sự biểu hiện của tâm linh quang. Tâm màu đen sinh động rộng khắp giống như một bầu trời không có mặt trăng, rất tối đúng ngay sau khi hoàng hôn khi không có một vì sao nào được thấy. Vào lúc bắt đầu giai đoạn này, ta tỉnh thức, nhưng rồi thì ta mất sự tỉnh thức khi ta trôi vào trong bóng đen dày đặc hơn.

8-    Khi hiện tướng của tâm màu đen chấm dứt, tâm ta tự nó biến thành tâm tỉnh thức hoàn toàn của linh quang. Được gọi là tâm bẩm sinh nền tảng của linh quang, đây là trình độ vi tế, thậm thâm, và năng lực nhất của thức. Nó giống như thể trạng bản chất của bầu trời vào lúc bình minh (mặt trời chưa ló dạng) – không có ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, hay bóng tối.

 

Giai đoạn trải qua tâm linh quang có thể nhanh hay chậm. Một số người duy trì trong giai đoạn cuối cùng, tâm linh quang của sự chết, chỉ vài phút; những người khác trú lại cả tuần hay hai tuần. Vì tâm linh quang năng lực rất mạnh mẽ, cho nên nó đáng để thực tập, nhiều hành giả Tây Tạng diễn tập những giai đoạn lâm chung này hàng ngày. Chính tôi thực hành chúng sáu lần trong ngày bằng việc quán tưởng tám trình độ của tâm thức từng thứ một (dĩ nhiên, không có những thay vật lý trong bốn giai đoạn đầu). Tám trình độ của tâm là:

 

1-    ảo giác

2-    luồng khói

3-    đom đóm

4-    ngọn lửa của ngọn đèn sáp

5-    tâm bầu trời trắng sinh động

6-    tâm bầu trời đỏ hay cam sinh động

7-    tâm bầu trời đen sinh động

8-    linh quang

 

Trong tiến trình lâm chung, chúng ta biết rằng người ở trong linh quang cho đến khi thân thể không bắt đầu bốc mùi hay phân hủy. Có những người Tây Tạng bị tra tấn và, trong việc bị đưa lại phòng giam giữ của họ, ngồi xếp bằng trong tiến trình của sự chết, duy trì tâm linh quang. Tin tức cho biết rằng, những cai ngục Trung Cộng đã kinh ngạc về điều này. Theo quan điểm giáo điều của họ, họ xem Phật giáo là mù quáng, cho nên khi họ đối diện với những bằng chứng như vậy, họ cố gắng giữ im lặng về nó. Ở Ấn Độ cũng vậy, có một số những hành giả đã duy trì trong thể trạng này, đôi khi vài ngày và trong một trường hợp khoảng mười bảy ngày. Khi một người đang an trú trong thể trạng linh quang, nếu năng lượng hổ trợ cho trình độ sâu thẩm này của tâm bắt đầu thay đổi, vào lúc ấy thức cuối cùng lìa thân thể, và thân thể hay đầu chuyển động một cách nhẹ nhàng.

 

Có nhiều cơ  hội cho những việc thẩm tra xa hơn trong những thể trạng đa dạng của sự chết. Khoa học hiện đại đã làm những việc nghiên cứu hữu dụng về sóng năng lượng, não bộ con người, và những chức năng của nó. Các nhà khoa học và Phật học chia sẻ một sự quan tâm chung về lãnh vực này, và tôi tin tưởng là chúng ta nên làm việc với nhau để điều tra mối quan hệ giữa tâm và năng lượng bên trong của nó, và giữa não bộ cùng thức. Những diễn giải của nhà Phật có thể đóng góp cho việc nghiên cứu khoa học, và ngược lại. Sự phối hợp này đã từng diễn ra rồi, và thêm nữa sẽ rất hữu ích.

 

Thể Trạng Trung ấm Thân

 

Tất cả chúng sinh được tái sinh như những con người đi qua thể trạng trung ấm thân giữa kiếp sống này và kiếp sống tới. Trong thể trạng trung ấm này, thân thể chúng ta tiếp nhận một hình dáng giống với thân thể của chúng ta trong kiếp sống tới vào khoảng năm hay sáu tuổi (mặc dù một số người nói rằng điều này không nhất thiết như vậy). Khi đời sống trung ấm chấm dứt, cây cầu đến kiếp sống tới đã được vượt qua. Tiến trình này được tiến hành bởi trình độ vi tế nhất của tâm.

 

Tiến Trình Tái Sinh

 

Liên quan đến tái sinh, thức đi vào tử cung khi những yếu tố thụ tinh nam nữ trộn lẫn với nhau – được cung ứng không có gì sai trong tử cung hay với tinh trùng, và được cung ứng với tất cả những nhân tố thuận lợi chẳng hạn như nghiệp nối kết hiện diện. Tuy nhiên, thức không nhất thiết phải nhập vào lúc ấy, khi nam nữ phối hợp, vì trong các luận điển của chúng tôi có những trường hợp diễn tinh dịch của người cha đi vào cơ quan của người mẹ ra một cách riêng lẻ với sự gia  hp. Dường như rằng hoặc là những yếu tố này đi với nhau bên trong hay, như thỉnh thoảng có những trường hợp ngày nay, bên ngoài tử cung trong ống nghiệm, thức phải đi vào trong khi chúng trộn lẫn với nhau. Tuy thế, thật khó để có một sự giải thích cả quyết theo luận điển Phật giáo vì một số sách nói rằng sự thụ tinh xảy ra khi có sự khát dục mạnh mẽ của cả hai bên.

 

Chủ đề phức tạp này trở thành phức tạp hơn ở thời hiện đại. Hãy xem một thí dụ khi phôi thai được đông lạnh. Một khi sự nối kết đã được thực hiện từ kiếp sống quá khứ đến kiếp sống mới qua việc thụ tinh, thì chúng sinh mà phôi thai bị đông lạnh có phải chịu đau khổ vì lạnh không? Chính sự bắt đầu của thân thể đã được hình thành, và vì thế, theo sự giải thích của chúng ta, cơ quan cảm giác của thân thể  đã được hình thành sơ khởi (mặc dù cơ quan thị giác và những thứ khác thì chưa). Có phải có sự cảm giác thân thể ngay từ thời điểm sau khi thụ tinh hay không? Tôi chưa có một quyết định cho những điềm này; đây là chủ đề phải thảo luận nhiều hơn nữa.

 

Nếu chúng ta giả định rằng chúng sinh trong phôi thai đau khổ vì lạnh, thì điều này làm phát sinh vấn đề người đặt phôi thai vào tủ lạnh có bị nghiệp xấu cho hành vi ấy hay không. Điều tùy thuộc vào động cơ của người ấy. Chúng ta không thể nói rằng chỉ vì một chúng sinh khác chịu đựng khổ đau qua điều gì đó mà người khác liên hệ đến ta, thì ta sẽ gánh nghiệp xấu. Thí dụ, ngay cả những trường hợp thông thường một thai nhi ở trong tử cung bà mẹ chịu đựng đau khổ qua việc ở trong tử cung, nhưng bà mẹ không tích tập bất cứ nghiệp xấu nào. Tương tự thế, khi trẻ con được sinh ra, nếu đau khổ lần nữa, nhưng bà mẹ không tích tập bất cứ nghiệp xấu nào. (Nếu bà mẹ thật sự tích tập nghiệp xấu thì bà mẹ sinh nhiều con phải tích tập hàng khối nghiệp xấu, thì thật là vô lý!). Do vậy, động cơ của một người là chìa khóa quyết định loại nghiệp nào phải tích tập.

 

 

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ BA: SỰ CHẤM DỨT CHÂN THẬT (DIỆT ĐẾ)

 

Vì những nhiễm ô của tâm thức chẳng hạn như tham dục, thù hận, ganh tỵ, và hung hăn căn cứ trên căn bản nhận thức sai lầm về bản chất của con người và đối tượng, cho nên tiến trình vượt thắng chúng đòi hỏi một giải pháp cho sự si mê ấy. Vấn đề trở thành việc nhổ gốc rể của si mê làm ra nguyên nhân của khổ đau như thế nào. Nó không thể là việc nhổ một cây gai qua phẩu thuật. Nhằm để vượt thắng nhận thức sai lầm này về bản chất của con người và sự vật, thì chúng ta phải thấu hiểu bản chất thật sự của chúng. Rồi thì, qua thiền quán tiếp tục, chúng ta trở thành quen thuộc với sự thật và gia tăng năng lực của tuệ trí để làm xói mòn những cảm xúc tiêu cực có gốc rể trong si mê.

 

Ở điểm này, thì một giải thích về tánh không sẽ lợi ích vì đây là những gì mà tuệ trí nhận ra bản chất của con người và sự vật (xem Chương Tám – Mười). Nhưng, tóm lại, sự kiện rằng những nhiễm ô chẳng hạn các cảm xúc phiền não có thể được tiêu trừ hoàn toàn là qua việc bản chất tâm thức vốn trong sáng, không bị nhiễm ô. Bản chất của nó là tinh khiết. Những phiền não được tịnh hóa qua thiền tập trên bản chất chân thật của cả tâm thức và tất cả những thứ khác. Việc tiêu trừ những phiền não này là sự thật cao quý thứ ba – sự chấm dứt chân thật, diệt đế - một thể trạng vượt khỏi khổ đau và các nguyên nhân của nó.

 

SỰ THẬT CAO QUÝ THỨ TƯ: CON ĐƯỜNG LẼ THẬT (ĐẠO ĐẾ)

 

Những con đường chân thật liên hệ đến ba phương diện rèn luyện vốn là chủ đề chính của quyển sách này – đạo đức, tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ ). Sự thực tập tâm linh theo những con đường này đưa đến sự chấm dứt chân thật, đạt đến niết bàn và cuối cùng là Quả Phật.

 

-*-

 

Từ thời vô thỉ, chúng ta đã có một nhận thức vững chắc, hay ý thức, về “cái tôi”. “Cái tôi” này, hay tự ngã , bản chất và bẩm sinh muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và khát vọng này là vững chắc – nó là đúng đắn và hợp lý. Kết quả là, tất cả chúng ta có quyền để đạt đến hạnh phúc và xua đuổi khổ đau. Sự thật rằng khổ đau và hạnh phúc tự nó thay đổi từ thời khắc này đến thời khắc khác biểu thị rằng những trải  nghiệm này tùy thuộc trên các nguyên nhân và điều kiện của nó. Nhằm để thoát khỏi khổ đau thì chúng ta cần loại trừ các nguyên nhân và điều kiện tức là các nhân duyên đem đến khổ đau và nhằm để đạt đến hạnh phúc thì chúng ta cần đỏi hỏi những nguyên nhân và điều kiện hay các nhân duyên của hạnh phúc.

 

Sự thật cao quý thứ nhất áp dụng đến các hiện tượng nhiễm ô mà chúng ta cần thoát khỏi – sự thật về khổ đau, là các tác động và nguyên nhân thật sự, vốn là những nguyên nhân. Hai sự thật cao quý cuối cùng là những thể trạng tinh khiết mà chúng ta muốn đạt được – sự chấm dứt chân thật, vốn là các hệ quả, và những con đường chân thật, vốn là các nguyên nhân. Cung cách Đức Phật giảng dạy về Bốn Chân Lý Cao Quý, chúng bao hàm hai trình tự - một là khổ đau, thứ chúng ta muốn từ bỏ, và một là hạnh phúc, thứ chúng ta tìm cầu để tiếp nhận.

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

Đã nhận ra phạm vi của khổ đau, nghiên cứu về các nguyên nhân, hay nguồn gốc, và xác định rằng nguồn gốc của khổ đau là si mê về bản chất thật sự của con người và sự vật, vốn là đưa đến kết quả tham dục, thù hận, và v.v… Hãy nhận ra rằng khổ đau có thể được tiêu trừ, nó có thể bị loại bỏ trong không gian của thực tại. Hãy quán chiếu rằng sự chấm dứt chân thật này (diệt đế) đạt được qua sự thực hành về đạo đức, tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ ) – là những con đường chân thật.

 

-*-


4

TRÁNH LÀM TỔN HẠI

 

 

-*-

 

 

Các Phật tử tiếp nhận thệ nguyện đạo đức (giới) trong phạm vi thứ nhất của quy y – trong Phật bảo, trong những thể trạng của thực chứng, và trong cộng đồng tâm linh. Quy y là nền tảng cho việc thực hành đạo đức. Đức Phật dạy chúng ta tìm nơi nương tựa thế nào từ khổ đau và giới hạn, nhưng nơi ẩn náo tốt nhất, cội nguồn của sự bảo vệ, được thấy trong những thể trạng của sự thực chứng được thành tựu qua việc  thực hành đạo đức, thiền tập trung, và tuệ trí (giới – định – tuệ).

 

Kinh điển Phật giáo giới thiệu rằng chúng ta che dấu những phẩm chất và những thành tựu tốt đẹp của chúng ta như một ngọn đèn bên trong một lục bình. Chúng ta không nên quảng bá nó ngoại trừ có một mục tiêu lớn lao trong việc làm như vậy. Nó được xem là một vi phạm nhỏ với thệ nguyện xuất gia nếu vị tu sĩ đạt được thể trạng giải thoát và nói với người nào đó rằng, “tôi đã thành tựu sự giải thoát.” Đây là trường hợp, thật khó khăn để quyết định thể trạng nào của kinh nghiệm nội tại mà một người khác đã đạt được. Tôi đã có cơ hội gặp vài người đã đạt được những sự phát triển tâm linh ngoại hạng. Đã có một tu sĩ vốn không học hỏi nhiều lắm từ tu viện Namgyel của tôi, đến Ấn Độ khoảng 1980. Vì chúng tôi biết nhau, cho nên chúng tôi ngẫu nhiên trò chuyện với nhau vào một ngày nọ. Ông nói với tôi rằng khi ông ở trong trại lao động khổ sai của Trung Cộng gần 18 năm, ông đã đối diện với nguy hiểm trong vài trường hợp. Tôi nghĩ rằng ông liên hệ đến việc đe dọa tính mạng của ông. Nhưng khi tôi hỏi, “Hiểm họa gì?” ông trả lời, “Đánh mất lòng từ bi đối với người Trung Hoa”. Ông xem đó là hiểm họa! Hầu hết mọi người chúng ta sẽ cảm thấy tự hào khi nói với người khác về vấn đề chúng ta đã phải căm giận thế nào, giống như chúng ta là một loại anh hùng nào đó.

 

Một lạt ma từ truyền thống Drukpa Kagyu và tôi rất gần gũi. Chúng tôi thường gặp nhau và nói chuyện vui, đùa cợt với nhau thế này thế nọ. Trong một trường hợp, tôi đã hỏi ông về kinh nghiệm tâm linh. Ông đã nói với tôi rằng khi còn trẻ, ông đang ở với thầy của ông, người bảo ông tiến hành việc thực tập dự bị, lễ một trăm nghìn lạy (100.000) với Đức Phật, giáo lý và cộng đồng tâm linh. Vào buổi sáng sớm và chiều tối, ông phải lạy nằm sấp xuống cả thân mình trên sàn gỗ thấp. Thầy của ông đang thiền tọa trong bóng tối của một phòng kế bên; để dối vị thầy nghĩ rằng ông đang lễ lạy phủ phục cho nên ông đã gõ nhẹ những ngón tay vào sàn gỗ. Những năm sau đó, sau khi thầy ông đã qua đời, ông tu tập trong một hang động, khi quán tưởng về sự ân cần to lớn của thầy mình sau hàng năm rèn luyện ông, và ông đã lau nước mắt không ngớt. Ông hầu như kiệt sức, nhưng rồi thì ông đã trải nghiệm linh quang, là thứ ông vẫn tiếp tục thực hành. Tiếp theo đó, sau khi thành công các sự thực hành thiền quán, thỉnh thoảng ông đã nhớ lại những phản chiếu sinh động quá khứ như trước mắt ông.

 

Đây là những chuyện  trực tiếp đầy cảm hứng đối với tôi. Rõ ràng có những hành giả ngày nay đang hướng đến Quả Phật. Việc gặp gở những người này làm gia tăng sự ngưỡng mộ và quyết tâm của chúng ta và qua họ giáo lý trở thành sống động. Trong cách này cộng đồng tâm linh cung ứng những kiểu mẫu cho các hành giả tham chiếu, vốn có thể hướng chúng ta đến sự nương tựa.

 

Ba thứ này – Phật bảo, những thể trạng thực chứng và giáo lý giảng dạy về chúng (Pháp bảo), và cộng đồng tâm linh (Tăng bảo) – là những nhân tố bên ngoài chúng ta vốn có năng lực to lớn hơn để chấm dứt khổ đau hơn là chúng ta đang làm hiện tại. Tuy nhiên, một Phật tử không thỉnh cầu tam bảo ban cho hạnh phúc. Đúng hơn, hạnh phúc đến từ việc đưa giáo lý vào thực tập. Đức Phật dạy chúng ta sự nương tựa thật sự - thực tập giáo lý như thế nào – nhưng trách nhiệm chính là ở sự thực hiện của chính chúng ta. Để tạo dựng nền tảng cho một thể trạng tâm linh cuối cùng không có khổ đau và sự giới hạn thì chúng ta cần dấn thân trong việc thực tập sau đây:

 

1-    Xác định mười điều bất thiện (xem chương hai)

2-    Xác định mười điều thiện (vốn đối lập với những điều bất thiện ấy)

3-    Từ bỏ những mười điều bất thiện và tiếp nhận mười điều thiện.

 

NHỮNG TRÌNH ĐỘ ĐẠO ĐỨC CỦA GIẢI THOÁT CÁ NHÂN

 

Vì con người có năng lực đa dạng trong việc giữ gìn những thệ nguyện, cho nên Đức Phật diễn tả các trình độ khác nhau của việc thực hành đạo đức. Trong đạo đức của giải thoát cá nhân, có:

 

-         Những người sống đời sống tại gia đình.

-         Những người đã từ bỏ đời sống gia đình để trở thành một tu sĩ nam hay nữ.

 

Nếu chúng ta có khả năng duy trì sự giản dị trong đời sống, thì ta có thể lìa bỏ cuộc sống gia đình và tiếp nhận những thệ nguyện của tu sĩ. Nếu ta không thể duy trì cuộc sống giản dị thanh bạch  nhưng có thể giữ gìn những thệ nguyện, thì ta có thể tiếp nhận những thệ nguyện nào đó của cư sĩ cho cả đời, hay những thứ khác chỉ trong một ngày.

 

LỢI ÍCH CỦA ĐẠO ĐỨC

 

Chúng ta thấy nhiều sự tương đồng trong đời sống tu sĩ trong tất cả mọi tôn giáo – giản dị, dâng hiến qua cầu nguyện hay thiền tập, và  phục vụ người khác. Những tu sĩ Ki tô giáo đặc biệt với chí nguyện phục vụ trong các lãnh vực giáo dục, sức khỏe, cùng phúc lợi, và tu sĩ Phật giáo phải học hỏi nhiều từ những truyền thống này của Ki tô giáo.

 

Việc thực hành đạo đức của giải thoát cá nhân dù tu sĩ hay cư sĩ, đưa đến toại nguyện. Thí dụ, các tu sĩ tuân thủ với một sự kiêng khem giới hạn – một bữa điểm tâm nhỏ, và rồi bữa trưa, không có gì sau đấy. Họ không có quyền đòi hỏi, “Tôi muốn thức ăn này hay nọ.” Bất cứ thứ gì họ được cúng dường trong những buổi khất thực hàng ngày, họ phải chấp nhận. Vì tu sĩ Phật giáo không nhất thiết  phải ăn chay; cho nên bất cứ thứ gì họ nhận được, họ sẽ ăn. Đó là việc rèn luyện toại nguyện về thực phẩm. Nó giảm bớt băn khoăn về việc nhận được thực phẩm này hay nọ. Người cư sĩ có thể bắt chước sự thực hành này bằng việc không nhấn mạnh vào những thực phẩm đặc biệt. Ngay cả khi giàu có, ta thật sự không thể tiêu thụ nhiều hơn người nghèo, ngoại trừ sự hao tổn của chính bạn. Cả người giàu và nghèo có cùng một bao tử.

 

Liên quan đến áo quần, tu sĩ nam nữ chỉ có một bộ y áo. Để có hơn một bộ, người tu sĩ ấy phải có sự gia hộ của một tu sĩ khác, giữ trong lòng rằng bộ y áo có thêm ấy cũng thuộc về một người khác. Chúng tôi không thể ăn mặc những áo quần đắc tiền. Trước khi quân Trung Cộng xâm lược, tăng ni đôi khi mặc những áo quần quý giá, vốn đưa đến sự mua chuộc và tự lừa dối. (Trong một phương diện, người Trung Cộng đã tử tế với chúng tôi bằng việc trừ khử những sự hư hỏng này!) Việc giới hạn trong ăn mặc là sự thực hành về toại nguyện về áo quần. Người cư sĩ có thể tiếp nhận một sự thực tập tương tự qua việc tiết độ trong trang phục. Nó cũng đúng với việc trang sức. Việc đeo hơn một chiếc nhẫn trong mỗi ngón tay thì đúng là quá nhiều! Thật sai lầm khi nghĩ rằng thật đáng giá khi tiêu dùng nhiều hơn với thực phẩm, áo quần, và trang sức chỉ vì ta có nhiều tiền. Đúng hơn, hãy dành nhiều hơn cho sức khỏe và giáo dục cho người nghèo. Đây không phải là sự thúc ép của chủ nghĩa xã hội nhưng là sự tự nguyện của từ bi.

 

Cũng thế thật thiết yếu cho tu sĩ hài lòng với nơi cư ngụ tương xứng. Một căn nhà trau chuốt là không được phép. Đây là được gọi là sự toại nguyện về nơi ở. Người cư sĩ có thể tiếp nhận sự thực tập này bằng việc giảm thiểu việc đòi hỏi không ngừng nghỉ cho một căn nhà tốt đẹp hơn và cho bàn ghế cùng các sự trang trí trong nó.

 

Hãy thẩm tra thái độ của ta đối với thực phẩm, áo quần, và nơi cư trú. Bằng việc giảm thiểu sự mong đợi thì ta sẽ khuyến khích sự toại nguyện. Năng lượng phụ trội nếu có nên dùng để hiến dâng cho việc thiền tập và để đạt đến sự chấm dứt các vấn nạn, tương ứng với sự thật cao quý thứ tư và thứ ba. Trong cách này, sự toại nguyện là căn bản, và hành động đưa đến được gọi là thích thiền tập và từ bỏ.

 

Chúng ta nên toại nguyện trong những lãnh vực vật chất, cho những ai bị ràng buộc với sự giới hạn, nhưng không liên quan với tâm linh, vốn có thể được mở rộng đến vô giới hạn. Cho dù đúng rằng một con người không thỏa mãn thì dù làm chủ cả thế giới này có thể muốn có một trung tâm du lịch ở trên mặt trăng, thì đời sống của người ấy vẫn bị giới hạn, ngay cả tất cả những gì có thể làm chủ được cũng là giới hạn.Tốt hơn là toại nguyện ngay từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên, với việc quan tâm đến lòng từ bi và vị tha thì không giới hạn, và vì thế chúng ta không nên thỏa  mãn với mức độ mà chúng ta có. Chúng ta đúng là mâu thuẩn; trong lãnh vực tâm linh thì chúng ta thỏa mãn với khối lượng thực tập và tiến trình nhẹ nhàng vậy là đủ, nhưng về vật chất chúng ta luôn luôn muốn nữa và nữa. Phải nên là cách ngược lại. Mọi người cần thực hành điều này, cho dù là cư sĩ hay tu sĩ.

 

Việc thực hành đạo đức của sự giải thoát cá nhân cũng hữu ích trong việc gia tăng chánh niệm và tự quán chiếu. Nếu một tu sĩ sắp có chí nguyện hành động nào đó ngay cả trong giấc mộng, người ấy nhận rõ “Tôi là một tăng/ni; Tôi không nên hành động như vậy.” Chánh niệm đến từ một sự tỉnh thức phát triển cao độ  của các hành vi thân thể và lời nói, được mang vào trong giấc mộng. Nếu chúng ta chú ý thật sâu sắc tới hạnh kiểm của chúng ta khi ăn uống, đến và đi, đứng và ngồi, và v.v… rồi thì một điều kiện mạnh mẽ của chánh niệm sẽ hiển hiện.

 

Sự thực hành đạo đức giải thoát cá nhân cũng nuôi lớn bao dung và nhẫn nhục. Đức Phật nói rằng nhẫn nhục là hình thức cao nhất của sa môn, và qua nó ta có thể đạt đến niết bàn. Đối với tăng ni, có bốn phẩm chất nhẫn nhục và bao dung được duy trì:

 

- Nếu người nào đó đẩy ta vòng quanh, ta nên bao dung và nhẫn nhục

- Nếu người nào đó biểu lộ sự sân hận đối với ta, ta không nên đáp lại với sân hận

- Nếu người nào đó đánh ta, ta không nên đánh trả lại

- Nếu người nào đó lúng túng và xúc phạm ta, ta không nên đáp lại

 

Những sự thực hành này làm gia tăng nhẫn nhục. Một người đã rời bỏ đời sống thế tục nhưng làm tổn hại người khác là không dấn thân trong một hành vi thích đáng. Có những câu chuyện về những tu sĩ ở Tây Tạng ngay cả đi vào chiến tranh! Họ đã tự đưa mình vào trong chiến trận mặc dù giáo lý nhà Phật đã lặp đi lặp lại rằng làm tổn hại bất cứ người nào khác chắc chắn là không đạo đức cho một vị tu sĩ nam hay nữ.

 

Sự thực hành tâm linh không chỉ về những thứ bên ngoài – thực phẩm, áo quần, hay những thứ như vậy. Sự thực hành tâm linh xảy trong tâm chúng ta, trong trái tim chúng ta. “Sự thay đổi chân thật là ở bên trong; lìa bên ngoài như nó là”. Nếu thái độ của chúng ta phản chiếu một cách chân thật sự trau dồi tâm thức và con tim, thế là tốt. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ làm một màn biểu diễn về sự thành tựu tâm linh nhằm để có tiền, thí dụ thế, đó là đạo đức giả.

 

Thực hành Đạo Phật có nghĩa là chuyển hóa thái độ của ta. Những sự thực hành của tu sĩ có thể được phối hợp vào trong đời sống của cư sĩ qua một nguyện ước mạnh mẽ, có ý thức để tránh khỏi việc làm tổn hại những người khác, thân thể hay lời nói. Điều này đòi hỏi nhẫn nhục vốn sẽ chịu đựng sự tấn công bằng thân thể hay lời nói.

 

Một sự tiếp cận dần dần là tốt hơn nhiều so với việc cố gắng nhảy quá cao quá nhanh; bằng trái lại, sẽ có một hiểm họa và nguy cơ lớn. Trong thời gian này, hãy cống  hiến cho xã hội và thực hành lời Phật dạy. Một khi ta đạt đến một giai tầng nào đó của kinh nghiệm thì chúng ta có thể  thực hành với một năng lực lớn hơn nếu ta trở thành một tu sĩ. Những sự thực hành này thích hợp với nhau từng bước một.

 

Thông thường sự khuyên bảo của tôi cho những người mới bắt đầu là nhẫn nhục; có ít sự mong đợi về chính mình hơn. Quan trọng nhất hãy là một công dân trung thực, một thành viên tốt của cộng đồng nhân loại. Cho dù ta thấu hiểu những ý tưởng sâu sắc hay không thì điều quan trọng hãy là một con người thiện lương bất cứ ta ở nơi nào ngay bây giờ. Chúng ta đừng quên lãng một mục tiêu lớn hơn vì lợi ích của một thứ nhỏ hơn. Hãy xem cả hiện tại và về lâu dài, trong cùng phương cách rằng sự thành tựu kinh tế tạm thời nên được lưu tâm trong mối quan hệ với những nhu cầu môi trường lâu dài.

 

-*-

 

Tôi muốn nói rằng tinh hoa của lời Phật dạy có thể được thấy hai điều:

 

Nếu có thể, ta nên giúp đở người khác.

Nếu không thể làm thế, thì tối thiểu ta không nên làm tổn hại.

 

Tránh việc làm tổn hại người khác là tinh hoa của giai tầng khởi đầu trong việc sống với giáo huấn về đạo đức.

 

-*-

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Hãy chú ý việc ta dính mắc với thức ăn, áo quần, và nơi ở, và tiếp nhận sự thực hành tu sĩ với sự toại nguyện cho đời sống cư sĩ. Hãy hài lòng với những thực phẩm, áo quần, và nơi ở tương xứng. Hãy sử dụng thời gian rỗi rảnh cho thiền tập vì thế ta có thể vượt thắng nhiều vấn nạn hơn.

2-    Hãy phát triển một sự khao khát mạnh mẽ để tránh làm tổn hại người khác cho dù bằng thân thể hay lời nói, bất chấp ta bị bối rối, xúc phạm, xỉ vả, xô đẩy, hay đánh đập.

 

-*-


5

MỞ RỘNG GIÚP ĐỞ

 

 

 

-*-

 

Với sự thực hành về việc không làm tổn hại như nền tảng của chúng ta, bây giờ chúng ta trau dồi việc quan tâm cho những người khác. Trước nhất, qua đạo đức của giải thoát cá nhân, chúng ta học cách kiểm soát sân hận và những thứ như vậy, và bây giờ chúng ta có thể học hỏi vấn đề an ủi và phục vụ người khác. Những sự thực hành trong chương Hai qua Bốn điều – từ bỏ mười điều bất thiện, xác định phạm vi và tiến trình của khổ đau và phương cách vượt khỏi nó qua Bốn Chân Lý Cao Quý, và việc tiếp nhận sự lìa xa những thú vui thoáng qua của đời sống cư sĩ – tất cả tạo nên một nền tảng cần thiết cho giai tầng thứ hai, những gì chúng ta gọ là đạo đức của Đại thừa. Bây giờ, không chỉ ta không làm tổn hại người khác, mà chúng ta mang thêm trách nhiệm để giúp đở họ. Không làm tổn hại người khác là một sự thực hành phòng thủ - thụ động, trái lại hoạt động để giúp đở người khác là chủ động.

 

Đức Phật dạy ba giai tầng của đạo đức: đạo đức của giải thoát cá nhân, đạo đức quan tâm cho người khác, và đạo đức Mật tông – Tantra. Việc giúp đở người khác là giáo huấn Đại thừa, trọng tâm của giai tầng thứ hai, hay đạo đức của Bồ tát. Nó cũng được tập trung trong chương này.

 

GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN

 

Chúng ta có thể trau dồi thái độ quan tâm khác này thế nào? Sự tiếp cận chính cho việc định hướng chính mình đối với việc đảm đương là lưu tâm mối liên hệ quan trọng của ta đối với người khác. Một sự thực hành vốn trải dài từ Ấn Độ đến Tây Tạng liên hệ trước nhất là việc thấy nền tảng chung với những người khác (bình đẳng) và rồi thì thay thế tự tâm mình với người khác. Học giả du già Ấn Độ Shantideva giải thích sự thực hành này của việc bình đẳng và hoán đổi tự thân với người khác tường tận trong Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Bồ Tát Hạnh), và nhiều vị Tây Tạng đã luận giải về tác phẩm này.

 

Lòng từ bi mở rộng đến mỗi một chúng sanh, không chỉ bè bạn, hay người thân hay những ai trong những hoàn cảnh kinh khủng. Để phát triển một sự thực hành từ bi đến sự mở rộng tròn vẹn nhất, thì chúng ta phải thực hành nhẫn nhục. Shantideva nói với chúng ta rằng nếu sự thực hành nhẫn nhục thật sự kích thích tâm ta và đem đến một sự thay đổi, thì ta bắt đầu thấy các kẻ thù ta như một người bạn thân, ngay cả là những người hướng dẫn tâm linh.

 

Những người thù địch cung cấp cho ta một cơ hội tuyệt vời nào đó để thực hành nhẫn nhục, bao dung và từ bi. Shantideva cho chúng ta nhiều thí dụ tuyệt vời về điều này trong hình thức của những sự đối thoại giữa khía cạnh tích cực và tiêu cực của chính tâm thức ngài. Sự quán chiếu của ngài về lòng từ bi và nhẫn nhục rất hữu dụng trong sự thực hành của chính tôi. Hãy đọc chúng và trọn tâm hồn của bạn có thể được chuyển hóa. Đây là một thí dụ:

 

Đối với một hành giả của từ ái và bi mẫn, kẻ thù là một trong những vị thầy quan trọng nhất. Không có kẻ thù thì ta không thể thực hành bao dung, và không có sự bao dung thì ta không thể xây dựng một căn bản mạnh mẽ của lòng bi mẫn. Do thế, nhằm để thực hành bi mẫn, chúng ta phải có một kẻ thù.

Khi chúng ta đối diện kẻ thù của ta, người sẽ tổn thương ta, đó thật sự là thời gian để thực tập bao dung. Vì vậy, một kẻ thù là nhân để thực tập bao dung; bao dung là hệ quả hay kết quả của một kẻ thù. Thế nên, đây là nguyên nhân và hệ quả. Như được nói, “Một khi điều gì đó đã có mối quan hệ nhân duyên từ việc ấy, ta không thể xem việc phát sinh ấy như một tác hại; đúng hơn nó hổ trợ cho việc phát sinh hệ quả.”

 

Quán chiếu trên loại lý  luận này có thể giúp để phát triển lòng nhẫn nhục sâu rộng, là thứ, vốn hóa ra phát triển một lòng bi mẫn đầy năng lực. Lòng bi mẫn thật sự được căn cứ trên lý trí. Lòng bi mẫn thông thường hay yêu thương bị giới hạn bằng khao khát hay dính mắc.

 

Nếu đời sống của ta là dễ dàng và mọi thứ đang diễn tiến êm thấm, thì ta có thể duy trì lòng tự phụ. Tuy nhiên, khi ta đối diện với những hoàn cảnh thật sự tuyệt vọng, thì không có thời gian để giả vờ; ta phải đối diện với thực tại. Những thời gian khó khăn xây dựng lòng quyết tâm và sức mạnh nội tại. Qua chúng, chúng ta cũng có thể biết rõ sự vô ích của sân hận. Thay vì nổi giận, hãy nuôi dưỡng một sự ân cần và tôn trọng sâu sắc đối với những người gây rắc rối vì bằng việc tạo nên những hoàn cảnh khó khăn như vậy, thì họ cung cấp cho ta những cơ hội vô giá để thực tập lòng bao dung và nhẫn nhục.

 

Đời sống của tôi không phải là thời gian hạnh phúc; tôi đã phải trải qua nhiều kinh nghiệm khó khăn, kể cả đánh mất quê hương vì sự xâm lược của Trung Cộng và cố gắng để tái lập nền văn hóa của chúng tôi trong những xứ sở lân bang. Tuy vậy, tôi xem những thời điểm khó khăn này trong số những thời gian quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi. Qua chúng, tôi đã đạt được nhiều kinh nghiệm mới và học hỏi được nhiều ý tưởng mới – chúng làm cho tôi thực tế hơn. Khi tôi còn trẻ và sống phía trên cao của  thủ đô Lhasa trong cung điện Potala, tôi thường nhìn vào cuộc sống của thành phố qua một kính viễn vọng. Tôi cũng đã học được nhiều qua tán gẫu với những phu quét dọn trong cung. Họ giống như tờ báo của tôi, liên hệ đến những gì ngài Nhiếp chính đang làm và những việc tham nhũng cùng tai tiếng đang diễn ra. Tôi luôn luôn vui vẻ để lắng nghe, và họ tự hào để nói với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những gì đang xảy ra trên đường phố. Những sự kiện khắc nghiệt đã bày ra sau sự xâm lăng năm 1959 buộc tôi trở thành liên hệ trực tiếp trong những vấn đề mà trái lại sẽ được giữ khoảng cách với tôi. Như một kết quả, tôi đi đến phải chọn một đời sống của chí nguyện hành động xã hội trong thế giới khổ đau này.

 

Thời gian khó khăn nhất cho tôi là sau khi Trung Cộng xâm lược. Tôi đã cố gắng để  làm hài lòng những kẻ xâm lăng để không làm tình hình tệ hại tồi tệ hơn. Khi một phái đoàn viên chức nhỏ Tây Tạng ký vào bản thỏa thuận mười bảy điểm mà không có sự đồng ý của tôi và chính phủ, chúng tôi đã để như vậy mà không có sửa đổi nhưng cố gắng để làm việc với bản thỏa thuận. Nhiều người Tây Tạng phẩn uất nó, nhưng khi họ biểu lộ sự đối kháng thì Trung Cộng phản ứng thậm chí khắc nghiệt  hơn. Tôi bị kẹt ở giữa, cố gắng để làm nguôi tình hình. Hai vị quyền thủ tướng phàn nàn về các điều kiện với chính phủ Trung Cộng, vốn họ muốn tôi cách chức họ. Đây là loại vấn đề mà tôi phải đối diện hàng ngày khi nào chúng tôi vẫn còn ở Tây Tạng. Chúng tôi không thể tập trung trong vấn đề cải thiện hoàn cảnh của chúng tôi, nhưng tôi đã thiết lập một hội đồng cải cách giảm phí nợ quá mức và v.v…

 

Trái với sự mong đợi của Trung Cộng, tôi lần đầu tiên viếng thăm Ấn Độ năm 1956 để kỷ niệm Phật Đản sanh lần thứ 2500. Trong khi ở Ấn Độ tôi phải có quyết định khó khăn là có nên trở lại Tây Tạng không. Tôi đã nhận nhiều thông tin về cuộc nổi dậy ở miền Đông Tây Tạng, và nhiều viên chức ở Tây Tạng khuyên tôi không nên trở về. Cũng thế, từ kinh nghiệm quá khứ, tôi biết rằng khi Trung Cộng phát triển thêm sức mạnh quân đội, thì thái độ của họ sẽ trở nên khắc nghiệt hơn. Chúng tôi có thể thấy rằng không có hy vọng gì nhiều, nhưng vào lúc ấy chúng tôi không biết rõ rằng chúng tôi có được sự bảo đảm hoàn toàn về sự hổ trợ hiệu quả từ chính phủ Ấn Độ hay từ những chính phủ khác hay không.

 

Cuối cùng chúng tôi đã chọn trở lại Tây Tạng. Nhưng năm 1959, khi có một sự đào thoát hàng loạt đến Ấn Độ, thì hoàn cảnh dễ dàng hơn vì tình trạng khó xử đã biến mất. Chúng tôi có thể đặt tất cả mọi năng lượng và thời gian trong việc xây dựng một cộng đồng vững mạnh với nền giáo dục hiện đại cho giới trẻ và cùng lúc cố gắng để bảo tồn những cung cách truyền thống của chúng tôi về giáo dục và thực hành Đạo Phật. Chúng tôi bây giờ đang làm việc trong một không khí của tự do mà không có sợ hãi.

 

Sự thực hành của chính tôi đã được lợi lạc từ một cuộc sống với vô vàn nhiễu loạn và vấn nạn. Quý vị cũng có thể đi đến thấy những thử thách gay go mà  quý vị phải chịu đựng trong khi làm sâu sắc sự thực tập của quý vị.

 

BÌNH ĐẲNG VÀ HOÁN ĐỔI TỰ THÂN VỚI NGƯỜI KHÁC

 

Như Shantideva giải thích sự thực hành này, trước tiên chúng ta nhận ra rằng mỗi một chúng sanh khác muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, giống như ta, trong cung cách nền tảng này ta và họ bình đẳng. Sau đó, khi ta xét rằng ta chỉ là một con người đơn lẻ so lường với vô số các chúng sanh khác, ta nhận ra rằng sẽ là hoàn toàn vô lý hoặc là quên lãng quyền lợi của những người khác hay lợi dụng họ vì lợi ích của riêng ta. Sẽ là hợp lý vô cùng để cống hiến hết mình cho việc làm của họ.

 

Khi ta xem xét hoàn cảnh trong cách này, nó trở thành rất rõ ràng. Bất chấp ta quan trọng như thế nào, thì ta chỉ là một con người đơn lẻ. Ta có cùng quyền để hạnh phúc như mọi người khác, nhưng sự khác biệt là ta chỉ là một, và họ là rất nhiều. Để đánh mất hạnh phúc của một cá nhân là rất quan trọng, nhưng không quan trọng như việc làm mất hạnh phúc của nhiều người khác. Từ quan điểm này, ta có thể trau dồi lòng bi mẫn, từ ái, và tôn trọng những người khác.

 

Trong một ý nghĩa, toàn bộ loài người cùng thuộc về một gia đình duy nhất. Chúng ta cần ôm ấp sự đồng nhất của nhân loại và biểu lộ sự quan tâm cho mọi người – không chỉ gia đình tôi hay xứ sở tôi hay lục địa tôi. Chúng ta phải biểu lộ sự quan tâm cho tất cả mọi người, không chỉ một ít người giống với chúng ta. Những khác biệt về tôn giáo lý tưởng, chủng tộc, hệ thống kinh tế, hệ thống xã hội, và chính quyền tất cả là thứ yếu.

 

Sự Vị Kỷ Thông Tuệ

 

Đặt người khác lên hàng ưu tiên, tự ta tiếp theo. Việc làm này thậm chí là từ một quan điểm vị kỷ. Hãy để tôi giải thích vấn đề việc này khả dĩ như thế nào. Ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và nếu ta biểu lộ với người khác sự ân cần, từ ái, và tôn trọng, thì họ sẽ đáp lại trong tử tế; cách này thì sự hạnh phúc của ta sẽ gia tăng. Nếu ta biểu lộ với người khác sự sân hận và thù oán, họ sẽ biểu lộ lại giống như vậy, và ta sẽ đánh mất sự hạnh phúc của chính ta. Cho nên tôi nói, nếu ta vị kỷ, ta nên vị kỷ một cách thông tuệ. Sự vị kỷ thông thường chỉ tập trung vào nhu cầu của chính ta, nhưng nếu vị kỷ một cách thông tuệ, ta sẽ đối xử với người khác cũng tốt đẹp giống như những người thân của ta. Cuối cùng, sách lược này sẽ phát sinh sự hài lòng hơn, hạnh phúc hơn. Do vậy, thậm chí từ một quan điểm vị kỷ, ta nhận được những kết quả tốt đẹp hơn bằng việc tôn trọng những người khác, phục vụ người khác, và làm giảm thiểu tự ngã.

 

Khi chúng ta quan tâm về những  người khác, lợi lạc của chính ta cũng tự động đầy đủ. Hãy quan tâm những điều không đạo đức của hành động và lời nói, vốn là những thứ làm con người phải sanh ra trong một hoàn cảnh xấu. Một người nào đó với một quan điểm nho nhỏ tránh giết hại, thí dụ, vì một động cơ không tích tập một nghiệp xấu in dấu trong tâm thức của người ấy. Một người nào đó với một tầm nhìn hơi rộng rãi hơn tránh giết hại là việc thực tập nhằm để xa rời hoàn toàn cõi sanh tử luân hồi có thể bị tiếp tục, bằng việc suy nghĩ rằng sát sanh sẽ ngăn ngừa việc tái sanh trong một kiếp sống tốt đẹp . Tuy nhiên, những  người vị tha xem mạng sống của những người khác cũng quan trọng như của họ và tránh giết người vì muốn bảo vệ sự sống của người khác. Sự yêu mến người khác này làm nên một sự khác biệt lớn lao trong sức mạnh của động cơ để tránh việc giết hại. Những người mà động cơ của họ là vị kỷ có thể nghĩ rằng ngay cả nếu họ phạm một hành vi không lành, thì họ có thể xưng tội và tìm kiếm sự cải thiện nghiệp nhân, trái lại người nào đó vốn coi trọng sự sống của người khác quan tâm về khổ đau của người khác và biết rằng không có lợi ích gì với việc thú tội giết người. Cũng đúng với việc trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời độc ác, và tôi nghĩ, ngay cả, nói lời vô ích.

 

Một cung cách khác mà mối quan tâm khác cũng rất quý giá là đặt hoàn cảnh của chính ta vào trong nhận thức. Về một mặt tôi đặc biệt đau buồn về tình trạng của Tây Tạng, nhưng rồi thì tôi nhớ rằng tôi đã tiếp nhận giới nguyện Bồ tát và mỗi ngày thường quán chiếu lời cầu nguyện của Shantideva:

 

Khi thế gian vẫn còn tồn tại

Khi chúng sanh vẫn còn hiện hữu

Nguyện tôi vẫn hiện diện để hổ trợ

Xoa dịu tất cả khổ đau của họ

 

Ngay khi tôi nhớ điều này, tất cả cảm giác gánh nặng lập tức tiêu tan, giống như áo quần nặng nề được trút khỏi tôi.

 

Chí nguyện vị tha xoa dịu những nguyên nhân đặc biệt của thất vọng bằng việc đặt chúng trong một quan điểm rộng rãi hơn; những nguyên nhân này không được làm ta chán nản. Hầu hết những rắc rối, lo lắng, và buồn phiền của riêng ta trong kiếp sống này đều đến từ sự tự yêu mến. Như tôi đã đề cập ở trên, vị kỷ một cách thông tuệ không là tiêu cực, nhưng tính vị kỷ thiển cận, chỉ quan tâm với sự hài lòng với sự hài lòng tức thời, là phản tác dụng, là chướng ngại ẩn tàng. Một quan điểm hẹp hòi làm cho một rắc rối thậm chí là nhỏ đến không thể chịu đựng được. Việc quan tâm đến tất cả chúng sanh làm rộng lớn quan điểm của ta, làm ta thực tế hơn. Trong cách này, thì một thái độ vị tha giúp làm giảm thiểu khổ đau của ta ngay lập tức.

 

Lời đề nghị nghiêm túc của tôi là bạn hãy thực hành từ ái và ân cần cho dù bạn có tin trong một tôn giáo hay không. Qua sự thực tập này, thì ta đi đến nhận ra giá trị của bi mẫn và ân cần vì sự hòa bình tâm hồn của chính ta. Cuối cùng, mặc dù ta có thể không quan tâm đến người khác, nhưng ta rất quan tâm đến chính ta – không cần hỏi về điều đó – cho nên ta phải muốn thành tựu một tâm thức an bình và một đời sống hàng ngày hạnh phúc hơn. Nếu ta thực hành ân cần hơn và bao dung hơn, thì ta sẽ thấy nhiều hòa bình hơn. Không cần phải thay đổi bàn ghế trong nhà, hay chuyển đến một ngôi nhà mới. Hàng xóm của ta có thể rất ồn ào và rất khó chịu, nhưng khi nào tâm tư chính ta là tĩnh lặng và bình an, thì hàng xóm sẽ không quấy rầy ta nhiều. Tuy nhiên, nếu ta nói chung là cáu kỉnh, ngay cả khi bạn thân nhất của ta thăm viếng, thì ta cũng không thể trở nên vui mừng thật sự. Nếu ta tĩnh lặng, thậm chí kẻ thù của ta cũng không thể quấy rầy ta.

 

Đó là tại sao tôi nói rằng nếu ta thật sự vị kỷ, thì tốt hơn là hãy vị kỷ một cách thông tuệ. Cách này ta có thể làm tròn động cơ vị kỷ của ta để hạnh phúc. Như thế tốt hơn là ích kỷ, hay vị kỷ một cách ngu ngơ, vốn sẽ không thành công.

 

Quán tưởng

 

Những kỷ năng quán tưởng sau đây là rất hữu ích trong sự thực hành hàng ngày:

 

1-    Ta duy trì sự tĩnh lặng và có lý trí.

2-    Trước mặt ta bên phải, hãy tưởng tượng một phiên bản khác của chính ta, một người vô cùng tự cao tự đại ích kỷ, một loại người sẽ làm mọi thứ để làm hài lòng một sự thôi thúc.

3-    Trước mặt ta bên trái, hãy tưởng tượng một nhóm người nghèo không thân thuộc với ta, kể cả một số người túng thiếu, cơ cực, khổ đau.

4-    Hãy tĩnh lặng và không thành kiến khi ta quán sát hai phía này. Bây giờ hãy nghĩ, “Cả hai bên đều muốn hạnh phúc. Cả hai bên đều muốn trút bỏ đau khổ. Cả hai bên đều có quyền để hoàn thành những mục tiêu này.”

5-    Hãy quan tâm điều này: Chúng ta thường làm việc lâu dài và cần mẫn vì lương bổng tốt hơn, hay chúng ta dành một số tiền lớn trong hy vọng gặt hái nhiều hơn nữa chúng ta sẳn sàng để thực hiện những hy sinh tạm thời vì lợi ích dài lâu. Cùng luận lý ấy, đó là một ý nghĩ đúng đắn cho một cá nhân thực hiện những hy sinh nhằm để hổ trợ một điều tốt đẹp hơn. Tự nhiên tâm hồn ta sẽ chiếu cố phía nhiều người khổ đau.

Như một người quán sát không thành kiến, hãy quan tâm sự tự cao tự đại của tự ngã chính ta ở đấy phía bên phải ta, việc quên lãng lợi ích của rất nhiều người, bất chấp họ khổ đau khủng khiếp thế nào. Đơn giản là không tốt như thế ấy. Mặc dù cả hai phía mà ta đang quán tưởng có một quyền bình đẳng để hạnh phúc, thì không có cách nào để tránh nhu cầu áp đảo của số người đông đảo kia. Vấn đề là tự chính ta phải phục vụ và giúp đở những người khác.

 

Thể trạng này của tâm thức là khó khăn không thể phủ nhận, nhưng nếu ta thực hành nó với một quyết tâm rộng lớn, thế thì năm này qua năm khác tâm hồn ta sẽ thay đổi, sẽ cải thiện. Giữa những năm sáu mươi tôi đã giảng dạy một giáo huấn của Tông Khách Ba về Những Giai Đoạn Của Con Đường Giác Ngộ, trong lúc tôi đề cập rằng nếu tôi thành tựu trình độ thứ nhất của sự diệt độ chân thật các cảm xúc phiền não, tôi sẽ nghĩ ngơi lâu dài, tôi thật sự suy nghĩ như thế. Mặc dù tôi  ngưỡng mộ lòng vị tha, nhưng tôi nghĩ thật quá khó khăn để phát triển. Thế rồi khoảng năm 1967, tôi đã tiếp nhận giáo huấn Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Nhập Bồ Tát Hạnh) của Shantideva từ một Lạt Ma Kagyu Kunu Tenzin Gyeltsen và đã bắt đầu quán chiếu nhiều hơn về ý nghĩa của nó, cùng với Tràng Hoa Quý Báo (Bảo Hành Vương Chính Luận) của Long Thọ. Cuối cùng tôi đã đạt được một sự tự tin nào đó rằng có đủ thời gian tôi có thể phát triển trình độ cao siêu của lòng bi mẫn này. Bây giờ, bắt đầu khoảng 1970, mỗi buổi sáng khi quán chiếu về lòng vị tha, tôi đã khóc. Đây là vấn đề sự chuyển hóa đã xảy ra như thế nào. Tôi không cho rằng tôi đã phát triển một trình độ cao siêu của lòng vị tha, nhưng tôi tự tin rằng tôi có thể làm việc ấy.

 

Ngay cả nếu kinh nghiệm của ta về động cơ vị tha là khiêm tốn, thì chắc chắn nó sẽ cho bạn một mức độ an bình [nào đó] của tâm hồn. Sự phát triển việc quan tâm cho người khác có một năng lực rộng lớn để chuyển  hóa tâm thức ta. Nếu ta thực hành lòng bi mẫn vì lợi ích của tất cả chúng sanh – kể cả thú vật – rồi thì sự phước đức vô hạn ấy sẽ tích lũy cho ta.

 

NHẬN RA TRÁCH NHIỆM CỦA CHÚNG TA

 

Nếu ta không thể, trong thời gian này, vươn lên trình độ yêu mến người khác hơn chính mình, thì tối thiểu ta có thể bắt đầu để thấy rằng quên lãng người khác là không đúng. Chúng ta có thân thể con người và năng lực phán đoán của loài người, nhưng nếu chúng ta chỉ sử dụng chúng vì kết quả vị kỷ của riêng mình chứ không phải vì lợi ích của người khác, thì chúng ta không hơn thú vật. Trong thực tế những con kiến, trích dẫn chỉ một thí dụ, làm việc không vị kỷ vì cộng đồng; thì con người chúng ta đôi khi nhìn không đẹp nếu so sánh. Chúng ta được cho là những tạo vật cao cấp hơn, cho nên chúng ta phải hành động phù hợp với bản chất cao cấp của chúng ta.

 

Nếu chúng ta nhìn vào lịch sử thế giới, hầu hết những thảm họa liên hệ đến sự chết chóc kinh khiếp của vô số mạng sống đều do con người làm ra. Con người đã làm ra tình trạng hổn độn. Ngày nay hàng triệu con người sống liên tục trong sợ hãi về xung đột chủng tộc, dân tộc và kinh tế. Ai chịu trách nhiệm cho sự sợ hãi này? Không phải thú vật. Những hậu quả của chiến tranh kể cả những chết chóc của nhiều thú vật, nhưng điều này không làm chúng ta phiền muộn, chúng ta chỉ đơn giản quan tâm với chính chúng ta mà thôi. Người ta nói nhiều về việc chấm dứt chiến tranh, nhưng chúng ta phải vượt khỏi những suy nghĩ ước mong. Giá trị của loài người chúng ta là gì khi chúng ta sống mà không biểu lộ lòng thương cảm, không biểu lộ sự quan tâm, chỉ giết hại và ăn thú vật, và đánh nhau và giết hại hàng nghìn người? Trách nhiệm của chúng ta là dọn dẹp những hổn độn ấy.

 

Ngày nay, một trong những cung cách tốt đẹp nhất để đối thoại là qua truyền hình. Những người làm việc ở đài truyền hình và mong ước thực hành lý tưởng cao quý quan tâm đến người khác có thể làm nên một sự đóng góp đáng kể. Mặc dù những câu chuyện về tham muốn và giết người cung ứng sự giải trí thú vị, nhưng chúng có những tác động tiêu cực sâu trong tâm thức. Chúng ta không cần sự giải trí loại này trong mọi lúc – mặc dù đây chắc chắn không phải là trách nhiệm của tôi!

 

Chúng ta phải giáo dục giới trẻ của chúng ta trong sự thực hành về bi mẫn thương cảm. Giáo viên và cha mẹ làm thấm nhuần trong trẻ con về những giá trị thật sự, ấm áp tình người đến những lợi ích vô hạn. Tôi đã chú ý trong một tờ báo rằng một hảng đồ chơi thường chế tạo súng trường đồ chơi và v.v… đã chấm dứt một cách cố ý việc sản xuất những đồ chơi bạo động vào dịp Giáng sinh. Một ý tưởng tuyệt vời biết bao! Hành động trọng tâm khác nữa là gì!

 

QUYẾT ĐỊNH THÀNH TỰU GIÁC NGỘ

 

Một khi chúng ta đã thâm nhập vào trọng điểm mong muốn sâu sắc để làm bất cứ điều gì có thể để xoa dịu khổ đau và nhổ gốc rể của nó, và để hổ trợ tất cả chúng sanh đạt đến hạnh phúc và nguyên nhân của nó, hãy quán chiếu vấn đề việc này có thể thành đạt như thế nào. Nó chỉ có thể xảy ra nếu mọi người cũng đi đến thấu hiểu việc này hoạt động như thế nào, và rồi thì triển khai thực hiện những sự thực hành đó. Do vậy, chí nguyện của chúng ta vì lợi ích cao đẹp nhất của người khác có thể được hổ trợ tốt đẹp nhất bằng việc giải thích cho họ vấn đề thực hành như thế nào và thái độ nào phải từ bỏ, vì thế chính họ có thể có năng lực để đạt đến hạnh phúc và xa lìa khổ đau. Không có cách nào khác. Để cho việc này xảy ra, tự chính ta phải biết những thiên hướng và quan tâm của họ cũng như những gì cần giảng giải cho họ.

 

Do thế, vì lợi ích của việc giúp đở người khác, chúng ta phải được chuẩn bị đầy đủ. Sự chuẩn bị đó là gì? Chúng ta phải tiêu trừ tất cả những chướng ngại trong tâm thức của chính chúng ta để biết mọi thứ có thể biết được. Những hành giả từ bi – được gọi là Bồ tát – thật sự muốn  là không chỉ chiến thắng những chướng ngại vốn chỉ ngăn trở sự giải thoát của chính họ, mà họ muốn dọn đường đến toàn tri toàn giác vì thế họ mới có thể đạt được sự thâm nhập vào những thiên hướng và nhận thức của người khác vốn là những kỷ năng sẽ hổ trợ họ. Nếu đó chỉ là một vấn đề của sự lựa chọn, các vị Bồ tát sẽ chọn việc tiêu trừ những chướng ngại để đạt toàn tri toàn giác trước. Tuy nhiên, những cảm xúc phiền não (giam giữ chúng ta trong vòng sanh tử luân hồi) xây đắp những chướng ngại đến toàn tri toàn giác, vốn là những khuynh hướng trong tâm thức làm các hiện tượng xuất hiện giống như chúng tồn tại một cách cố hữu. Không vượt thắng trước cảm xúc phiền não chính yếu – thì ta không thể chiến thắng những khuynh hướng lắng đọng trong tâm thức bởi sự si mê ấy. Qua việc tịnh hóa những chướng ngại phiền não cững như những khuynh hướng bị thiết lập bởi chúng, thì chúng ta có thể chuyển hóa tâm thức chính chúng ta thành tâm thức toàn tri toàn giác của một Đức Phật, sự Giác Ngộ tròn vẹn.

 

Tóm lại, để đem đến một sự hạnh phúc hoàn toàn cho người khác thì nhất thiết chính mình phải Giác Ngộ. Khi chúng ta thông hiểu điều này và quyết tâm tầm cầu sự Giác Ngộ vì lợi ích của chúng sanh, thì điều này khuynh hướng vị tha đến Giác Ngộ, hay tâm bồ đề. Bằng việc theo sự thực hành của Shantideva của việc xem tự thân và người khác là bình đẳng trong việc phấn đấu vì hạnh phúc và rồi thì chuyển sự nhấn mạnh trong những  mục tiêu của chính ta qua những người khác số nhiều vô lượng, thì ta có thể phát sinh năng lực của tâm bồ đề trong ta.

 

Có ba loại thái độ vị tha khác nhau trong ba loại người:

-         Loại thứ nhất giống như quân vương, khao khát thành tựu Quả Phật trước, như cách hiệu quả nhất để hổ trợ người khác.

-         Loại thứ hai như người chèo thuyền, mong muốn đến bờ giác với sự Giác Ngộ cùng với tất cả những người khác.

-         Loại thứ ba giống như người chăn cừu, khao khát rằng tất cả mọi người khác nên thành tựu Quả Phật trước, trước khi người ấy Giác Ngộ.

 

Hai thứ sau chỉ biểu lộ thái độ từ bi của những loại hành giả nào đó; trong thực tế không có trường hợp như người chèo thuyền, của việc mọi người thành tựu Giác Ngộ đồng thời, cũng không có trường hợp như người chăn cừu, mọi người thành tựu trước tự thân. Đúng hơn, sự Giác Ngộ luôn luôn đến trong cách thứ nhất, như một vị quân vương, vì các vị Bồ tát cuối cùng quyết định thành tựu Giác ngộ nhanh nhất như có thể vì thế họ có thể hổ trợ người khác một cách hiệu quả hơn trên một quy mô rộng lớn. Như một hiền nhân Tây Tạng Sakya Pandita nói trong Sự Khác Biệt Của Ba Thệ Nguyện, các vị Bồ tát có hai loại nguyện cầu, những thứ có thể hoàn thành và những thứ không thể. Trong Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Nhập Bồ tát hạnh) của Shantideva có nhiều thí dụ về những nguyện ước vốn không thể đạt được nhưng chúng hiện hữu vì lợi ích của việc phát triển một ý chí và quyết tâm mạnh mẽ. Thí dụ, việc cho đi hạnh phúc của chính ta và đón nhận khổ đau của người khác trên chính ta thực tế là không thể, có lẻ ngoại trừ những hình thức nho nhỏ của khổ đau. Giống như sự thực tập này, mặc dù không thực tế, nhưng có ý làm gia tăng tín quả cảm của lòng bi mẫn, những suy tư về người chèo thuyền và người chăn cừu phục vụ như để biểu lộ nguyện ước đầy năng lực của chư vị Bồ tát để giúp đở người khác. 

 

Để tôi cho một thí dụ về sự dâng hiến này vốn đã được đưa đến trình độ của kinh nghiệm thâm sâu. Có một hành giả bác học từ tu viện Drashikyil ở tỉnh Amdo vùng Đông Bắc Tây Tạng. Năm 1950 khi Trung Cộng xâm lăng và bắt một nghìn người trong số ba nghìn tu sĩ của tu viện, một trăm người trong số đó được ghi nhận là bị giết chết. Vị ấy là một trong số đó. Bị đưa đến nơi xử tử, và ngay trước khi bị bắn, vị ấy đã cầu nguyện:

 

Nguyện cho tất cả những hành vi xấu ác, các chướng ngại, và khổ đau của chúng sanh

Được chuyển đến tôi, không ngoại trừ ai, vào lúc này,

Và niềm hạnh phúc cùng phước đức của tôi được gửi đến những người khác.

Nguyện cho tất cả mọi tạo vật được thấm nhuần với hạnh phúc!

 

 

 

Chỉ trước một vài thời khắc trước khi bị giết, vị ấy có sự hiện diện tâm linh để nhớ lại sự thực hành tâm linh tiếp nhận khổ đau của người khác và ban cho niềm hạnh phúc của chính vị ấy! Thật rất dễ dàng để nói về sự thực tập như vậy khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp, nhưng vị ấy có thể thực hiện nó vào thời điểm khắc nghiệt nhất. Đây là một biểu hiện rõ ràng của thành tựu tâm linh đạt được từ sự thực hành lâu dài.

 

-*-

 

Như Hướng Dẫn Lối Sống Bồ tát của Shantideva nói, nếu một người mù tìm được châu báu trong một đống rác, người ấy sẽ trân trọng nó. Nếu giữa đống rác của tham muốn, thù oán, và si mê – các cảm xúc làm khổ sở tâm thức chúng ta và thế  giới của chúng ta – chúng ta phát sinh một thái độ bi mẫn, thì chúng ta nên trân trọng nó như châu báu. Sự khám phá quý giá này có thể cho chúng ta hạnh phúc và sự tĩnh lặng thật sự. Những phương cách chẳng hạn như đi nghĩ mát hay dùng thuốc phiện chỉ mang đến sự khuây khỏa tạm thời. Một thái độ tu tập quan tâm chân thành đến người khác, mà trong đó ta trân trọng người khác hơn chính mình, là hữu ích cho cả ta và người khác. Nó không làm tổn hại ai cả, tạm thời hay lâu dài về sau. Bi mẫn là một châu báu vô giá.

 

Hãy quan tâm đến người khác trong mọi lúc. Nếu không thể giúp đở người khác, thì đừng làm tổn hại. Đây là ý nghĩa trọng tâm của việc thực hành đạo đức.

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Hãy duy trì sự tĩnh lặng và phù hợp lý trí.

2-    Trước mặt ta phía bên phải, hãy tưởng tượng một phiên bản khác của chính ta, tự cao tự đại và ích kỷ.

3-    Trước mặt ta phía bên trái, hãy tưởng tượng một nhóm người nghèo nàn, những chúng sanh đau khổ không thân thuộc với ta, không phải bè bạn hay kẻ thù.

4-    Hãy quán sát hai  phía từ quan điểm tĩnh lặng thuận lợi của ta. Bây giờ hãy nghĩ, “Cả hai đều muốn hạnh phúc. Cả hai đều muốn xa lìa khổ đau. Cả hai đều có quyền để hoàn thành những mục tiêu này của họ.”

5-    Hãy quan tâm điều này: Giống như thông thường chúng ta sẵn sàng để thực hiện những hy sinh tạm thời cho sự tốt đẹp lớn hơn về sau, cũng vậy lợi ích của số lượng lớn hơn chúng sanh khổ đau về phía trái của ta là quan trọng hơn cá nhân con người vị kỷ phía bên phải ta. Hãy chú ý tâm ta tự nhiên chuyển sang phía của số lượng người nhiều hơn.

 

-*-


6

 

NGƯỠNG MỘ GIÁC NGỘ

 

 

-*-

 

TẠI SAO CẦU GIÁC NGỘ

 

Bi mẫn là chìa khóa để thành tựu một trình độ sâu xa hơn của đạo đức, tuy thế chúng ta có thể giúp đở người thế nào khi chính chúng ta bị bao vây bởi những thái độ sai lầm? Nếu chính chúng ta không ở trong một vị trí tốt đẹp hơn, thì thật khó khăn để giúp đở người khác ở một phạm vi rộng lớn như chúng ta đang thảo luận. Thí dụ, nếu chúng ta sắp giúp đở những người mù chữ, thì chúng ta phải có học vấn. Tương tự thế, để giúp đở vô số chúng sanh thì chúng ta phải đạt được Quả Phật, vì một Đức Phật có tất cả những phẩm chất cần thiết để hổ trợ họ - thông hiểu tất cả những kỷ năng cho việc phát triển tâm linh và thần thông biết rõ ràng các cảm xúc, những mối quan tâm, các khuynh hướng của họ, v.v… Khi chúng ta bị kích thích qua sự thực hành bi mẫn để cảm thấy quan tâm cho người khác, thì đó là lúc những giá trị mới đang bén rễ. Chúng ta chuẩn bị nền tảng tâm thức chúng ta cho những giá trị mới này bằng việc dấn thân trong những nghi thức ngưỡng mộ Giác Ngộ.

 

Chúng ta đã được trang bị với những phẩm chất căn bản để đạt đến Giác Ngộ - bản chất rực sáng và tri nhận của tâm thức chúng ta. Do vậy, hãy tập trung trong tư tưởng, “Tôi sẽ thành tựu đạo quả Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của chúng sanh trong vô lượng thế giới.” Hãy nuôi dưỡng xu hướng này cho đến khi nó mạnh mẽ. Nghi thức cho việc ngưỡng mộ đến sự Giác ngộ vị tha là rất hữu ích trong tiến trình này.

 

BẢY SỰ THỰC HÀNH CÔNG ĐỨC

 

Nghi thức này, nên trở thành một bộ phận trong sự thiền tập hàng ngày của chúng ta, bắt đầu với bảy bước theo sau một sự cúng dường đặc biệt. Những sự thực tập này làm gia tăng năng lực của công đức, lần lượt hướng ta đến một sự chuyển hóa chắc chắn hơn. Qua những hình thức dâng hiến này ta sẽ tăng cường chí nguyện đối với từ bi; như chúng ta thấy tiếp theo đây, tất cả những thứ này liên hệ đến việc tận tâm đối với những bậc hiền thánh đặc biệt đã giảng dạy lòng từ bi:

 

1-    Tôn kính: Hãy tưởng tượng Đức Phật Thích Ca được vây quanh bởi vô số Bồ tát, đầy trên bầu trời trước mặt ta, và tỏ lòng tôn kính với thân thể, lời nói, và tâm ý của chúng ta. Hãy chấp tay lại, và cảm nhận một cách mãnh liệt rằng chúng ta đang trân trọng quy y trong chư Phật và chư Bồ tát. Hãy nói lớn rằng, “Thành kính đảnh lễ Đức Phật Thích Ca và chư Bồ tát.”

2-    Cúng dường: Hãy dâng lên những sự cúng dường, chẳng hạn như trái cây hay nhang đèn. Hãy tưởng tượng mọi thứ có thể thích hợp cho việc cúng dường – cho dù ta có nó hay không – kể cả thân thể ta, tài sản ta, và đạo đức của chính ta. Rồi thì hãy tưởng tượng việc cúng dường toàn bộ những thứ này đến chư Phật và chư Bồ tát.

3-    Sám hối: Tất cả chúng ta chịu trách nhiệm cho vô số hành vi xấu ác của thân thể, lời nói, và tâm ý vì động cơ của tham muốn để làm tổn hại. Trong tâm linh của sám hối, hãy phát triển một cảm nhận hối lỗi vì đã làm những việc không lành, giống như qua những hành động ấy ta đã ăn thuốc độc. Cũng hãy phát sinh một ý định kiêng ngăn những hành vi ấy trong tương lai giống như khác đi thì có thể làm ta mất mạng. Hãy nghĩ, “Từ đáy lòng của tôi, tôi xin sám hối với chư Phật và chư Bồ tát những hành vi xấu ác mà tôi đã làm.” Cung cách chính yếu để tịnh hóa những hành vi không lành là qua việc hối lỗi. Sự hối lỗi của ta càng lớn, thì chủ tâm của ta càng mạnh hơn để không lập lại chúng trong tương lai.

4-    Ngưỡng mộ: (tùy hỉ công đức) Từ trong chiều sâu của tâm thức hãy ngưỡng mộ những hành vi đạo đức của chính ta và của những người khác. Hãy hoan hỉ với những thứ tốt đẹp mà ta đã làm trong kiếp sống này. Hãy tập trung vào những việc làm tốt đẹp đặc biệt chẳng hạn như bố thí, làm từ thiện. Sự kiện rằng ta có một thân người trong kiếp sống này và cơ hội để thực hành lòng vị tha là chứng cớ của những hành động đạo đức trong những kiếp sống quá khứ. Do vậy, hãy hoan hỉ với những đạo đức này, và cũng hãy nghĩ về chính mình, “Tôi thật sự đã làm đươc những điều gì đó tốt đẹp.” Cũng hãy tùy hỉ trong những đức hạnh của những người khác, cho dù ta thấy chúng tận mắt hay không. Hãy hoan hỉ trong vô biên công đức của chư Phật và chư Bồ tát trong vô lượng kiếp. Bằng việc hoan hỉ trong những đạo đức của chính mình và của những người khác, ta sẽ giữ cho ta khỏi việc hối hận những việc làm tốt lành của ta (mong không cho từ thiện vì nó làm tài khoản ngân hàng của ta suy giảm, thí dụ thế) và ta cũng tránh trở thành ganh tỵ với những việc làm thiện lương của những người khác, hay ganh đua với họ.

5-    Khuyến thỉnh: (thình chuyển Pháp luân) Hãy thỉnh cầu chư Phật những bậc đã Giác Ngộ tròn vẹn nhưng chưa dấn thân trong việc giảng dạy giáo lý tâm linh, làm như thế nhân danh của tất cả chúng sanh đau khổ.

6-    Cầu xin: (thỉnh Phật trụ thế) Hãy nguyện cầu chư Phật không nhập niết bàn. Đây là một thỉnh nguyện đặc biệt đến chư Phật vốn đã giảng dạy và gần đến lúc nhập niết bàn.

7-    Hồi hướng: Thay vì hướng sự thực hành những bước sơ bộ đến hạnh phúc và thoải mái tạm thời trong kiếp sống này hay kiếp sống tới, hay chỉ đơn thuần được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, hãy hồi hướng nó đến việc Giác Ngộ vô thượng. Hãy nghĩ, “Nguyện cho những hành động này giúp tôi thành tựu Giác Ngộ tròn vẹn và hoàn hảo vì lợi ích của tất cả chúng sanh.”

 

Sau đó hãy tưởng tượng toàn bộ hệ thống thế giới đã được tịnh hóa và cúng dường nó với tất cả những kỳ công có thể nghĩ được đến chư Phật và chư Bồ tát. Sự cúng  dường đặc biệt này nuôi dưỡng lòng từ bi bằng việc dâng cúng tất cả mọi thứ có thể mong muốn được đến những bậc đã giảng dạy nó.

 

CHÍ NGUYỆN GIÚP ĐỞ

 

Bây giờ chúng ta đã sẳn sàng cho nghi thức thật sự của việc ngưỡng mộ Giác Ngộ vì sự quan tâm cho kẻ khác. Nó có hai phần, thứ nhất là việc trì tụng sự quy y ngắn gọn: “Cho đến khi đạt đến Giảc Ngộ tôi nguyện quy y trong Phật bảo, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.” Trong hình thức từ bi nhất, quy y là sự phối hợp ba thái độ:

 

1-    Hãy quan tâm cho tình trạng khổ đau của tất cả chúng sanh, không phải chỉ cho tự thân. Cũng hãy quan tâm rằng tất cả không chỉ cầu sự cứu độ đơn thuần khỏi khổ đau mà cũng ngưỡng mộ đến sự Giác Ngộ vị tha của Quả Phật.

2-    Tin tưởng vào Đức Phật, những thể trạng chứng ngộ, và cộng đồng tâm linh, duy trì niềm tin rằng qua ba ngôi tôn quý tất cả chúng sanh sẽ tìm sự tự do khỏi tất cả khổ đau.

3-    Lòng từ bi, có nghĩa là không thể chịu đựng trước sự nô lệ của người khác với khổ đau mà không làm điều gì đó.

 

Hãy biết rằng Đức Phật là vị Thầy của quy y, rằng những con đường chân thật (đạo đế) và những sự chấm dứt chân thật (diệt đế) là sự quy y thật sự, và rằng những vị Bồ tát là những bậc đã thực chứng trực tiếp bản chất chân thật của mọi hiện tượng là cộng đồng tâm linh của chúng ta hướng dẫn tất cả mọi chúng sanh đến sự quy y.

 

Với tri thức ấy, hãy ngưỡng mộ sự Giác Ngộ vô thượng bằng việc trì tụng: “Qua sự tích tập công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi đạt được Quả Phật để giúp đở tất cả chúng sanh.” Khi làm việc đó, hãy tự nghĩ, “Qua năng lực của những việc này nguyện tôi đạt được Quả Phật không để giúp đở chính tôi mà để phụng sự tất cả chúng sanh nhằm để giúp họ thành tựu Quả Phật.” Điều này được gọi là việc phát sinh một xu hướng từ bi để trở thành Giác Ngộ trong hình thức của một nguyện ước.

 

Điều này đưa chúng ta đến phần trung tâm của nghi thức. Với một nguyện ước mạnh mẽ để đạt đến Quả Phật, nhằm để phụng sự các chúng sanh khác, hãy tưởng tượng trước mặt ta một Đức Phật hay vị thầy tâm linh của chính ta tượng trưng cho ngài.

 

1-    Trì tụng những lời sau đây giống như ta đang lập lại nó sau Đức Phật:

 

Cho đến khi đạt đến Giác Ngộ, tôi sẽ quy y trong Đức Phật, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.

Qua sự tích tập công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi đạt được Quả Phật để giúp đở tất cả chúng sanh.

 

Bằng việc nói điều này, chúng ta đang hướng những hành vi đức hạnh của ta không đến một mục tiêu nhỏ bé nào đó trong kiếp sống này, hay kiếp sống tới, nhưng đến mục tiêu to lớn nhất của tất cả - sự thành tựu giải thoát hoàn toàn cho tất cả chúng sanh. Hãy phát sinh thái độ này với sự quyết tâm to lớn.

 

2-    Hãy thực hiện sự trì tụng thứ hai với sự quả quyết thậm chí mãnh liệt hơn để làm cho mục tiêu vị tha này liên tục trong đời sống hàng ngày của ta:

 

Cho đến khi đạt đến Giác Ngộ tôi nguyện quy y trong Phật bảo, giáo lý, và cộng đồng tâm linh siêu việt.

Qua sự tích tập của công đức của sự bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, tập trung, và tuệ trí, nguyện tôi thành tựu Quả Phật nhằm để giúp đở tất cả chúng sanh.

 

Điều này bao gồm trong nghi thức. Qua nó ta gieo trồng và nuôi dưỡng những hạt giống từ bi mạnh mẽ và không dao động.

 

DUY TRÌ CHÍ NGUYỆN TRONG KIẾP SỐNG NÀY

 

Có bốn sự thực hành nhằm mục tiêu giữ gìn lòng vị tha này khỏi suy giảm trong kiếp sống này:

 

1-    Trước tiên, hãy tăng cường lòng quả cảm cho việc trở thành Giác Ngộ vì lợi ích của những người khác bằng việc nhắc nhở thường xuyên những lợi ích của việc làm như vậy.

2-    Sau đó, hãy gia tăng sự quan tâm của ta vì người khác bằng việc phân chia ngày và đêm thành ba thời điểm, và trong những thời điểm đó trong ngày, hãy dành một ít thời gian, hay tỉnh giấc, để thực hành 5 bước quán tưởng được nói đến trong Chương Mở Rộng Giúp Đở, ngay cả chỉ 5 phút. Sự thực hành này rất hiệu quả; nó trở thành một thói quen thường ngày, giống như ăn uống vào một thời điểm nào đó. Nếu không thể làm thường xuyên, thì hãy quán tưởng những bước ấy 3 lần trong buổi thực hành buổi sáng kéo dài khoảng 15 phút, và làm giống như vậy vào ban đêm. Hãy suy nghĩ về mục tiêu của ta: “Nguyện cho tôi đạt đến Giác Ngộ vô thượng vì những người khác!”

3-    Sự thực hành tiếp theo đòi hỏi sự thận trọng: Trong việc cầu đạt đến Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh, hãy chắc chắn không lãng quên tinh thần về lợi ích ngay cả chỉ một người.

4-    Hãy cố gắng tích tập hai năng lực của phước đức và tuệ trí tối đa như có thể. Để gia tăng phước đức, hãy dấn thân một cách nhiệt tình vào những hành vi đức hạnh như bố thí và trì giới. Để tích lũy tuệ trí, ta phải đi đến thấu hiểu cung cách tồn tại chân thật của mọi hiện tượng. Vì đây là một chủ đề phức tạp, chúng ta sẽ khám phá sâu dài trong những chương Thẩm Tra Chúng Sanh Và Sự Vật Tồn Tại Như Thế Nào và chương Trung Đạo. Nói cho đầy đủ ở đây là thật là hữu ích để phản chiếu về vấn đề các hiện tượng sinh khởi và tồn tại tùy thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện như thế nào.

 

DUY TRÌ CHÍ NGUYỆN TRONG NHỮNG KIẾP SỐNG TƯƠNG  LAI

 

Trong những kiếp sống tương lai mục tiêu từ bi để trở thành Giác Ngộ có thể bị yếu đi. Chúng ta có thể ngăn ngừa điều này khỏi xảy ra bằng việc từ bỏ bốn việc làm bất thiện kể dưới đây, và bằng việc rèn luyện thực hành trong bốn điều thiện tiếp theo sau:

 

Bốn Điều Bất Thiện

 

1-    Lừa dối một cao nhân chẳng hạn như một vị trụ trì, thầy truyền giới, bổn sư, hay một bạn tu về những việc tiêu cực mà ta đã làm.

2-    Làm cho những người khác dấn thân trong đạo đức hối hận với những gì họ đang làm.

3-    Chỉ trích và xem thường những người biểu lộ lòng từ bi cho những người khác.

4-    Lừa dối và trình bày sai lạc để được những người khác cung phụng.

 

Bốn Điều Thiện

 

1-    Hoàn toàn không lừa dối bất cứ ai. Có những ngoại lệ, khi việc lừa dối có thể đem lại những lợi ích lớn lao cho những người khác, nhưng rất là hiếm hoi.

2-    Hãy giúp đở những người khác hướng đến sự Giác Ngộ vị tha của Quả Phật, một cách trực tiếp hay gián tiếp.

3-    Quan tâm và đối xử với các vị Bồ tát giống như sự tôn kính Phật. Vì chúng ta không biết ai là Bồ tát hay không là Bồ tát, cho nên chúng ta phải đối xử với tất cả mọi người với sự tôn trọng. Như một quy tắc chung, hãy đặt người khác trên ta.

4-    Không bao giờ lường gạt bất cứ ai và luôn luôn trung thực.

 

Nếu ta có quyết định rèn luyện trong những sự thực hành này để phát sinh một sự quyết tâm đạt Quả Phật vì những người khác, thế thì thực hiện sự hứa nguyện này: “Tôi sẽ duy trì sự quyết tâm của tôi và không bao giờ từ bỏ.” Những người nào không thể duy trì trình độ rèn luyện này có thể từ bỏ lời hứa nguyện thay vì thế hãy nghĩ, “Nguyện cho tôi đạt quả Giác Ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh!” Những người không phải Phật tử - Ki tô hữu, Do Thái, Hồi giáo, và v.v… - có thể phát sinh một thái độ quan tâm khác giá trị tương đương bằng việc nghĩ, “Tôi sẽ đem sự giúp đở và hạnh phúc cho tất cả chúng sanh.

 

MỤC TIÊU THỰC TIỂN ĐỂ TRỞ THÀNH GIÁC NGỘ

 

Khi sự ngưỡng mộ để được Giác Ngộ vững chắc, chúng ta nên thực hiện nó trong những hành động. Những điều  này được gọi là những hành vi chánh yếu của Bồ tát cùng với chúng là sáu hoàn thiện (ba la mật):

 

1-    Bố thí: kể cả (1) ban cho những thứ vật chất như tiền bạc, áo quần, và thực phẩm; (2) ban cho tình thương; (3) ban cho giáo lý và những sự thực hành tâm linh; và (4) ban cho sự giải thoát khỏi những hoàn cảnh sợ hãi với tất cả chúng sanh – kể cả thú vật; giúp đở kể cả một con kiến ra khỏi vũng nước.

2-    Đạo đức (trì giới): vốn liên hệ chính yếu đến thái độ vị tha và hành vi của những vị Bồ tát.

3-    Nhẫn nhục: vốn biểu lộ trong những hoàn cảnh căng thẳng, hay được sử dụng để duy trì những cố gắng khó khăn, chẳng hạn như học hỏi giáo lý và thực hành trong một thời gian dài.

4-    Nỗ lực (tinh tấn): duy trì lòng nhiệt tình cho đức hạnh, và hổ trợ tất cả những hoàn thiện khác.

5-    Thiền định: vốn là sự hành thiền về ổn định và mãnh liệt được giải thích trong chương tiếp theo.

6-    Tuệ trí: cần thiết cho sự thông hiểu bản chất của vòng sanh tử luân hồi và vô thường, cũng như duyên sanh và tánh không.

 

Sáu hoàn thiện, lần lượt, có thể cô đọng lại trong ba sự tu tập của Bồ tát – tu tập trong đạo đức hoàn thiện (kể cả những hoàn thiện của bố thí và nhẫn nhục), tu tập trong thiền định hoàn thiện, và tu tập trong tuệ trí hoàn thiện. Nổ lực hoàn thiện được đòi hỏi cho tất cả ba sự tu tập. Đây là vấn đề sáu hoàn thiện được bao hàm trong sự thực hành tam vô lậu học về đạo đức, thiền định, và tuệ trí như thế nào vốn được tập trung trong quyển sách này.

 

Khi chúng ta đi đến cảm nhận trong chiều sâu trái tim của chúng ta rằng chúng ta phải dấn thân trong những hành vi của Bồ tát – sáu hoàn thiện hay được thấy trong một cách khác là tam vô lậu học – thì đây chính là lúc để tiếp nhận giới nguyện Bồ tát của mục tiêu thực tiển để trở thành Giác Ngộ.

 

-*-

 

Trong căn bản, tất cả chúng sanh là giống nhau trong khát vọng mưu cầu hạnh phúc và xa tránh khổ đau. Chúng ta cũng giống nhau trong vấn đề có thể loại trừ khổ đau và đạt đến hạnh phúc là việc mà tất cả chúng ta có quyền bình đẳng. Rồi thì, những gì là sự khác biệt giữa ta và tất cả những người khác? Ta chỉ là thiểu số của một. Thật có thể dễ dàng để thấy rằng vô số chúng sanh hy vọng cho hạnh phúc và mong cầu cho một sự chấm dứt khổ đau là quan trọng hơn bất cứ một cá nhân nào. Do vậy, đó là một sự hợp lý tuyệt vời cho ta cam kết tự mình với phúc lợi của vô số những người khác, để sử dụng thân thể, lời nói, và tâm ý cho sự tốt lành của họ, và để từ bỏ một thái độ chỉ chăm sóc cho tự thân ta.

 

-*-

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

Trước tiên thực hiện bảy bước sơ bộ:

 

1-    Tôn kính Đức Phật Thích Ca được vây quanh với vô số Bồ tát, mà chúng ta đã quán tưởng đầy khắp bầu trời trước mặt ta.

2-    Cúng dường tất cả mọi thứ diệu kỳ - cho dù ta có hay không – kể cả thân thể, tài sản, và đức hạnh của chính ta, đến chư Phật và chư Bồ tát.

3-    Sám hối vô số hành vi tiêu cực của thân thể, lời nói và tâm ý mà ta đã phạm phải với ý định làm tổn hại người khác. Hãy hối hận vì đã làm những việc ấy, và quyết tâm không tái phạm trong tương lai.

4-    Ngưỡng mộ (tùy hỉ công đức) từ trong chiều sâu của trái tim đức hạnh của chính ta và của những người khác. Hãy hoan hỉ với những việc làm tốt đẹp mà ta đã làm trong kiếp này và những kiếp trước, hãy nghĩ, “Tôi đã làm điều gì đó tốt đẹp.” Hãy hoan hỉ trong đạo đức của những người khác, kể cả những điều của chư Phật và chư Bồ tát.

5-    Khuyến thỉnh chư Phật, những vị đã chứng toàn giác nhưng chưa hóa độ, hãy giảng dạy vì lợi ích của những chúng sanh đau khổ.

6-    Cầu xin chư Phật đừng nhập niết bàn

7-    Hồi hướng sáu sự thực tập này để đạt đến Giác Ngộ vô thượng.

 

Sau đó tiến hành phần trung tâm của nghi lễ cho việc ngưỡng mộ Giác Ngộ:

 

1-    Với một quyết tâm mạnh mẽ đạt đến Quả Phật nhằm để phụng sự những chúng sanh khác, hãy tưởng tượng một đức Phật trước mặt ta, hay một vị thầy tâm linh như một đại diện của đức Phật.

2-    Trì tụng ba lần giống như ta đang lập lại sau vị thầy:

 

Cho đến khi thành tựu Giác Ngộ, tôi quy y trong đức Phật, giáo lý, và cộng đồng tâm linh cao thượng.

Qua những tích lũy công đức của việc bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực, thiền định, và tuệ trí, nguyện tôi thành tựu Quả Phật để giúp đở tất cả mọi chúng sanh.

 

Để duy trì và làm mạnh lòng vị tha thậm thâm này trong kiếp sống này tiến hành tiếp theo:

 

1-    Hãy luôn luôn nhắc lại những lợi ích của việc phát triển một mục tiêu trở thành Giác Ngộ vì lợi ích của những người khác.

2-    Hãy phân chia ngày thành ba thời và đêm thành ba thời, và trong mỗi thời đó hãy dành một ít thời gian hay tỉnh dậy từ giấc ngủ và thực hành năm bước quán tưởng có trong chương trước. Cũng đầy đủ để quán tưởng năm bước ba lần vào buổi sang và kéo dài khoảng 15 phút, và ba lần vào ban đêm trong 15 phút.

3-    Tránh việc quên lãng lợi ích thậm chí của một chúng sanh.

4-    Hãy dẫn thân tối đa trong những hành vi đạo đức với một thái độ tốt lành, và phát triển một sự hiểu biết sơ bộ về bản chất của thực tại, hay duy trì một nguyện ước làm như vậy và hoạt động về việc này.

 

Để duy trì và làm mạnh mẽ lòng vị tha thậm thâm này trong những kiếp sống tương lai:

 

1-    Hoàn toàn không nói dối bất cứ ai, ngoại trừ ta có thể giúp đở những người khác một cách sâu rộng qua việc nói láo.

2-    Một cách trực tiếp hay gián tiếp giúp đở mọi người tiến triển trên con đường Giác Ngộ.

3-    Hãy đối xử với tất cả mọi chúng sanh với sự tôn trọng.

4-    Không bao giờ lừa bịp bất cứ người nào, và luôn luôn duy trì sự trung thực.

 

Tóm lại, hãy luôn luôn suy nghĩ, “Nguyện cho tôi trở thành có thể giúp đở tất cả mọi chúng sanh.”

 

-*-


III

 

THỰC HÀNH THIỀN TẬP TRUNG


7

TẬP TRUNG TÂM THỨC

 

 

-*-

 

 

Chúng ta hãy để một phút để ôn lại vấn đề tiến trình đối với một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa hiển bày như thế nào. Trước nhất là đạo đức, rồi đến thiền định, rồi tuệ trí. Tuệ trí dựa trên thiền nhất tâm, và thiền định lệ thuộc vào sự tự giác về đạo đức. Trong 5 chương qua, chúng ta đã thảo luận về sự thực hành đạo đức, vốn làm chúng ta ổn định và an bình hơn và tâm thức ta đã sẳn sàng cho sự thăng tiến tâm linh hơn. Với một thói quen thái độ của ý thức, thiền định, còn được gọi là shamatha hay tam muội, có thể được hoàn thành. Tuy thế, tâm thức chúng ta quá tán loạn cho việc thực hành thiền hiệu quả tăng tiến vốn đòi hỏi sự tập trung hoàn toàn.  Thậm chí một tiếng động nhỏ ở đây hay kia có thể lập tức làm ta xao lãng. Vì tuyệt đối cần thiết làm cho tâm thức tập trung hơn vì thế tuệ trí mới có thể hiển bày. Tôi sẽ thảo luận trong chương này tiến trình của việc phát triển thể trạng tập trung một cách thậm thâm về thiền định. Trước tiên tôi sẽ diễn tả tóm tắt những loại hành thiền đa dạng vì thế chúng ta có thể thấu hiểu vị trí của thiền định trong chúng.

 

NHỮNG LOẠI HÀNH THIỀN

 

Có nhiều cách hành thiền.

 

1-    Hai loại hành thiền căn bản là thiền phân tích, hay thiền quán – quán và thiền ổn định hay thiền định – chỉ. Trong quán ta phân tích một chủ đề  và cố gắng để thấu hiểu nó qua lý trí. Thí dụ, chúng ta có thể hành thiền về vấn đề tại sao mọi thứ là vô thường bằng việc quán chiếu việc chúng được sản sinh bằng những nguyên nhân như thế nào và việc chúng tàn hoại từng thời khắc như thế nào (Tuệ được trau dồi qua quán). Trong chỉ ta làm tâm thức ta an trú trên một đối tượng hay đề tài đơn lẻ, chẳng hạn như vô thường. (Định được trau dồi qua chỉ).

2-    Một cách khác của việc phân chia thiền là giữa thiền chủ quan[1]thiền khách quan[2]. Trong thiền chủ quan mục tiêu của ta là trau dồi hay làm mạnh trong tâm thức một quan điểm, hay thái độ mới. Việc trau dồi niềm tin là một thí dụ cho loại thiền này; niềm tin không là một đối tượng mà trên đó chúng ta tập trung nhưng một thái độ đang được trau dồi qua hành thiền. (Trau dồi lòng từ bi là thiền chủ quan bởi vì chúng ta không đang thiền về từ bi nhưng đang tìm cách để làm cho tâm thức chúng ta từ bi hơn.) Trong thiền khách quan, ta thiền về một chủ đề, chẳng hạn như vô thường, hay một đề tài, chẳng hạn như kim thân của một Đức Phật.

3-    Chúng ta có thể thiền trong phương pháp của nguyện ước. Thí dụ, chúng ta có thể mong ước được tràn đầy với từ bi và tuệ trí của một Đức Phật.

4-    Hay chúng ta có thể đi một bước xa hơn, vào trong thiền quán tưởng mà trong ấy chúng ta hình dung rằng chúng ta có những phẩm chất mà chúng ta thật sự chưa có. Sự thực hành bồn tôn du già, thí dụ thế, được gọi là thiền quán tự thân như một chúng sanh lý tưởng mà thân thể được làm từ ánh sáng của tuệ trí.

 

Trong những thứ thiền này đa dạng này, chúng ta hãy thảo luận vấn đề thực hành thiền ổn định hay chỉ như thế nào. Như được đề cập ở trên, mục tiêu của thiền định là đề làm mạnh năng lực của tâm thức để tập trung vào một đối tượng hay chủ đề đơn lẻ, mà vốn tâm thức lần lượt có thể chiến thắng các vấn nạn tận gốc rể của chúng. Nó cũng giúp chúng ta cảnh giác và sắc bén hơn trong cuộc sống hàng ngày, nó dần dần tăng trưởng năng lực trí nhớ, vốn là hữu dụng trong mọi mặt của đời sống.

 

THÀNH TỰU ĐỊNH LỰC

(Định được trau dồi qua chỉ)

 

Vì loại hành thiền này, chúng ta đang tìm cách đạt được một thể trạng tập trung sâu xa của tâm thức, cho nên chúng ta cần những thứ sau đây:

 

1-    Nhân khởi đầu, đạo đức hay giới, vốn đem đến cho ta một mô thức an bình, thư giản, tận tâm của thái độ và vì vậy loại trừ những sự xao lãng thô.

2-    Thời gian và nơi chốn cho sự thực hành tách rời khỏi sự huyên náo của đời sống hàng ngày. Hãy tạo thời dụng biểu cho việc hành thiền trong đời sống hàng ngày. Đối với thiền tập trung, ở riêng lẻ trong một nơi tách biệt, yên tĩnh là thiết yếu. Vì tiếng động là điều vốn khó khăn, ngăn cản sự tập trung, vào lúc khởi đầu thật rất quan trọng để ở một nơi yên tĩnh. Hãy xem xét để tham dự một khóa tu hay vì đi nghĩ mát.

3-    Một sự kiêng khem thích hợp nuôi dưỡng sự trong sáng của tâm thức. Đối với một số tình trạng sức khỏe, có thể cần thiết để ăn thịt, nhưng nói chung thực phẩm chay lạc là tốt nhất. Theo đạo đức giải thoát các nhân, không có chuyện cấm đoán đối với việc ăn thịt. Nhưng chúng ta không nên ăn thịt mà người ta cố ý làm cho ta ăn, và ta không nên đòi hỏi nếu không được cúng dường. Thực tế, tốt nhất nếu đại đa số mọi người đều ăn chay. Một số kinh điển Đại thừa cấm ăn thịt, vì quan tâm cho những chúng sanh khác là trọng tâm của đạo đức Đại thừa. Cũng thế, ăn uống quá nhiều là không tốt, cho nên ăn ít thôi. Dĩ nhiên, uống rượu là không cần phải hỏi, cũng như tất cả các loại chất nghiện làm thay đổi tâm trí. Hút thuốc không thích đáng. Nếu một người râu quay nón hút thuốc trong khi thâm nhập sâu trong thiền tập, thì ông ta có nguy cơ bị cháy râu!

4-    Ngủ nghĩ đúng thời. Ngủ quá nhiều làm cho tâm thức ta bị lu mờ, quá ít có thể bị bồn chồn. Ta phải xem ta cần ngủ nghĩ bao nhiêu thì đủ.

5-    Tư thế thân thể là cần yếu đối với thiền tập trung, đặc biệt ở giai đoạn khởi đầu này. Nếu có thể áp dụng tư thế hoa sen, hay nửa hoa sen. Hãy sử dụng hai gối ngồi thiền, bồ đoàn và tọa cụ, ngồi lên bồ đoàn để phía sau ta cao hơn hai đầu gối, tác dụng là bất chấp ta hành thiền bao lâu thì ta cũng không bị mõi mệt. Hãy giử thẳng xương sống như một mũi tên; hơi cúi đầu xuống, hướng mắt về phía trước mũi; đặt lưỡi lên nóc vọng (vòm miệng); để đôi môi và răng bình thường; và để hai cánh tay hơi thong thả, không đè sát vào thân. Quan tâm đến tư thế của hai bàn tay, những hành giả của thiền Nhật Bản thường đặt bàn tay trái úp lên bàn tay phải, cũng úp xuống. Người Tây Tạng bàn tay phải, úp xuống, đặt phía trên bàn tay trái, cũng úp xuống. Trong thực hành Mật tông quan trọng là phải đặt bàn tay phải trên bàn tay trái, với cả hai bàn tay đều úp xuống, và với hai ngón tay cái chạm vào nhau như hình tam giác, đặt dưới rốn khoảng bốn ngón tay.

 

Đề Tài Hành Thiền

 

Có thể có nhiều chủ đề cho thiền chỉ để đạt được định lực:

 

1-    Hơi thở. Một số luận điển nói về việc quán chiếu hơi thở ra và hơi thở vào qua lỗ mũi nhưng không nói hơi thở sâu như thế nào. Những sách vở khác giải thích vấn đề quán chiếu chuyển động của hơi thở trong những vùng đặc biệt của thân thể. Trong một loại thao tác của hơi thở, ta đẩy không khí, hay năng lượng phía dưới lên, và dồn ép năng lượng phía trên xuống, giữ chúng lại giống như một chiếc bình ngay dưới rốn.

2-    Thân thể ta, các cảm giác, tâm thức, hay những hiện tượng chẳng hạn như vô thường. Những loại thiền này được gọi là những thiết lập qua chánh niệm.

3-    Mẫu tự đầu tiên của tên ta trên một cái đĩa của ánh sáng bên ngoài hay bên trong thân thể ta.

4-    Những hành giả Thái Lan thường hành thiền với việc áp dụng chánh niệm vào bất cứ thứ gì họ làm. Trong khi đi họ chánh niệm với việc đặt bàn chân phải phía trước, rồi trái, rồi phái.

5-    Tổng quát, một chủ đề tốt để hành thiền cho một Phật tử là một hình ảnh thân tướng của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni; cho một Ki Tô hữu có thể là hình ảnh của chúa Giê-su. Hãy nhìn chằm chằm vào đó để nó xuất hiện trong tâm thức ta khi ta nhắm mắt lại. Hãy hành thiền trên hình tượng ấy ở trình độ của mắt, không quá cao hay quá thấp, ở một khoảng cách bốn hay năm bộ (khoảng 1m đến 1,5m).

Vào lúc bắt đầu thật khó để chủ đề của thiền tập xuất hiện một cách rõ ràng trong tâm thức. Để tránh việc lu mờ của nhận thức, hãy cố gắng thường xuyên, những buổi hành thiền mãnh liệt năm phút hơn là những buổi thiền tập kéo dài. (4 đến 16 của những buổi hành thiền ngắn hàng ngày là lý tưởng.) Khi nó xuất hiện trong tâm thứ, thì ta đã thấy đối tượng của việc hành thiền. Bây giờ hãy an trú tâm thức ta một cách liên tục trên nó.

 

Đối Phó Với Trạo Cử Và Giải Đải

 

Để đạt được định lực, cả ổn định và trong sáng thì cần tương ứng với chủ đề hành thiền. Vì vậy những chướng ngại lớn nhất để kéo dài việc hành thiền là trạo cử và giải đải. Trạo cử ngăn ngại ổn định. Khi tâm thức không an trú trên đối tượng nhưng trở thành mất tập trung hay phân tán, đối tượng của việc hành thiền bị đánh mất. Cũng có một hình thức vi tế của trạo cử, chỗ mà thậm chí nếu đối tượng không bị đánh mất, nhưng một góc nào đó của tâm thức đang nghĩ về điều gì khác. Ta cần xác định trạo cử và qua chánh niệm, không để tâm thức ta ở dưới ảnh hưởng của nó.

 

Trạng thái lười biếng, sự nặng nề của tâm thức và thân thể, là một chướng ngại của sự trong sáng. Trạng thái lười biếng cũng tạo ra sự xao lãng, vốn ngăn trở sự trong sáng. Trong sự xao lãng thô thì tâm chìm đắm, đối tượng hành thiền bị phai mở và bị đánh mất. Trong sự xao lãng vi tế, đối tượng không bị đánh mất, nhưng sự trong sáng của đối tượng và tâm thức bị giảm bớt một ít vì cường độ của tâm đã bị yếu, tâm hơi bị lỏng lẻo. Tâm thức có thể hoàn toàn an trú một cách rõ ràng trên đối tượng của việc hành thiền, nhưng không có sự tỉnh giác đúng mức, trạng thái này thường bị lầm là đang hành thiền đúng.

 

Khi tâm thức ta quá mãnh liệt, và ta trải nghiệm trạo cử, thì ta cần nới lỏng nó, giống như làm giùng dây đàn một tí. Tương tự thế, khi ta có xao lãng thì tâm thức không mãnh liệt đúng mức, vì thế ta cần gia tăng cường độ của nó, bằng việc làm nó hơi căng lên, như thắt chặc những sợi dây. Như bạn thấy, tâm thức cần được giai điệu như một nhạc khí có dây căng đúng mức.

 

Chánh Niệm Và Nội Quán

 

Năng lực phía sau sự phát triển thiền tập trung là chánh niệm, đó là năng lực an trú với đối tượng, không cho phép sự mất tập trung. Chúng ta thực tập chánh niệm bằng việc đặt tâm ý trở lại đối tượng của việc hành thiền mỗi lần nó bị dao động. Khi chúng ta đã thành thạo trong việc duy trì chánh niệm trên đối tượng, thì ta cần sử dụng nội quán. Như Shantideva nói trong Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ tát (Nhập Bồ tát hạnh), chức năng đặc biệt của nội quán là quan sát thường kỳ các hành vi của ta, cho dù thân thể hay tinh thần. Trong tiến trình của việc phát triển định lực, nhiệm vụ của nội quán là để quyết định tâm thức đã đến hay sắp đến, dưới ảnh hưởng của giải đải hay trạo cử. Vào lúc khởi đầu, những thời khắc của giải đải và trạo cử là mạnh mẽ, nhưng, với nổ lực, những thứ này trở thành yếu kém hơn và ít thường xuyên hơn, và những thời khắc của việc có thể an trú trên đối tượng được kéo dài thêm. Dần dần, ngay cả những sự giải đải và trạo cử vi tế cũng mất hết sức  mạnh của chúng và biến mất. Cuối cùng, năng lực của tâm ý an trú nhất niệm trên đối tượng gia tăng, thoát khỏi những khuyết điểm của trạo cử và giải đải.

 

Khi qua chánh niệm và nội quán ta có thể duy trì sự tương tục việc nắm giữ đối tượng, thì ta có thể thành tựu thiền tập trung trong sáu tháng. Khởi đầu ta phải đặt tâm ý ta trên đối tượng của việc hành thiền một cách cưỡng bức với nổ lực lớn rồi thì ngày qua ngày ta chú ý đối tượng mà không cần nổ lực nhiều; rồi thì ta chú ý nó với một cung cách thoải mái một cách liên tục và cuối cùng ta an trú trên đối tượng một cách tự động mà không cần có bất cứ sự cố gắng nào để loại trừ trạo cử và giải đải. Nếu ta có thể duy trì trên đối tượng của ta trong bốn giờ một cách sinh động và liên tục, thì ta đã đạt được sự ổn định vững vàng. Những trạng thái bất lợi của thân thể và tâm thức biến mất, và một sự an lạc của thân thể và uyển chuyển của tinh thần đã đạt được. Ở tại điểm này, chúng ta đã thành tựu định lực.

 

Những Phẩm Chất Của Định Lực

 

Để có được định lực, tâm thức phải ổn định để nắm chặc một đối tượng, nhưng chỉ điều này không thôi thì không đủ. Tâm thức cũng phải rõ ràng trong sáng, nhưng điều này cũng không đủ. Sự trong sáng của nó phải mãnh liệt, tỉnh giác, và sắc bén; tâm thức không thể có ngay cả một chút lu mờ.

 

Những sự điều chỉnh tốt đẹp của tâm thức làm nó mẫn cảm với định lực không dễ hoàn tất. Ở Dharamsala, Ấn Độ, một người Tây Tạng thực tập thiền tập trung (chỉ) nói với tôi rằng việc trau dồi tập trung nhất niệm thì tệ hại hơn bị giam trong nhà tù Trung Cộng! Bởi vì nó khó, cho nên thật quan trọng để chuẩn bị một cách cẩn thận, đi từng bước một. Đừng ép buộc mình quá, đặc biệt lúc đầu, bằng khác đi ta có nguy cơ trở thành rối loạn hay ngay cả suy nhược thần kinh. Mục tiêu ở đây là sự thực tập hàng ngày, chỗ chúng ta lựa chọn một đối tượng của việc hành thiền, và khi ta tập trung trên nó, hãy cố gắng để đạt được và duy trì sự ổn định, trong sáng, và cường độ.

 

Tập Trung Trên Chính Tự Tâm Thức

 

Định lực cũng có thể đạt được qua việc hành thiền hàng ngày trên chính tự tâm thức. Một trong những thuận lợi của việc quán sát tâm thức bây giờ là nó sẽ làm mạnh năng lực để biểu hiện tâm linh quang khi ta lâm chung. Đầu tiên hãy xác định bản chất cốt yếu rực sáng và hiểu biết của tâm, không bị cấu nhiễm bởi tư tưởng, và rồi thì tập trung trên nó. Đây là một trong nhiều trình độ của vô niệm (Tôi sẽ diễn tả việc hành thiền trên bản chất rốt ráo của tâm trong chương 10).

 

Để chuẩn bị cho việc tập trung trên chính tự tâm thức thì ta cần chiến thắng những chướng ngại cảm xúc bằng việc tiến hành trong việc tích lũy phước đức tích cực, như qua việc phát triển từ bi như đã được thảo luận trước đây. Bước tiếp theo là trở nên quen thuộc với bản chất của chính tâm thức của ta. Thời gian tốt nhất cho việc này là vào buổi sáng, ngay sau khi thức dậy, nhưng trước khi tất cả những tác dụng cảm giác của bạn trở thành năng động. Mắt của bạn chưa mở. Hãy nhìn vào, hay ở bên trong, chính tự tâm thức. Đây là cơ hội tốt để trải nghiệm bản chất của tâm linh quang. Đừng để tâm bạn nghĩ về những gì xảy ra trong quá khứ, cũng không để nó vơ vẫn theo những thứ có thể xảy ra trong tương lai; đúng hơn, hãy để tâm thức năng động, không có bất cứ kiến tạo nào; hãy để nó như nó là. Trong khoảng không giữa những ý tưởng mới và cũ, hãy khám phá bản chất tự nhiên, không thêu dệt, rực sáng và hiểu biết của tâm không bị ảnh hưởng bởi suy nghĩ. Khi chúng ta duy trì trong cách này, ta thấu hiểu rằng tâm thức như tấm gương, phản chiếu bất cứ đối tượng nào, bất cứ nhận thức nào, và rằng tâm thức có một bản chất thuần nhất rực sáng và hiểu biết, của kinh nghiệm đơn thuần.

 

Sau khi ta nhận ra bản chất của tâm thức như rực sáng và hiểu biết, an trụ với nó. Sử dụng năng lực của ta về chánh niệm và nội quán duy trì trong thể trạng ấy. Nếu một tư tưởng đến, chỉ hãy nhìn vào chính bản chất của nó, và nhận thức ấy sẽ mất sức mạnh của nó và tự tan biến. Đôi khi với sự tinh tấn, ta có thể ngăn ngừa một tư tưởng khỏi việc  hình thành trọn vẹn. Rất giống như thế, tư tưởng, khi chúng ta đạt đến thể trạng này của việc nhận ra bản chất căn bản, không nhiễm ô, không tạo tác của tâm thức, thì những tư tưởng sẽ tan biến khi chúng hình thành, và ngay cả khi chúng thật sự đến, thì chúng sẽ không có năng lực. Hãy biết rằng giống như những đợt sóng của đại dương được làm thành từ nước, những tư tưởng được tạo ra từ bản chất trong sáng, và hiểu biết của tâm thức. Và qua việc thực hành liên tục hàng ngày, các tư tưởng sẽ yếu dần và biến mất mà không cần sự cố gắng nào.

 

Việc hành thiền này tự nó sẽ làm sắc bén tâm thức chúng ta và cải thiện trí nhớ của chúng ta, những phẩm chất vốn chắc chắn hữu dụng vượt khỏi sự thực tập tâm linh, cho dù trong thương trường, kỹ thuật, nuôi dưỡng một gia đình, hay là một giáo viên, hay một luật sư. Sự thực tập này cũng hổ trợ một nền tảng hàng ngày với sân hận. Khi ta bị kích thích, thì ta có thể tập trung trên bản chất của chính sự sân hận và do thế làm xói mòn sức tàn phá của nó.

 

Một lợi ích khác của sự rèn luyện tâm linh như vậy xuất phát từ sự nối kết gần gũi giữa thân thể và tâm thức. Khi ta còn trẻ và thân thể khỏe mạnh, thì tâm thức ta mạnh mẽ. Thế thì thật đặc biệt đáng giá để bắt đầu thực tập, vì vậy ở tuổi tác của các bạn, tâm thức ta đang còn tươi mát và tích cực qua những thay đổi của thân thể. Xét cho cùng, não bộ con người là một tài sản đặc biệt, và sẽ thật là đáng thương nếu để nó yếu đuối qua sự quên lãng, từ bỏ năng lực của nó cho đến tuổi già, giống như động vật, công việc của nó chỉ là săn sóc thân thể mà thôi. Đối với những hành giả, việc rèn luyện tinh thần mới đầu, và đặc biệt là tập trung tâm thức, thì thật quan trọng là việc chuẩn bị cho ngày cuối cùng (của cuộc đời), khi tâm thức ta phải duy trì trong sáng và sắc bén để làm hữu dụng những kỷ năng đặc biệt trong những giai đoạn của sự chết hay tối thiểu tác động đến sự tái sanh vào kiếp sống tới. Sự mờ tối của tâm thức ở thời điểm quan yếu này có thể là rất nguy hiểm. Một sự bảo đảm thật sự cho một sự tái sanh tốt đẹp là việc có thể tiến hành sự thực tập của ta qua các giai đoạn của sự chết.

 

Thể trạng tâm thức của ta ngay trước khi tái sanh ảnh hưởng trong sự quyết định đặc tính kiếp sống tới của ta. Chúng ta có thể đã tích lũy nhiều phước đức lớn trong cuộc đời, nhưng nếu ta để nó với một tâm thức mờ tối, thì ta gây nguy hiểm cho hình thức mà kiếp sống tới ta có. Trái lại, ngay cả nếu ta đã làm một số việc đáng ân hận trong cuộc đời, thì khi ngày cuối cùng đến, nếu ta đã chuẩn bị và quyết định sử dụng cơ hội này một cách trọn vẹn nhất, thì sự tái sanh kiếp tới sẽ chắc chắn là tốt đẹp. Do vậy hãy cố gắng để rèn luyện tâm thức được tươi mát, tỉnh giác, và sắc bén.

 

NHỮNG KỶ NĂNG KHÁC CHO VIỆC ĐẠT ĐƯỢC SỰ TĨNH LẶNG CỦA TINH THẦN

 

Trong những hoàn cảnh khó khăn thật dễ dàng để trở nên xúc động. Phật giáo cung ứng nhiều kỷ năng cho việc giải tỏa căng thẳng và tìm thấy tĩnh lặng trong những tình huống gay go mà chúng ta đối diện hàng ngày. Những kỷ năng này thay đổi tùy theo hoàn cảnh và cá nhân. Nó đặc biệt hiệu quả để sử dụng năng lực của thiền phân tích (quán) để nhắm đến các vấn nạn một cách trực tiếp, thay vì cố gắng để lẫn tránh chúng. Đây là một số thí dụ và kỷ năng này.

 

1-    Khi ta đối diện với vấn nạn, hãy làm bất cứ điều gì để vượt thắng nó, nhưng nếu không vượt qua được, thế thì quán chiếu trên sự kiện rằng đây là một rắc rối do hành động của chính ta trong việc này, hay một kiếp trước. Việc thấu hiểu rằng khổ đau đến từ nghiệp sẽ đem một sự an bình nào đó như nó biểu lộ rằng cuộc sống không phải là bất công. Trái lại buồn thương và đau khổ có thể dường như vô nghĩa.

2-    Khởi đầu một vấn nạn có thể dường như cứng nhắc và bất trị, cho đến khi ta thẩm tra bản chất thật sự của nó. Để làm điều này, hãy làm việc với sự thấu hiểu phạm vi của khổ đau trong cuộc sống của chính ta. Thân thể và tâm thức thông thường có bản chất của khổ đau, giống như bản chất của lửa là nóng và đốt cháy. Cũng giống như vậy, chúng ta đã học vấn đề làm việc với bản chất của lửa như thế nào, thì chúng ta có thể học việc hành động với khổ đau của chúng ta trong đời sống như thế nào.

3-    Hãy quán sát vấn nạn từ một nhận thức rộng rãi hơn. Nếu ai đó buộc tội ta, thay vì đả kích lại, thì hãy quán tưởng rằng sự tố cáo đó đã nới lõng những dây xích của sự tự yêu mến, và vì thế làm nổi bật năng lực của ta để quan tâm cho người khác. Hãy điều chỉnh lại những hoàn cảnh xấu như những năng lực hổ trợ cho việc phát triển tâm linh của chúng ta. Kỷ năng này thì khó khăn để áp dụng nhưng đầy năng lực khi chúng ta thành công.

4-    Khi chúng ta ganh tỵ hay mong muốn làm hại một kẻ thù, thay vì nghiền ngẫm mọi phẩm chất xấu xí của người ấy, thì hãy phản chiếu về những cống hiến của người ấy. Hầu hết mọi người là một hổn hợp của những phẩm chất và xấu – thật khó khăn để tìm ra bất cứ người nào xấu xa về mọi mặt.

5-    Hãy quán chiếu về tánh không của sự tồn tại cố hữu – đây là thiền phân tích (quán) sâu sắc nhất và điều gì đó tôi sẽ khám phá trong ba chương tiếp theo.

 

Hay, chúng ta có thể sử dụng thiền ổn định (chỉ) cho sự ngơi nghỉ tạm thời:

 

  • Nếu ta không thể dừng lại sự lo lắng đối với việc gì đó trong quá khứ hay những gì sắp xảy ra trong tương lai, thì hãy hướng sự tập trung vào hơi thở ra và hơi thở vào. Hay trì tụng câu mật ngôn này: om mani padme hum (án ma ni bát di hồng). Vì tâm không thể tập trung hai thứ đồng thời, cho nên một trong hai thứ tu tập này sẽ làm tan biến sự lo lắng trước đây.

 

-*-

 

Dường như đối với tôi thì tất cả mọi tôn giáo đều có thể lợi lạc từ những kỷ năng thiền tập của Phật giáo – vì tập trung nhất tâm có thể áp dụng một cách hữu hiệu trong nhiều hoàn cảnh. Trong mỗi bước đi của cuộc đời chúng ta có thể lợi lạc từ việc tập trung tâm thức và tăng cường trí nhớ.

 

-*-

 

TOÁT YẾU CHO SỰ THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Hãy chọn một đối tượng của việc hành thiền và tập trung tâm thức chúng ta vào nó, cố gắng đạt được và duy trì sự ổn định, trong sáng, và cường độ. Hãy tránh giải đải và trạo cử.

2-    Luân phiên, xác định thể trạng nền tảng của tâm thức, không bị cấu nhiễm bởi tư tưởng, trong thể trạng của chính nó – chỉ thuần sự sáng suốt, bản chất hiểu biết của tâm thức. Với chánh niệm và nội quán hãy duy trì trong thể trạng ấy. Nếu một tư tưởng khởi sanh, hãy chỉ nhìn vào chính bản chất của tư tưởng ấy; điều này sẽ làm nó mất đi năng lực của nó và tự tan biến theo ý mình.

 

-*-


IV

 

THỰC HÀNH TUỆ TRÍ


8

THẨM TRA CHÚNG SANH VÀ SỰ VẬT TỒN TẠI NHƯ THẾ NÀO

 

*

 

TỔNG QUAN VỀ TUỆ TRÍ TRONG SỰ THỰC HÀNH TÂM LINH

 

Để phát sinh loại từ ái và bi mẫn đã động viên ta tìm cầu Quả Phật, không phải cho chính ta mà vì lợi ích của người khác, trước tiên ta phải đối diện với đau khổ bằng việc xác định chủng loại của nó. Đây là sự thật cao quý đầu tiên. Từ lúc chúng ta mới sanh ra đến lúc chúng ta lìa đời, chúng ta khổ vì nổi đau tinh thần và thân thể  (khổ khổ), khổ vì thay đổi (hoại khổ), và khổ cùng khắp của những điều kiện không thể kiểm soát (hành khổ). Sự thật cao quý thứ hai và thứ ba đưa chúng ta đến việc thấu hiểu những nguyên nhân của khổ đau và những nguyên nhân ấy có thể loại trừ được không. Nguyên nhân căn bản của khổ đau là si mê – sự lãnh hội sai lầm chúng sanh và sự vật là tồn tại cố hữu. Chương này sẽ cho thấy rằng chúng sanh và đối tượng, trong thực tế, không tồn tại trong cách ấy.

 

Tất cả chúng ta đều có một cảm nhận hợp lý, thích đáng về tự ngã, hay “cái tôi”, nhưng rồi thì chúng ta cũng có một quan niệm sai lầm về “cái tôi” ấy như tồn tại cố hữu. Dưới sự quay cuồng của vọng tưởng này, chúng ta xem tự ngã như tồn tại dưới năng lực của chính nó, được thiết lập bằng bản chất của chính nó, có thể tự nó hình thành. Cảm nhận tồn tại cố hữu này thậm chí có thể rất mạnh đến nổi tự ngã cảm thấy nó độc lập với tâm thức và thân thể. Thí dụ, nếu chúng ta yếu đuối vì bệnh hoạn, thì chúng ta có thể cảm thấy rằng ta có thể chuyển đổi thân thể với ai đó mạnh khỏe hơn. Tương tự thế, khi tâm thức mờ tối, thì ta có thể cảm thấy rằng ta có thể chuyển đổi tâm thức ta với ai đó có tâm thức sắc bén hơn.

 

Tuy nhiên, nếu có có một cái tôi tách rời như thế - tự thiết lập và tồn tại theo đúng nghĩa của nó – thì nó phải trở nên rõ ràng và rõ ràng hơn dưới ánh sáng của sự phân tích thành thạo như là nó tồn tại hoặc là tâm thức hay thân thể, hay sự kết hợp của tâm thức và thân thể, hay khác biệt với tâm thức và thân thể. Trong thực tế, càng quán sát gần gũi hơn, thì càng không thể thấy được. Điều này hóa ra lại là trường hợp của mọi thứ, cho tất cả mọi hiện tượng. Sự kiện rằng chúng ta không thể thấy chúng, có nghĩa rằng những hiện tượng ấy không tồn tại dưới năng lực của chính chúng; chúng không tự hình thành.

 

Lúc nào đó vào khoảng đầu những năm sáu mươi tuổi, khi tôi đang quán chiếu về một đoạn văn của Tông Khách Ba về không có khả năng tìm thấy và sự thật rằng các hiện tượng lệ thuộc vào nhận thức, nó giống như tia chớp trong ngực tôi. Đây là đoạn văn ấy:

 

Một sợi dây màu sắc lốm đốm và cuộn lại giống như một con rắn, và khi cuộn dây ấy được thấy trong một vùng mờ ảo, tư tưởng sinh khởi, “Đây là một con rắn”. Đối với cuộn dây vào lúc khi nó được xem là con rắn, thì cả tập hợp và các bộ phận của cuộn dây thậm chí trong cung cách đơn giản nhất không có gì là [của con] rắn. Do vậy, con rắn ấy chỉ đơn thuần là sự thiết lập của nhận thức khái niệm. Trong cùng cách ấy, khi tư tưởng “cái tôi” sinh khởi trong sự lệ thuộc trên tâm thức và thân thể, không có gì trong tâm thức và thân thể là “cái tôi” thậm chí trong một cung cách đơn giản nhất - cũng không có trong tập hợp vốn là một sự tương tục của những thời khắc trước đó và sau này, cũng không phải là tập hợp của những bộ phận tại một thời điểm, cũng không phải là những bộ phận riêng lẻ với nhau, cũng không phải là sự tương tục của bất cứ những bộ phận riêng lẻ nào – không ngay cả trong một cung cách đơn giản nhất là “cái tôi”. Cũng thế thậm chí không có điều gì đơn giản nhất mà vốn là một thực thể khác biệt với tâm thức và thân thể mà có thể nhận thức được như “cái tôi.” Kết quả, “cái tôi” chỉ đơn thuần là sự thiết lập bởi khái niệm nhận thức tùy thuộc trên tâm thức và thân thể; nó không được hình thành bằng thực thể của riêng nó.

 

Tác động kéo dài trong một lúc, và trong vài tuần tiếp theo, bất cứ khi nào tôi thấy người, thì họ dường như một ảo ảnh của nhà huyển thuật trong ấy họ đã xuất hiện để tồn tại cố hữu nhưng tôi biết rằng thật sự thì không. Kinh nghiệm ấy, như tia chớp trong tâm tôi, có lẻ gần như ở một trình độ dưới sự thực chứng hoàn toàn hợp lý và không thể chối cải được. Đấy là tại sao khi sự thấu hiểu của tôi về sự ngừng dứt các cảm xúc phiền não như một khả năng chân thật trở thành thật sự. Ngày nay, tôi luôn luôn thiền quán về tánh không vào buổi sáng và đem kinh nghiệm ấy vào những hoạt động hàng ngày. Chỉ nghĩ hay nói “tôi” như trong “tôi sẽ làm như vậy như vậy” thường kích thích cảm giác. Tuy nhiên tôi vẫn không thể tự cho là mình đã có một sự thấu hiểu hoàn toàn về tánh không.

 

Một tâm thức nhận thức về sự tồn tại cố hữu không có một nền tảng có hiệu lực. Một tâm thức thông tuệ, đặt nền tảng trên thực tại, thì thấu hiểu chúng sanh hữu tình và những hiện tượng khác – tâm thức, thân thể, nhà cửa, và v.v… không tồn tại một cách cố hữu. Đây là tuệ trí của tánh không. Sự thấu hiểu về thực tại đúng là hoàn toàn đối lập với khái niệm sai lầm về sự tồn tại cố hữu, tuệ trí dần dần vượt thắng si mê.

 

Xóa bỏ si mê vốn hiểu lầm các hiện tượng tồn tại cố hữu và ta ngăn ngừa sự phát sanh những cảm xúc phiền não như tham muốn và thù hận. Vì vậy, hóa ra, đau khổ là có thể xóa bỏ được. Thêm nữa, tuệ trí về tánh không phải được đồng hành với một động cơ quan tâm sâu xa cho người khác (và bởi những hành vi từ bi mà nó truyền cảm hứng) trước khi nó có thể loại trừ những chướng ngại đối với toàn tri toàn giác, vốn là những khuynh hướng cho sự xuất hiện sai lầm của các hiện tượng – ngay cả đối những thức cảm giác – giống như chúng tồn tại một cách cố hữu. Do vậy, sự thực hành tâm linh trọn vẹn yêu cầu việc trau dồi tuệ trí trong sự kết hợp với lòng từ bi lớn và mục tiêu đạt được Giác Ngộ mà trong ấy người khác được coi trọng hơn là chính ta. Chỉ như thế thì tâm thức chúng ta mới được chuyển hóa thành toàn tri toàn giác của một Đức Phật.

 

VÔ NGÃ VỊ THA

 

Việc hành thiền của cả Phật tử và không Phật tử để đạt được an lạc và tiêu trừ đau khổ, và cả trong các hệ thống của Phật giáo và không Phật giáo thì tự ngã là một đối tượng trung tâm của việc quán chiếu kỷ lưỡng. Những người không Phật tử nào đó chấp nhận tái sanh chấp nhận bản chất tạm thời của tâm thức và thân thể nhưng họ tin một tự ngã thường hằng, không thay đổi, không phân chia. Mặc dù những trường phái Phật giáo chấp nhận tái sanh, nhưng không thừa nhận có một tự ngã bất biến như vậy. Đối với người Phật tử, chủ đề chính của việc rèn luyện trong tuệ trí là tánh không hay vô ngã, vốn có nghĩa là sự vắng mặt của một tự ngã thường hằng, không phân chia, và độc lập, hay vi tế hơn, sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu hoặc là ở trong chúng sanh hữu tình hay trong những hiện tượng khác.

 

Hai Chân Lý

 

Để thấu hiểu vô ngã, thì chúng ta cần thấu hiểu rằng mọi thứ vốn tồn tại được chứa trong hai nhóm được gọi là hai chân lý, quy ước (thế đế), cứu kính (chân đế). Mọi hiện tượng mà chúng ta thấy và quán sát chung quanh chúng ta có thể đi từ tốt đến xấu, hay xấu đến tốt, lệ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện đa dạng. Nhiều hiện tượng không thể được nói là tốt hay xấu một cách cố hữu; chúng là tốt hơn hay tệ hơn, cao hay thấp, xinh đẹp hay xấu xí, chỉ bằng sự so sánh, chứ không phải qua bản chất của chính chúng. Bản chất của chúng là tương đối. Từ điều này chúng ta có thể thấy rằng có một sự tương phản giữa cung cách mọi vật hiện hữu và vấn đề chúng thật sự như thế nào. Thí dụ, điều gì đó có thể - trong hình thức của vấn đề nó xuất hiện như thế nào – trông tốt đẹp, nhưng, qua bản chất nội tại của nó là khác nhau, nó có thể biến thành xấu một khi nó bị tác động bởi những điều kiện. Thực phẩm trông rất ngon và đẹp trong một nhà hàng có thể không tiêu hóa tốt trong bao tử của bạn. Đây là một dấu hiệu rõ ràng của một sự khác biệt giữa hiện tướng và thực tại.

 

Những hiện tượng này tự nó được gọi là chân lý quy ước; chúng được biết bởi ý thức không đi xa hơn các hiện tướng. Nhưng cùng những đối tượng có một chế độ bên trong của bản thể, được gọi là một chân lý cứu kính, vốn cho phép những sự thay đổi hình thành bởi những điều kiện. Một ý thức thông tuệ, không hài lòng với những hiện tướng đơn thuần, phân tích để tìm thấy những đối tượng có tồn tại cố hữu như chúng dường như thế hay không mà khám phá việc vắng mặt của sự tồn tại cố hữu; nó thấy một tánh không của sự tồn tại cố hữu vượt khỏi những hiện tướng.

 

Trống Rỗng Thứ Gì?

 

Tánh không, hay vô ngã, chỉ có thể được hiểu nếu chúng ta trước nhất xác định rằng những hiện tượng nào là trống rỗng. Không có sự thấu hiểu điều gì bị phủ định, thì chúng ta không thể thấu hiểu sự vắng mặt của nó, tánh không. Chúng ta có thể nghĩ rằng tánh không có nghĩa là không có gì cả, nhưng không phải thế. Chỉ đơn thuần đọc tụng thì thật khó khăn để xác định và thấu hiểu đối tượng của phủ định, điều mà kinh luận nhà Phật nói như sự thiết lập chân thật hay sự tồn tại cố hữu. Nhưng qua một thời gian nào đó, khi chúng ta bổ sung sự khám phá của chính ta với sự đọc tụng, thì lỗi lầm của cung cách thông thường của chúng ta trong việc nhìn thấy mọi thứ sẽ trở thành rõ ràng và rõ ràng hơn.

 

Đức Phật đã nói nhiều lần rằng bởi vì mọi hiện tượng là duyên khởi tương sanh, cho nên chúng là tương đối – sự tồn tại của chúng lệ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện khác và tùy thuộc vào chính những thành phần của chúng. Một bàn gỗ, thí dụ thế, không tồn tại độc lập, đúng hơn nó tùy tuộc rất lớn vào nhiều những nguyên nhân khác chẳng hạn như cây cối, thợ mộc người làm ra nó, và v.v…; nó cũng lệ thuộc vào những bộ phận của nó. Nếu một bàn bằng gỗ hay bất cứ hiện tượng nào khác thật sự không lệ thuộc – nếu nó được thiết lập trong bản chất của nó – thế thì khi ta phân tích nó, sự tồn tại của nó từ trong bản chất của nó phải trở thành rõ ràng hơn, nhưng không phải như thế. Lý luận của nhà Phật được sự hổ trợ của khoa học. Những nhà vật lý học ngày nay tiếp tục khám phá những thành phần tinh tế và vi tế hơn của vật chất, nhưng họ vẫn không thể thấu hiểu bản chất tận cùng của nó. Việc thấu hiểu tánh không thậm chí còn sâu xa hơn nữa.

 

Càng nhìn vào vấn đề một tâm thức si mê nhận thức các hiện tượng tồn tại như thế nào, thì chúng ta càng thấy rằng các hiện tượng không tồn tại trong cách ấy. Tuy nhiên, càng nhìn vào việc một tâm thức thông tuệ thấu hiểu, thì chúng ta càng đạt được tính quả quyết trong sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu. Tham muốn và sân hận bị thống trị bởi si mê, vì vậy không thể được phát sinh vô hạn.

 

Các Đối Tượng Có Tồn Tại Không?

 

Vì như chúng ta đã xác minh, bất cứ hiện tượng nào khi được tìm kiếm qua phân tích, thì không thể tìm thấy được nó, ta tự hỏi những hiện tượng này có tồn tại chút nào hay không? Tuy nhiên, chúng ta biết từ kinh nghiệm trực tiếp rằng con người và mọi vật làm ra hạnh phúc và khổ đau, và họ có thể giúp đở và gây hại. Do vậy, các hiện tượng thật tồn tại một cách nào đó; câu hỏi là như thế nào. Chúng không tồn tại trong bản chất của chính chúng, nhưng chỉ có một sự tồn tại tùy thuộc trên nhiều nhân tố, kể cả một tâm thức khái niệm hóa chúng.

 

Một khi chúng hiện hữu nhưng không tồn tại trên chính chúng, thì chúng nhất thiết phải tồn tại trong sự lệ thuộc trên sự khái niệm hóa. Tuy nhiên, khi các hiện tượng xuất hiện tới chúng ta, chúng hoàn toàn không xuất hiện giống như chúng tồn tại trong cách này. Đúng hơn, chúng dường như được thiết lập trong bản chất của chính chúng, từ phía của đối tượng, không lệ thuộc trên một tâm thức khái niệm hóa.

 

Khi việc rèn luyện để phát triển tuệ trí, thì chúng ta đang tìm kiếm qua sự phân tích để thấy sự tồn tại cố hữu của bất cứ đối tượng nào mà chúng ta đang quán sát – tự ta, một người khác, thân thể ta, tâm thức ta, hay bất cứ điều gì khác. Chúng ta đang phân tích không chỉ đơn thuần trên hiện tướng mà là bản chất cố hữu của đối tượng. Vì vậy không phải là chúng ta đi đến thấu hiểu rằng đối tượng không tồn tại, đúng hơn, chúng ta thấy rằng sự tồn tại cố hữu của nó là không thể tìm thấy. Sự phân tích không mâu thuẩn với sự tồn tại đơn thuần của đối tượng. Các hiện tượng thật tồn tại, nhưng không phải cách mà chúng ta nghĩ chúng như vậy.

 

Điều còn lại sau sự phân tích là một hiện tượng tồn tại lệ thuộc. Thí dụ, khi chúng ta thẩm tra thân thể chính ta, thì sự tồn tại cố hữu của nó bị phủ định, nhưng điều còn lại là một thân thể lệ thuộc vào đầu, mình, tay, chân.

 

Nếu Mọi Hiện Tượng Là Trống Rỗng. Chúng Có Thể Biểu Hiện Chức Năng Không?

 

Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ về các đối tượng, chúng ta có tin tưởng sai lầm rằng chúng tồn tại trong bản chất của chính chúng không? Không. Chúng ta có thể nhận thức về các đối tượng trong ba phương cách khác nhau. Chúng ta hãy quán sát một cây cối, không có sự phủ định rằng chúng xuất hiện để tồn tại một cách cố hữu, nhưng:

 

1-    Chúng ta có thể nhận thức về cây cối như tồn tại một cách cố hữu trong chính bản chất của chúng.

2-    Chúng ta có thể nhận thức về cây cối như vắng mặt sự tồn tại cố hữu.

3-    Chúng ta có thể nhận thức về cây cối mà không có nghĩ rằng nó tồn tại cố hữu hay không.

 

Chỉ có điều thứ nhất trong ba thứ này là sai lầm. Hai mô thức lãnh hội kia là đúng, thậm chí mô thức của hiện tướng là sai lầm trong thứ hai và thứ ba là sai, trong đó cây cối xuất hiện giống như tồn tại một cách cố hữu.

 

Nếu các đối tượng không tồn tại một cách cố hữu, có nghĩa là chúng không thể biểu hiện chức năng chứ? Chấp nhận vội vàng vào sự kết luận rằng bởi vì bản chất chân thật của các đối tượng là tánh không, do thế chúng không thể biểu hiện các chức năng chẳng hạn như làm sung sướng hay đau khổ, giúp đở hay làm tổn hại, là một sự thấu hiểu sai lầm tệ hại nhất, một quan điểm hư vô. Như học giả du già Ấn Độ Long Thọ trong Tràng Hoa Quý Báu (Bảo Hành Vương Chính Luận) đã nói rằng, một kẻ hư vô chắc chắn sẽ có một sự luân hồi tái sanh tệ hại, trái lại một người tin tưởng, mặc dù sai lầm, trong sự tồn tại cố hữu sẽ đi đến một sự luân hồi tốt đẹp.

 

Cho phép tôi giải thích. Chúng ta cần một sự tin tưởng trong các hậu quả của các hành động để chọn đạo đức trong đời sống của chúng ta và loại bỏ phi đạo đức. Trong thời gian này, một quan điểm vi tế về tánh không của sự tồn tại cố hữu có thể quá khó để chúng ta thấu hiểu mà không bị rơi vào cái bẩy của hư vô chủ nghĩa, chỗ chúng ta có thể thấu hiểu rằng các hiện tượng sinh khởi là lệ thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên sanh). Vì lợi ích của tiến trình tâm linh của chúng ta, tốt hơn là để sang một bên sự cố gắng thâm nhập vào tánh không. Ngay cả nếu chúng ta tin tưởng sai lầm rằng các hiện tượng là tồn tại cố hữu, thì ta vẫn có thể phát triển một sự thấu hiểu về nhân duyên sanh và áp dụng nó vào trong sự thực hành. Đây là tại sao ngay cả Đức Phật, đôi khi, đã dạy rằng chúng sanh hữu tình và những hiện tượng khác tồn tại cố hữu. Những giáo huấn như vậy là tư tưởng của Đức Phật trong kinh điển, nhưng chúng không phải là tư tưởng rốt ráo của ngài (bất liễu nghĩa kinh). Vì những mục tiêu đặc biệt nào đó, đôi khi ngài đã nó trong những cung cách bất liễu nghĩa.

 

Tâm Thức Sai Lầm Trong Cung Cách Nào?

 

Vì tất cả mọi hiện tượng xuất hiện để tồn tại trong bản chất của chính chúng, cho nên tất cả những nhận thức thông thường của chúng ta đều sai lầm. Chỉ khi tánh không được thực chứng một cách trực tiếp hoàn toàn qua thiền tập trung (chỉ) thì mới không có hiện tướng sai lầm. Vào lúc ấy, tính nhị nguyên của chủ thể và đối tượng đã biến mất. Sau khi ta xuất thiền ấy, một lần nữa chúng sanh và các đối tượng xuất hiện để tồn tại một cách sai lầm trong và tự chính chúng nhưng qua năng lực đã thực chứng về tánh không, thì ta sẽ không nhận ra sự khác biệt giữa hiện tướng và thực tại. Qua việc hành thiền chúng ta khám phá ra cả mô thức sai lầm của hiện tướng và mô thức sai lầm của việc lãnh hội.

 

*

 

Chúng ta hãy trở lại điểm trung tâm. Tất cả chúng ta có một cảm giác về “cái tôi” nhưng chúng ta cần nhận ra rằng nó chỉ được mệnh danh trong sự tùy thuộc vào tâm thức và thân thể. Tính vô ngã mà Phật giáo nói đến liên hệ đến sự vắng mặt của một tự ngã vốn thường hằng, không có phần tử, và độc lập, hay, một cách vi tế hơn thì nó có thể liên hệ đến sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu của bất cứ hiện tượng nào. Tuy nhiên, người Phật tử thật coi trọng sự tồn tại của một tự ngã thay đổi từ thời khắc này đến thời khắc khác được gọi tên trong sự phụ thuộc vào việc tương tục của tâm thức và thân thể. Tất cả chúng ta chắc chắn có một cảm nhận về “cái tôi”, khi nhà Phật nói về giáo lý vô ngã, chúng ta không liên hệ đến sự không tồn tại của tự ngã này. Với “cái tôi” này, tất cả chúng ta đúng là muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Khi chúng ta thổi phồng cảm nhận của chúng ta về chính chúng ta và những hiện tượng khác có nghĩa là điều gì đó tồn tại cố hữu thì chúng ta bị lôi kéo vào nhiều nhiều rắc rối.

 

*

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HẰNG NGÀY

 

Như một thực hành trong việc xác định vấn đề chủ thể và đối tượng xuất hiện một cách sai lầm như thế nào, hãy cố gắng theo những điều sau đây:

 

1-    Hãy quán sát vấn đề một món chẳng hạn như một đồng hồ đeo tay xuất hiện trong một cửa hàng khi ta chú ý lần đầu tiên, rồi thì hiện tướng của nó thay đổi như thế nào và trở thành thậm chí cụ thể hơn khi ta trở thành thích thú hơn trong nó, và cuối cùng nó xuất hiện thế nào sau khi ta đã mua nó và xem nó là của ta.

2-    Quán chiếu vấn đề chính ta xuất hiện thế nào trong tâm thức ta giống như nó tồn tại cố hữu. Sau đó quán chiếu vấn đề người khác và thân thể của họ xuất hiện thế nào trong tâm thức ta.

 

*


9

TRUNG ĐẠO

 

 

*

 

NHU CẦU CHO CẢ ĐỊNH VÀ TUỆ

 

Kinh luận của Phật giáo nói với chúng ta rằng trên việc thực chứng tánh không, vọng tưởng về sự tồn tại cố  hữu yếu đi, nhưng điều này không phải như sau một sự thực chứng đơn lẻ, ngắn gọn. Nếu ta chưa đạt được nhất tâm (Định lực của tâm thức), thì ta không thể sử dụng chỉ sự thấu hiểu về tánh không để nhổ gốc rể của vọng tưởng về sự tồn tại cố hữu. Đúng hơn, chúng ta cần dấn thân trong việc phân tích hết lần này đến lần khác; qua thiền chỉ, thì tâm thức chúng ta sẽ trở thành mạnh mẽ, sâu sắc, ổn định, và có thể tập trung nhất tâm vào tánh không – vốn dần dần hoạt động để loại bỏ những trình độ thô của nhận thức sai lầm về thực tại.

 

Đây là lý do tại sao kinh điển của Đức Phật cũng như ba bộ Tantra thấp nói rằng định lực (thiền tập trung – chỉ) là một điều kiện tiên quyết cho tuệ giác (sự hiểu biết sâu sắc - quán). Thiền chỉ được sử dụng trong định và thiền quán được sử dụng trong tuệ không bị phân biệt bởi các đối tượng của việc hành thiền; cả hai có thể có hoặc là tánh không hay các hiện tượng quy ước như sự tập trung của chúng. Khác biệt là sự quán sát tánh không từ một thể trạng định đòi hỏi thân thể và tinh thần uyển chuyển sinh ra qua thiền chỉ, trái lại tuệ quán sát tánh không liên hệ thân thể và tinh thần uyển chuyển sinh ra bởi thiền quán với bổ sung liên hệ với tánh không. Mức độ đó của sự uyển chuyển chỉ có thể đạt được sau khi thành tựu trình độ dễ hơn của uyển chuyển được phát sinh từ thiền chỉ. Do vậy, chúng ta cần thành tựu thiền chỉ (Định lực) trước tuệ giác (thiền quán)

 

Mặc dù định lực có thể đạt được qua việc lấy tánh không như đối tượng của nó, nhưng điều này chỉ dành cho những hành giả đã thấu hiểu về tánh không. Tuy nhiên, thông thường những hành giả trước đã đạt được nhất tâm thiền và sau đó có được quan điểm về tánh không thông qua sự phân tích lý luận.

 

NHU CẦU VỀ LÝ LUẬN

 

Tất cả những trường phái của Phật giáo đều đồng ý rằng tiến trình phân tích lý luận vốn dẫn tới một sự kết luận (một sự thực chứng khái niệm nhận thức) phát sinh từ nhận thức căn bản, chia sẻ, trực tiếp. Như một thí dụ để chúng ta xem xét lý luận sau đây:

 

Một cây cỏ không có sự tồn tại cố hữu do bởi nó là một thứ duyên sanh.

 

Chúng ta bắt đầu bởi việc quán chiếu trên sự kiện rằng một cây cỏ là một phép duyên sanh bởi vì sự sản sinh của nó lệ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện nào đó (chẳng hạn như hạt giống, đất phân, ánh sáng mặt trời, và nước), nhưng cuối cùng tiến trình lý luận phải được hổ trợ bằng một nhận thức trực tiếp, hay nó không thể đứng vững. Chúng ta có thể thấy với đôi mắt chúng ta rằng cây cỏ thay đổi; chúng lớn lên, trưởng thành, và cuối cùng khô héo. Trong cảm nhận này, sự suy luận là mù quáng, vì cuối cùng nó phải dựa vào một nhận thức trực tiếp. Sự kết luận tùy thuộc vào lý trí, là thứ vốn hóa ra dựa vào kinh nghiệm căn bản, chia sẻ, không thể chối cải thông qua nhận thức trực tiếp.

 

Những đối tượng có thể biết được có thể được chia thành thứ rõ ràng, hơi mơ hồ, và rất mơ hồ. Nhằm để thấu hiểu một chủ đề rất mơ hồ thì nhất thiết phải dựa trên kinh điển, nhưng ngay cả cho loại liên hệ này thì cũng không đầy đủ khi chỉ trích dẫn một kinh điển như giá trị cho một vấn đề. Chúng ta phải phân tích hoặc là:

 

1-    Có bất cứ mâu thuẩn nội tại nào không trong kinh điển cho chủ đề ấy.

2-    Có bất cứ sự mâu thuẩn nào giữa những gì kinh điển nói về chủ đề ấy và những gì là chứng cứ trong nhận thức trực tiếp.

3-    Có bất cứ mâu thuẩn nào giữa những gì kinh điển nói về chủ đề ấy và những gì có thể thấu hiểu qua suy luận cơ bản, xuất phát từ lý trí.

 

Cho nên ngay cả trong những trường hợp rất mơ hồ này được căn cứ trên kinh điển, phân tích thì cần thiết.

 

Đức Phật đã đặt ra bốn bước cho việc thiết lập sự tin cậy:

 

1-    Không dựa vào con người mà chỉ dựa vào giáo điển (y pháp bất y nhân).

2-    Với việc liên hệ giáo điển, không chỉ dựa vào mặt chữ mà phải dựa vào ý nghĩa (y nghĩa bất y ngữ).

3-    Với việc liên hệ ý nghĩa, không chỉ dựa vào ý nghĩa diễn giải tùy cơ mà phải dựa vào ý nghĩa rốt ráo (y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa).

4-    Với việc liên hệ với ý nghĩa rốt ráo, không chỉ liên hệ vào sự thấu hiểu nhị nguyên mà phải dựa vào tuệ trí nhận thức trực tiếp lẽ thật (y trí bất y thức).

 

Đức Phật cũng đã nói:

 

Giống như vàng, được thử qua việc nung, cắt, và nghiền,

Lời của ta phải được tiếp nhận bởi những hành giả và học giả

Qua việc phân tích nó một cách trọn vẹn,

Chứ không phải vì sự tôn kính [đối với ta].

 

Trong tiến trình của lý luận, thật rất hiệu quả để tuyên bố những hậu quả vô lý của những quan điểm sai lầm nhằm để vượt thắng hiệu lực của ý tưởng sai lầm ấy, và rồi thực hiện một xác nhận chứng cứ. Khi tôi đang học về luận lý học (logic) như một người trẻ tuổi, một học giả một lần đã nói với tôi rằng, cả trong tranh luận (với một Phật tử thừa nhận sự tồn tại cố  hữu) và trong việc hành thiền phân tích của chính ngài, thì nên sử dụng hệ thống tam đoạn luận một cách uyển chuyển chẳng hạn như “Thân thể tôi không tồn tại cố hữu vì nó là một sự duyên sanh.” Tuy nhiên, sẽ tác động hơn để sử dụng một hệ quả vô lý chẳng hạn như “Vì như thân thể tôi không là một sự duyên sanh bởi vì nó tồn tại cố hữu,” vì nó là nền tảng của Phật giáo rằng tất cả mọi hiện tượng là duyên sanh.

 

TÍNH TƯƠNG HỢP CỦA DUYÊN SANH

 

Chính tự Đức Phật, trong việc thiết lập kinh điển, và Long Thọ cùng với những đứa con tinh thần của ngài – Thánh Thiên, Phật Hộ, và Nguyệt Xứng – trong việc luận giải về ý nghĩa của những kinh điển này, đã sử dụng sự kiện rằng các hiện tượng là duyên sanh như một kết luận cuối cùng cho việc thiết lập tánh không. Điều này cho thấy rằng các  hiện tượng trong tổng quát không phải không tồn tại và các hiện tượng vô thường là thích hợp cho việc thể hiện các chức năng.

 

Khi Đức Phật giảng về Bốn Chân Lý Cao Quý, thứ nhất là xác định sự thật về khổ đau, các nguồn gốc, những sự chấm dứt, và các con đường tu tập, và rồi nói:

 

Khổ được nhận ra, nhưng không có gì bị nhận ra. Tập, các cội nguồn của khổ đau bị từ bỏ, nhưng không có gì bị từ bỏ. Diệt, sự chấm dứt được hiện thực, nhưng không có gì được hiện thực. Đạo, con đường tu tập được hành thiền, nhưng không có gì để hành thiền.

 

Ý nghĩa của điều này là mặc dù có những nhân tố trong Bốn Chân Lý Cao Quý là lẽ thật quy ước (và có căn cứ của thế đế) được nhận ra, từ bỏ, hiện thực, và tu tập, nhưng không có gì được nhận ra, từ bỏ, hiện thực, và tu tập một cách rốt ráo. Theo quan điểm của chân lý rốt ráo (chân đế), tất cả những thứ này là vượt khỏi tạo tác; mọi thứ có cùng hương vị trong tánh không của sự tồn tại cố hữu. Trong cách này, Đức Phật đã thiết lập các quan điểm về hai sự thật (nhị đế) – quy ước (thế đế) và rốt ráo (chân đế).

 

Tất cả mọi hiện tượng – các nguyên nhân và hệ quả, hành động và người hành động, tốt và xấu, và v.v… - chỉ đơn thuần tồn tại một cách quy ước, chỉ là sự tồn tại trên danh nghĩa; chúng là duyên sanh. Bởi vì các hiện tượng lệ thuộc trên những nhân tố khác cho sự tồn tại của chúng, cho nên chúng không độc lập. Đây là sự vắng mặt của độc lập – hay tánh không của sự tồn tại cố hữu – là chân lý tối hậu của chính chúng. Chúng ta sẽ đi đến thấu hiểu tánh không chân thật này của sự tồn tại cố hữu khi chúng ta trở thành không hài lòng với những hiện tướng đơn thuần và chúng ta sẽ sử dụng sự phân tích để thăm dò bên dưới [bề mặt của hiện tượng].

 

Khi chúng ta hoàn toàn thấu hiểu hiện tướng và tánh không, thì ta cũng sẽ thấu hiểu rằng chúng ở trong sự hòa hiệp với nhau. Hiện tướng không phá vở tánh không, và tánh không không phá vở hiện tướng. Không thông hiểu điều này thì ta có thể tin tưởng trong đạo đức, không đạo đức, nhân và quả, và v.v…, nhưng sau đó không thể tin tưởng tánh không. Tương tự thế, chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta thông hiểu tánh không, nhưng rồi thì không thể tin tưởng trong những sự kiện của nhân và quả - hổ trợ hay tổn hại, vui sướng và đau khổ - vốn sinh khởi lệ thuộc trên những điều kiện. Không có sự thấu hiểu thích đáng, thì tánh không và hiện tướng dường như ngăn trở nhau.

 

Tuy nhiên, các hiện tượng thì trống rỗng sự tồn tại cố hữu bởi vì chúng lệ thuộc cho sự tồn tại của chúng trên những điều kiện khác. Ngược lại, các hiện tượng có thể biểu hiện chức năng bởi vì sự tồn tại cố hữu của chúng thì trống rỗng tính vững chắc. Nếu các hiện tượng không trống rỗng sự tồn tại cố hữu, nếu chúng thật tồn tại bởi năng lực của chính chúng, thế thì chúng không thể bị tác động bởi những nguyên nhân và điều kiện khác – chúng không thể thay đổi. Trong trường hợp ấy, chúng sẽ không thể tạo ra sung sướng hay đau khổ, giúp đở hay làm tổn hại. Tốt và xấu sẽ là không thể.

 

Sự thực chứng hoàn toàn duyên sanh sẽ đem theo nó sự thông hiểu gấp đôi về hiện tướng và tánh không của sự tồn tại cố hữu. Những cực đoan của sự hoàn toàn không hiện hữu và tồn tại cố hữu đồng thời bị tan biến mất bởi sự thấu hiểu cặp đôi này. Việc thông hiểu các hiện tượng sinh khởi ngăn ngừa sự tin tưởng trong cực đoan hư vô  bằng việc cho phép các đối tượng và  chúng sanh thể hiện chức năng trong thế giới này – cho phép nguyên nhân và hệ quả của nghiệp. Việc biết rằng các hiện tượng là phụ thuộc cũng ngăn ngừa việc tin tưởng trong cực đoan của sự tồn tại cố hữu bằng sự loại trừ việc cho rằng các hiện tượng tồn tại trong bản chất của chính chúng. Qua việc thông hiểu hai chân lý này, chúng ta đi đến trung đạo.

 

Bát Nhã Tâm Kinh

 

Mối liên hệ giữa các đối tượng và tánh không của chúng là gì? Chủ đề thậm thâm này được diễn tả trong tuệ trí hoàn thiện (Bát Nhã), được gọi là Tâm Kinh, vốn được trì tụng và quán chiếu hàng ngày khắp các nước Đại thừa Phật giáo, chẳng hạn như Trung Hoa, Nhật Bổn, Đại Hàn, Mông Cổ, và Việt Nam. Đây là một trình bày ngắn gọn và súc tích của Đức Phật về việc tuệ trí được đòi hỏi để chiến thắng các vấn nạn và gốc rễ của chúng và – trong sự kết hợp với một động cơ trực tiếp khác và những hành động từ bi – để thành tựu sự toàn tri toàn giác của một Đức Phật. Đây là toàn bộ Tâm Kinh:

 

Kính lễ sự chiến thắng hoàn thiện siêu việt của tuệ trí.

 

Đây là những điều tôi đã nghe: Vào một thời, Đấng Chiến Thắng Siêu Việt đang cư ngụ cùng với đại chúng tu sĩ và đại chúng Bồ tát trên núi Linh Thứu ở thành Vương Xá. Vào lúc ấy Đấng Chiến Thắng Siêu Việt đang nhập đại định làm minh bạch các hiện tượng được gọi là “trực giác thậm thâm”. Cùng lúc ấy, Đại sĩ Bồ tát, Quán Tự Tại Thượng nhân, cũng đang quán sát sự thực hành tuệ trí hoàn thiện thậm thâm và đang quán chiếu những tập hợp này (sắc, thọ, tưởng, hành, thức[3]) như trống rỗng sự tồn tại cố hữu, không hơn không kém.

 

Sau đó, qua năng lực của Đức Phật, tôn giả Xá Lợi Phất nói với Đại sĩ Bồ tát, Quán Tự Tại Thượng nhân:

 

Một người con của dòng dõi hoàn hảo – người mong ước thực hành tuệ trí thậm thâm – phải tu tập như thế nào?

 

Đại sĩ Bồ tát, Quán Tự Tại Thượng nhân, trả lời với Xá Lợi Phất:

 

Này Xá Lợi Phất, những người con trai và con gái của dòng dõi hoàn hảo, những người mong muốn thực hành tuệ trí thậm thâm hoàn thiện nên quán chiếu [những hiện tượng] như sau. Họ nên quán chiếu một cách đúng đắn và triệt để năm tập họp uẩn này như trống rỗng sự tồn tại cố hữu, không hơn không kém. Sắc là tánh không, tánh không là sắc. Tánh không không khác sắc; sắc không khác tánh không. Tương tự thế, thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều trống rỗng.

 

Này Xá Lợi Phất, trong cách ấy tất cả mọi hiện tượng là trống rỗng – không đặc trưng, không sanh, không diệt, không nhiễm ô, không tách rời khỏi nhiễm ô, không giảm, không tăng. Do thế, này Xá Lợi Phất, trong tánh không không sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức, không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không thân, không tâm, không sắc, không thanh, không hương, không vị, không đối tượng có thể chạm, không những hiện tượng [khác]. Trong tánh không không có thành phần của mắt hoàn toàn đến không thành phần của tinh thần và hoàn toàn đến không thành phần của ý thức. Trong tánh không không có vô minh và không sự diệt tận của vô minh hoàn toàn đến không sự diệt tận của già và chết. Tương tự thế, trong tánh không không khổ, tập, diệt, đạo; không tuệ trí cao thượng, không thành tựu và cũng không có không thành tựu.

 

Do vậy, này Xá Lợi Phất, vì chư vị Bồ tát, những bậc đại nhân, không có thành tựu, họ nương tựa và an trú trong tuệ trí hoàn thiện thậm thâm này. Tâm các ngài không chướng ngại, và không sợ hãi; đã hoàn toàn vượt qua tri kiến sai lầm, các ngài đi đến niết bàn rốt ráo. Ngay cả tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai trở thành tỉnh thức một cách hiển nhiên, hoàn toàn trong sự Giác Ngộ vô thượng, hoàn toàn, hoàn thiện cũng dựa vào tuệ trí thậm thâm hoàn thiện này.

 

Do thế, chân ngôn của tuệ trí hoàn thiện là chân ngôn của đại tri thức, chân ngôn vô thượng, chân ngôn vô song, chân ngôn tận diệt mọi đau khổ. Chân ngôn được biết rằng vì nó không sai, nó là đúng đắn. Tuyên thuyết chân ngôn của tuệ trí hoàn thiện:

 

Thật sự là như vậy, tiến tới, tiến tới, tiến vượt tới, tiến vượt tới triệt để, thành tựu Giác Ngộ.

Tadyata gate gate paragate parasamgate bodhi svaha.

 

Trong cách ấy, này Xá Lợi Phất, Bồ tát đại nhân nên tu tập trong tuệ trí hoàn thiện thậm thâm.

 

Sau đó, Đấng Chiến Thắng Siêu Việt xuất định và nói với đại sĩ Bồ tát, Quán Tự Tại thượng nhân:

 

Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm. Những người con của dòng dõi hoàn hão, là như vậy, là như vậy. Đúng như lời ông trình bày, tuệ trí hoàn thiện thậm thâm nên được thực hành. Ngay cả những Đức Thế Tôn cũng ca ngợi việc này.

 

Đấng Chiến Thắng Siêu Việt đã tuyên bố điều này, tôn giả Xá Lợi Phất, đại sĩ Bồ tát Quán Tự Tại, tất cả chúng hội chung quanh, và các chúng sanh – kể cả các hàng trời, người, a tu la, và chúng hương thực – cũng ngưỡng mộ và ca ngợi về điều Đấng Chiến Thắng Siêu Việt đã nói.

 

Sắc Và Tánh Không

 

Rút ra từ một truyền thống lâu dài của những luận giải Ấn Độ và Tây Tạng về Bát Nhã Tâm Kinh tôi sẽ đưa ra một vấn đề để suy nghĩ về đoạn văn trung tâm của nó: “Sắc là tánh không; tánh không là sắc. Sắc không khác tánh không; tánh không không khác sắc.” Sự trình bày súc tích, mạnh mẽ này chứa đựng nhiều ý nghĩa:

 

1-    Tất cả mọi người và mọi vật lệ thuộc trên các nguyên nhân của chúng và trên những bộ phận của chúng và không thể tồn tại một cách độc lập khỏi chúng. Chúng là duyên sanh; do vậy chúng thì trống rỗng sự tồn tại cố hữu. Vì tất cả mọi hiện tượng là duyên sanh lệ thuộc, cho nên chúng có một bản chất tánh không.

2-    Ngược lại, khi chúng sanh và mọi vật không có sự độc lập hay bản chất cố hữu, thì chúng phải dựa vào những nhân tố khác. Chúng phải là duyên sanh lệ thuộc.

3-    Tánh không của các sắc tướng không tách rời khỏi sắc tướng. Tự chính các sắc tướng, vốn được sanh xuất và hoại diệt qua sự hiện diện của những điều kiện, thì bản chất của chúng là trống rỗng sự tồn tại cố hữu.

4-    Việc vắng mặt sự tồn tại cố hữu này là thực tại rốt ráo của chúng, mô thức không thay đổi của chúng, mô thức tồn tại tối hậu của chúng.

5-    Tóm lại, sự hình thành và hoại diệt, tăng và giảm, và v.v… của các sắc tướng là có thể vì các sắc tướng là trống rỗng sự hiện hữu tự lực. Các hiện tượng chẳng hạn như các sắc tướng được nói là hé nở từ trong phạm vi tự nhiên của tánh không.

 

Kết quả, Bát Nhã Tâm Kinh nói, “Sắc là tánh không, tánh không là sắc; sắc không khác tánh không, tánh không không khác sắc.” Trong cách này, tánh không và duyên sanh tương khởi được cho thấy là hòa hiệp.

 

Tóm lại, các sắc tướng không phải trống rỗng do bởi tánh không, chính tự các sắc tướng là trống rỗng. Tánh không không có nghĩa là một hiện tượng là trống rỗng khi là một đối tượng nào khác nhưng rằng tự chính nó là trống rỗng sự tồn tại cố hữu. Rằng một sắc tướng là tánh không nghĩa là bản chất rốt cùng của một sắc tướng là vắng mặt tự nhiên của sự tồn tại cố hữu của chính nó, bởi vì các sắc tướng là duyên sanh tương khởi, cho nên chúng là trống rỗng một thực thể độc lập tự lực. Tánh không ấy là sắc tướng nghĩa là sự thiếu vắng bản chất của sự tồn tại cố hữu – vốn là sự vắng mặt của một nguyên tắc tự lực – làm cho các sắc tướng có thể là các sắc tướng vốn là biến dị của nó hay vốn được thiết lập từ nó trong sự lệ thuộc trên những điều kiện. Vì các sắc tướng là những cơ sở của tánh không, cho nên tánh không là sắc; các sắc tướng xuất hiện như những sự phản chiếu của tánh không.

 

Trong kinh nghiệm của tôi thì thật dễ dàng để thấu hiểu rằng vì mọi thứ là duyên sanh cho nên chúng trống rỗng sự tồn tại cố hữu hơn là thấu hiểu rằng vì mọi thứ là trống rỗng, cho nên chúng phải là duyên sanh. Mặc dù, một cách trí tuệ, tôi biết điều sau rất rõ, nhưng kinh nghiệm về trình độ của cảm nhận là khó khăn hơn. Ngày nay, tôi thường phản chiếu về một thông điệp của Long Thọ trong Tràng Hoa Quý Báu (Bảo Hành Vương Chính Luận):

 

Một con người không phải đất, không phải nước,

Không phải lửa, không phải gió, không phải không gian.

Không phải thức, không phải các thứ ấy,

Người nào ở đấy khác hơn những thứ này?

 

Trước nhất ngài xem những yếu tố vật lý của thân thể - đất (những thứ cứng), nước (chất lõng), lửa (hơi nóng), gió (không khí), và không gian (khoảng không chẳng hạn như cổ họng) – có thể là tự ngã. Tiếp theo ngài thẩm tra thức. Sau đó ngài xem tập họp của tất cả những thứ này có phải là tự ngã không. Cuối cùng, ngài hỏi một cách hùng biện rằng tự ngã có phải khác hơn những thứ này không. Không có cách nào trong đây mà có thể tìm ra tự ngã.

 

Rồi thì Long Thọ không lập tức đưa ra kết luận là tự ngã không thật. Đúng hơn, ngay sau thi kệ ấy, ngài nói rằng tự ngã không phải không tồn tại nhưng là duyên sanh vốn là được thiết lập trên sáu thành phần được nói ở trên (đất, nước, gió, lửa, không, và thức). Sau đó, trên căn cứ trên sự kiện lệ thuộc này, ngài đưa ra kết luận rằng tự ngã là không thật:

 

Qua hiện hữu [được thiết lập lệ thuộc trên] một hợp chất của sáu thành phần.

Một con người là không thật.

 

Ở đây, “không thật” không chỉ có nghĩa là tự ngã không thể tìm thấy được khi tìm kiếm trong hay riêng rẻ từ sáu thành phần. Long Thọ đang đưa ra vấn đề rằng mặc dù tâm thức nhận ra tánh không của sự tồn tại cố hữu thấy chỉ là sự vắng mặt đơn thuần, nhưng tâm thức ấy thúc đẩy một sự thấu hiểu rằng tự ngã là một thứ duyên sanh. Tôi cảm thấy rằng cung cách ngài trình bày điều này là tác động trọn vẹn, tránh cả cực đoan chấp rằng tự ngã tồn tại một cách cố hữu và cực đoan chấp rằng tự ngã hoàn toàn không tồn tại.

 

Giống hai mặt của một bàn tay, khi nhìn vào một cách bằng việc thẩm tra bản chất sâu thẩm của nó, có tánh không của sự tồn tại cố hữu, nhưng khi nhìn từ mặt kia, có hiện tướng của chính một hiện tượng. Chúng là một thực thể. Do vậy, sắc là tánh không, và tánh không là sắc.

 

Chúng ta phải có thể thấu hiểu rằng giá trị của tánh không cũng là ý nghĩa của duyên sanh. Chúng liên hệ một cách sâu sắc. Khi tuệ quán vào tánh không của ta lớn mạnh rõ ràng hơn, thì ta sẽ càng ngày càng thấy rằng các đối tượng lệ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện và trên những thành phần của nó hơn, và chúng mang đến vui sướng và khổ đau vì chúng không tồn tại một cách cố hữu. Nếu chúng ta đi đến cảm nhận rằng mọi thứ là vô dụng bởi vì chúng là trống rỗng, thì ta đang lầm lỗi tánh không với chủ nghĩa hư vô. Một sự thấu hiểu đúng đắn tánh không có nghĩa là việc nhận ra vấn đề chúng ta phải dựa trên nguyên nhân và hệ quả như thế nào. Sự thấu hiểu tất nhiên và trọn vẹn tánh không có nghĩa là một sự thấu hiểu thậm thâm về sự liên kết của hiện tướng và tánh không.

 

*

 

Sự thấu hiểu tánh không là vô cùng to lớn, có phải không? Nó có thể phục vụ như một sự đối trị với nhận thức sai lầm về sự tồn tại cố hữu và tuy thế trong chính nó nó cũng hổ trợ trong một sự thấu hiểu rộng lớn hơn về nguyên nhân và hệ quả. Đó là một sự thấu hiểu thật sự về tánh không. Thật không thể giải thích giá trị của sự thực chứng về tánh không trong phạm vi của việc chỉ nghe và đọc một giải thích. Nó là điều gì đó mà ta phải làm việc trải qua một thời gian dài cùng với việc thực tập đạo đức – tránh việc làm tổn hại và mở rộng từ bi – và qua việc thỉnh cầu chư Phật, chư Bồ tát, và những bậc thầy khác hổ trợ trong việc vượt thắng các chướng ngại. Chúng ta cần nhiều nguyên nhân tích cực.

 

*

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

Thường xuyên phản chiếu trên vấn đề các hiện tượng sinh khởi trong việc lệ thuộc các nguyên nhân và điều kiện như thế nào, và hãy cố gắng để thấy vấn đề điều này tương phản với cung cách mà con người và sự vật xuất hiện là thật thuần nhất như thế nào, để tồn tại trong bản chất của chính chúng, để tồn tại một cách cố  hữu. Nếu ta thiên về chủ nghĩa hư vô, thì hãy phản chiếu hơn về duyên sanh. Nếu, bằng việc tập trung vào các nguyên nhân và điều kiện, ta nghiêng về việc củng cố  sự tồn tại cố hữu của các hiện tượng, thế thì hãy đặt nhấn mạnh hơn về vấn đề sự lệ thuộc tương phản với hiện tướng thật thuần nhất này. Chúng ta chắc chắn sẽ được kéo ra khỏi một phía đến phía kia; trung đạo chân thật phải cần thời gian để thấy.

 

*


10

 

TÂM THỨC VÀ BẢN CHẤT SÂU THẨM CỦA TÂM THỨC

 

*

 

Trong một kinh về tuệ trí hoàn thiện (bát nhã), Đức Phật đã đưa ra tuyên bố thậm thâm như sau:

 

Trong tâm, tâm không tìm thấy được, bản chất của tâm là linh quang.

 

Để thấu hiểu những trình độ ý nghĩa của trong tuyên bố này, chúng ta phải xác định tâm là gì, hãy phản tích bản chất sâu xa của nó, và khảo sát vấn đề những ảnh hưởng tốt và xấu của nó xảy ra như thế nào? Chúng ta hãy thẩm tra những thành phần khác nhau của tuyên bố này.

 

1-    Cụm từ “trong tâm” được quan tâm với tâm là gì – bản chất rực sáng và hiểu biết của nó. Trong chương Bảy, về thiền tập trung, chúng ta đã nói về bản chất rực sáng và hiểu biết của tâm và vấn đề, mặc dù nó tồn tại khắp mỗi thời khắc của tâm, nhưng nhất thiết phải đặt một bên những tư tưởng trước đó và không bắt đầu những thứ mới nhằm để xác định nó.

2-    Khi Đức Phật nói “tâm không thể tìm thấy,” điều này biểu thị rằng bản chất rực sáng và hiểu biết không phải là tính chất sâu xa nhất và cuối cùng của tâm. Đúng hơn, bản chất tận cùng của tâm là “linh quang”, tánh không của sự tồn tại cố hữu của nó.

 

Chúng ta có thể nghĩ là Đức Phật đang nói rằng tâm không tồn tại, nhưng không phải như vậy. Tôi, như người giải thích, đang giải thích tuyên bố này qua những việc làm của chính tâm thức tôi, và bạn, những người đọc, đang đọc bằng những việc làm của tâm thức bạn. Chúng ta luôn luôn đang sử dụng tâm thức, và nó luôn luôn bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta không biết nó nhiều. Vì vậy, mặc dù thật khó để nhận ra tâm, nhưng nó tồn tại và đang được phân tích về phần bản chất sâu thẩm của chính nó.

 

Rõ ràng là tâm tồn tại, nhưng vì nó không được thiết lập như bản chất rốt cùng và xu hướng căn bản của nó, vậy thì mô hình hiện hữu của nó là gì? Bản chất sâu xa của nó chỉ là tánh không đơn thuần của chính sự tồn tại cố hữu của nó. Điều này có nghĩa là những phiền não làm nhiễm ô tâm thức – chẳng hạn như sân hận, tham muốn và thù oán – là tạm thời, và do vậy có thể tách rời khỏi tâm. Một khi những phiền não này được thấu hiểu là cạn cợt và không ở trong bản chất cốt lõi của tâm, thì chúng ta sẽ thấy rằng bản chất sâu thẩm của tâm là linh quang, tánh không.

 

PHIỀN NÃO LÀ NÔNG CẠN, BẢN CHẤT CỦA TÂM LÀ LINH QUANG

 

Kinh điển Phật giáo giải thích những cách khác nhau về tuyên bố, “Phiền não là nông cạn, bản chất của tâm là linh quang.” Tuy thế, đây không phải là một vấn đề mà lời của Đức Phật nói về điều gì đó mơ hồ để ai muốn diễn dịch thế nào cũng được. Đúng hơn, nó có nhiều ý nghĩa rõ ràng và ẩn tàng. Trong Tantra Yoga Tối Thượng có nhiều cách để rút ra ý nghĩa của một tuyên bố khó hiểu. Chúng ta có thể giải thích nghĩa đen của nó, ý nghĩa tổng quát của nó, ý nghĩa ẩn tàng của nó, và ý nghĩa tối hậu của nó.

 

Để làm minh bạch lời tuyên bố của Đức Phật, “Phiền não là nông cạn, bản chất của tâm là linh quang,” trong việc phối hợp với mật thừa Tantra, tôi sẽ trích dẫn Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông[4] vốn có một đoạn trong Trì Tụng Những Danh Tự Của Văn Thù Sư Lợi Mật Tông[5]:

 

Những Đức Phật hoàn thiện sinh khởi từ A.

A là tuyệt đỉnh của những mẫu tự.

 

Từ trong bốn ý nghĩa được liệt kê ở trên, tôi sẽ cho một sự giải thích tổng quát về tuyên bố này. Mẫu tự A là một từ phủ định[6] trong Sanskrit. Nó biểu thị tánh không, vốn là sự vắng mặt, hay phủ định, của sự tồn tại cố hữu. Khi Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông nói rằng “Những Đức Phật hoàn thiện sinh khởi từ A”, điều này có nghĩa rằng hiện ra từ trong không gian tự thể[7] của tánh không; hay; đặt vào một cách khác, chư Phật hiện ra từ thiền na tánh không của sự tồn tại cố hữu. Qua việc hành thiền, các phiền não được tiêu trừ trong không gian tự thể của thực tại (tánh không của sự tồn tại cố hữu). Tánh không, biểu tượng bằng A, là chủ đề tối thượng và do thế Danh Sách Huyền Thuật Mật Tông nói, “A là tuyệt đỉnh của những mẫu tự.”

 

Cũng thế, từ quan điểm của Tantra Yoga Tối Thượng, mẫu tự A liên  hệ hạt không thể phá hoại trong thân Phật thành tựu. Trong Tantra Yoga Tối Thượng, Quả Phật sinh khởi bởi tập trung nhất tâm trên hạt không thể phá hoại tại trung tâm của tim. Thân tối hậu của một Đức Phật có bản chất của hạt không thể phá hoại. Điều này bổ sung cho sự thấu hiểu của chúng ta về tuyên bố rằng chư Phật hoàn thiện sinh khởi từ mẫu tự A.

 

Hạt không thế phá hoại[8] là gì?  Nó là sự phối hợp của gió rất vi tế và tâm rất vi tế. Tâm biết những đối tượng, trái lại gió, hay năng lượng nội tại, làm thức liên kết các đối tượng. Vì đây là trường hợp, với một phối hợp của gió và tâm cho nên có những sự thay đổi trong thức.

 

TÂM VÔ THỈ

 

Thức là phi vật chất. Nó không màu sắc hay hình thể hay phẩm chất chướng ngại những thứ vật chất. Thực thể của nó chỉ là rực sáng và tri giác, và khi nó gặp gở những điều kiện nào đó (chẳng hạn như khi một đối tượng hiện diện và một năng lực cảm giác đang thể hiện một cách thích đáng), nó phản chiếu đối tượng đó. Rằng tâm thay đổi từng thời khắc, và xuất hiện trong những khía cạnh khác nhau, cho thấy rằng tâm hoạt động dưới ảnh hưởng khác của các nguyên nhân và điều kiện.

 

 Một tâm sinh khởi trong sự lệ thuộc trên một tâm trước của một loại tương tự, vốn đòi hỏi rằng có một sự tương tự không có bắt đầu trước của tâm. Nếu sự sản sinh một tâm không cần lệ thuộc trên những thời khắc trước của tâm nhưng có thể đúng là được sản sinh một cách không có nguyên nhân, thế thì một tâm có thể được sản sinh bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, điều đó là vô lý. Tương tự thế, nếu thức không được sản sinh như một sự tương tục của một thực thể thức trước và thay vì thế được sản sinh từ điều gì đó vật chất, hoặc là nó luôn luôn, một cách vô lý, được sản sinh hay nó sẽ không bao giờ được sản sinh, vốn cũng là vô lý. Điều này cho thấy rằng thức là một sự tương tục của một thực thể thức trước.

 

Bởi vì thức được căn cứ trong một thời khắc trước của thức, thì không thể có một sự bắt đầu đối với sự tương tục của nó. Không có sự bắt đầu của thức, và không có sự chấm dứt của nó, vô thỉ và vô chung. Sự tương tục này làm cho có thể có một sự chuyển hóa tâm trong những thể trạng được cải thiện. Khi sự tương tục tinh thần được phối hợp trong những trạng thái bất tịnh, thì trải nghiệm của chúng ta bị giới hạn trong thế giới luân hồi. Khi sự tương tục tinh thần thoát khỏi những trạng thái bất tịnh, thì chúng ta có thể thành tựu niết bàn. Trong cách này, tất cả mọi hiện tượng bất tịnh của luân hồi là biến dị của tâm bất tịnh, những hiện tượng thanh tịnh của niết bàn là biến dị của tâm thanh tịnh.

 

NHỮNG TRẠNG THÁI SAI LẦM CỦA TÂM TÙY THUỘC TRÊN SI MÊ

 

Vì như được nói rằng “Trong tâm, không thể tìm thấy được tâm, bản chất của tâm là linh quang,” những trạng thái bất tịnh chẳng hạn như tham muốn và thù oán không phải là một bộ phận của tâm bản nhiên và phải được sản sinh bởi si mê – một thức hiểu sai sự tồn tại cố hữu – hoặc là trong thời khắc hiện tại hay từ một nguồn gốc trước đó. Tất cả những trạng thái sai lầm của tâmthức sai lầm như gốc rể của chúng. Si mê là một mô hình của thức vốn sai lầm tương ứng với đối tượng mà nó chú ý; nó sai về nó; nó không có tri giác có căn cứ như gốc rể của nó.

 

Một sự tỉnh thức sai lầm và một sự tỉnh thức với một nền tảng vững chắc có những cung cách mâu thuẩn với nhau  trong việc thấy rõ các hiện tượng, cho nên thứ này làm tổn hại thứ kia. Khi, trong sự thực hành của chúng ta, chung ta trở nên quen thuộc với những thái độ đúng đắn, thì những trạng thái sai lầm của tâm tự nhiên giảm thiểu cho đến cuối cùng thì chúng bị triệt tiêu.

 

Chính hệ thống của giáo huấn nhà Phật được căn cứ trên sự mâu thuẩn tự nhiên. Chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Đau khổ mà chúng ta muốn tránh xuất phát chính yếu từ những thái độ tinh thần, và vì nguồn gốc của nỗi khổ tinh thần là những cảm xúc phiền não hoặc là trực tiếp hay gián tiếp, cho nên chúng ta phải xem xét có bất cứ năng lực nào đối kháng với chúng. Thí dụ, nếu sân hận làm đau khổ, thế thì chúng ta phải tìm ra một năng lực đối trị. Đối với sân hận là từ ái và bi mẫn. Mặc dù và từ ái/ bi mẫn đều là ý thức, cho nên chúng có những cung cách lãnh hội đối kháng với cùng đối tượng. Tương tự thế, nếu một căn phòng là quá nóng, thì không có cách nào làm giảm thiểu sức nóng ngoài việc làm sinh ra hơi lạnh. Giống như nóng và lạnh đối lập nhau, cũng làm như thế với những trạng thái tinh thần, thanh tịnh và bất tịnh. Đối với phạm vi ta phát triển thứ này thì thứ kia giảm thiểu. Do vậy, chúng ta có thể loại trừ những trạng thái sai lầm của tâm. Những sự đối trị tồn tại.

 

SỰ PHỐI HỢP CỦA QUY ƯỚC VÀ CỨU KÍNH

 

Tâm tự nó là một chân lý quy ước (thế đế); thực tại của tâm, tánh không sự tồn tại cố hữu của nó, là chân lý cứu kính (chân đế). Hai chân lý này được chứa đựng trong một thực thể không thể tách rời. Giống như có một hợp thể của hai chân lý, quy ước và cứu kính, với sự tương ứng với tâm, cho nên có một hợp thể của hai chân lý với sự tương ứng với mỗi thứ và mỗi đối tượng. Hiện tướng của nó là chân lý quy ước, và tánh không sự tồn tại cố hữu của nó là chân lý cứu kính.

 

Thực tại cuối cùng được biết qua lý luận của duyên sanh. Thí dụ, vì tâm là một thực thể duyên sanh; cho nên tâm là trống rỗng sự tồn tại cố hữu. Khi chúng ta thấu hiểu tánh không qua lý luận duyên sanh, thì chúng ta nhận ra rằng tất cả mọi hiện tượng là những hợp thể duyên sanh và tánh không; hiện tướng và tánh không được nhận thức như hòa hiệp.

 

Những hiện tướng duyên khởi của các hiện tượng quy ước cung ứng một phạm trù cho giáo huấn từ bi – được gọi là “con đường rộng lớn,” khi có những hiện tướng vô cùng đa dạng. Tánh không của sự tồn tại cố hữu của các hiện tướng cung ứng căn bản cho giáo lý được biết như “con đường thâm sâu”, vì tánh không được biết như bản chất cứu kính của các hiện tượng – hòa bình, thoát khỏi những khái niệm, và của một vị. Qua hành thiền trau dồi hai con đường này – khía cạnh rộng lớn của từ bi và tuệ trí thâm sâu của tánh không – trong một cung cách không thể tách rời, những trạng thái sai lầm của tâm trong sự tương tục của chúng ta trải qua sự chuyển hóa dần dần. Chúng dần dần được tiêu trừ, và những cống hiến tuyệt vời của một tâm thức và thân thể của một Đức Phật hiện ra.

 

Quả Phật được thành tựu qua sự trau dồi phối hợp của cả động cơ và tuệ trí. Tuy nhiên, động cơ và tuệ trí có những dấu ấn tương ứng của chúng trong Quả Phật. Kết quả của việc trau dồi động cơ là Những Thân Thể Sắc Tướng[9] của một Đức Phật, vốn tồn tại  vì lợi ích cát tường của chúng sanh. Dấu ấn của việc trau dồi tuệ trí là Thân Thể Chân Thật [10]của một Đức Phật, vốn là hoàn thành sự phát triển của chính ta. Hình thức chính của động cơ và tuệ trí là gì? Động cơ chính yếu là một mục tiêu chỉ đạo để trở thành Giác Ngộ, được truyền cảm hứng bởi từ ái và bi mẫn và truyền cảm hứng cho việc thực hiện các hành động từ bi chẳng hạn như bố thí, đạo đức, và nhẫn nhục. Mô thức chính của tuệ trí là một thức thông minh nhận ra tánh không của sự tồn tại cố hữu.

 

*

 

Nền tảng của Phật giáo có ba phương diện. Căn bản là hai chân lý, quy ước và cứu kính. Từ hai chân lý này con đường [tu tập] hiện ra với nhân tố kép của động cơ và tuệ trí, mỗi thứ liên hệ với chân lý tương ứng của nó. Quả phẩm, hay kết quả của việc du hành trên con đường, là việc thực chứng hai thân – Thân Sắc Tướng và Thân Chân Thật của một Đức Phật. Để mang điều này cùng với nhau trên căn bản của hai chân lý – quy ước và cứu kính – chúng ta thực hành hai phẩm chất của con đường – động cơ và tuệ trí – vốn đưa chúng ta thành tựu quả phẩm, Thân Thể Sắc tướng và Chân Thật của một Đức Phật.

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

1-    Hãy xác định bản chất rực sáng và hiểu biết của tâm, không bị mây mờ bởi các tư tưởng.

2-    Thăm dò bản chất thâm sâu của tâm liên tục để khám phá việc vắng mặt của sự tồn tại cố hữu của nó, tánh không của nó, bằng việc phản chiếu trên sự lệ thuộc của tâm vào các nguyên nhân và điều kiện và lệ thuộc trên những thành phần – kể cả sự kiện rằng bất cứ chiều dài nào của thời gian trải qua trong tâm lệ thuộc vào những thành phần trước đó và sau đó của thời điểm đó.

3-    Hãy cố gắng nhận ra tính tương thích của sự xuất hiện của tâm với tánh không của sự tồn tại cố hữu của nó; hãy thấy vấn đề hai điều hổ tương này sự hổ trợ nhau như thế nào.

 

*


V

 

MẬT TÔNG


11

BỔN TÔN DU GIÀ

 

-*-

 

Trong Phật giáo có hai loại thực tập căn bản Hiển Giáo và Mật Giáo. Cho đến giờ, chúng ta đang thảo luận về sự thực hành Hiền Giáo. Mục tiêu đặc biệt của Mật Giáo là để cung ứng một con đường nhanh hơn vì thế những hành giả đủ điều kiện có thể phục vụ người khác một cách nhanh chóng hơn. Trong Mật Giáo năng lực của quán tưởng được khai thác để hành thiền trong một sự thực hành gọi là bổn tôn du già. Trong sự thực hành này ta tưởng tượng:

 

1-    Thay thế tâm thức ta như nó xuất hiện một cách thông thường, đầy những cảm xúc rắc rối, với một tâm thức tuệ trí tinh khiết được động viên bởi từ bi;

2-    Thay thế thân thể ta như thông thường nó hiện hữu (được cấu thành bởi thịt, máu, và xương) với một thân thể được cấu thành từ bi mẫn được thúc đẩy bởi tuệ trí.

3-    Phát triển cảm nhận của một tự ngã tinh khiết vốn phụ thuộc trên tâm thứcvà thân thể hiện hữu một cách thuần khiết trong một môi trường lý tưởng, hoàn toàn dấn thân trong việc giúp đở người khác.

 

Sự thực hành đặc biệt này của Mật Tông yêu cầu quán tưởng tự thân ta với một thân thể, hành vi, năng lực và môi trường chung quanh của một Đức Phật, nó được gọi là “lấy sự quán tưởng làm con đường tâm linh.”

 

Chúng ta hãy xem xét một dự tưởng về sự thực hành này. Ta xem tự thân ta có những phẩm chất của một Đức Phật vốn hiện tại ta chưa có. Thế thì, đây có phải một loại tâm thức thiền quán đúng đắn không? Vâng. Tâm thức ta được liên hệ trong một sự thấu hiểu thực tại từ việc ta đang hiện hữu như một bổn tôn. Do thế, tâm thức ta, từ quan điểm này, là đúng đắn. Cũng thế, ta đang cố tình tưởng tượng tự ta như có một thân thể siêu phàm ngay cả hiện tại ta chưa sở hữu. Đây là sự hành thiền quán tưởng, chúng ta không tự tin từ thâm tâm rằng ta thật sự có tâm thức, thân thể, và cá tính thuần khiết. Đúng hơn, căn cứ trên việc quán tưởng trọn vẹn  về thân thể và tâm thức lý tưởng, chúng ta đang trau dồi cảm nhận hiện hữu của một bổn tôn hổ trợ người khác một cách từ bi.

 

Để là một giáo thọ Mật Giáo đặc biệt – như đã nói, loại giáo thọ mà với người ấy Đức Phật đặc biệt trình bày sự thực hành Mật Tông – một hành giả phải có năng lực sắc bén và đã đạt đến tuệ trí vững vàng thực chứng tánh không, hay đã sẳn sàng kích hoạt nhanh chóng tuệ trí này. Những đòi hỏi cho chỉ việc thực hành Mật Tông là ít nghiêm nhặt hơn; tuy thế, việc dấn thân trong Mật Giáo ở bất cứ trình độ nào cũng đòi hỏi một ý chí mạnh mẽ để đạt được Giác Ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sanh, và một cảm nhận rằng việc này cần được hoàn thành một cách thật nhanh chóng.

 

Vào lúc bắt đầu của việc thực hành Mật Tông, cách căn bản để phát triển sự tĩnh lặng (tam muội) là hành thiền trên thân thể của chính ta giống như nó đã là một bổn tôn. Khi chúng ta hành thiền trên một thân thể siêu phàm, trước tiên ta hành thiền về tánh không, hãy gặt hái sự tỉnh thức tối đa  như có thể về tánh không của sự tồn tại cố hữu. Khi chúng ta đã thích nghi với thể trạng này, thì ta sử dụng chính tự tâm thức ấy như căn bản mà từ đó bổn tôn xuất hiện. Tâm thức, thực chứng tánh không, xuất hiện như bổn tôn và môi trường chung quanh của vị ấy. Trước tiên ta thiền quán về tánh không, từ đó bổn tôn xuất hiện; sau đó tập trung vào bổn tôn.

 

Trong cách này, bồn tôn du già kết hợp tuệ trí và động cơ từ bi, một tâm thức đơn độc thực chứng tánh không và xuất hiện một cách từ bi trong hình thức của một bổn tôn vị tha. Trong hệ thống Hiển Giáo, mặc dù có một sự phối hợp của tuệ trí và động cơ từ bi, nhưng sự thực hành tuệ trí chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành động cơ, và sự thực hành động cơ chỉ tác động bằng năng lực của sự thực hành tuệ trí; chúng không được bao hàm trong một ý thức. Một tính năng phân biệt của Mật Giáo là chúng là như vậy. Sự bao hàm của động cơ và tuệ trí trong một ý thức là những gì làm cho tiến trình của Mật Tông thật nhanh chóng.

 

Khi tôi còn là một thiếu niên, Mật Tông chỉ là một vấn đề của sự tin tưởng mù quáng. Vào tuổi hai mươi bốn, tôi mất quê hương và rồi thì sau đó đến Ấn Độ thật sự bắt đầu đọc những giải thích của Tông Khách Ba về tánh không. Rồi thì, sau khi chuyển đến Dharamsala, tôi đã dành nhiều nổ lực trong sự học tập và thực hành những giai tầng của con đường tu tập, tánh không, và Mật Tông. Thế nên, chỉ vào cuối những năm hai mươi tuổi của tôi sau khi đạt được một kinh nghiệm nào đó về tánh không thì bổn tôn du già mới có lý.

 

Một lần nọ ở chùa chính ở Dharamsala, tôi đang tiến hành nghi thức quán tưởng tôi như một bổn tôn của Tantra Yoga Tối Thượng, được gọi là Phật Bí Mật Tập Hội. Tâm tư tôi liên tục duy trì trong việc trì tụng nghi thức, và khi cụm chữ “tự chính tôi” đến, thì tôi hoàn toàn quên về tự thân thông thường của tôi trong mối quan hệ với sự phối hợp của tâm thức và thân thể. Thay vì thế, tôi có một cảm nhận rất rõ ràng về “tôi” trong mối quan hệ với sự kết hợp mới mẻ thuần khiết của tâm và thân của Phật Bí Mật Tập Hội (Phật Guhyasamaja), mà tôi đang quán tưởng. Vì đây là loại tự xác định vốn là trọng tâm của Du già Mật tông, cho nên kinh nghiệm xác nhận với tôi rằng với đầy đủ thời gian thì tôi chắc chắn sẽ đạt được những thể trạng sâu xa ngoại hạng đã được đề cập trong các kinh điển.

 

QUÁN ĐẢNH

 

Để thực hành Mật Thừa, thì đặc biệt quan trọng là được tham gia vào lễ truyền pháp gia hộ từ những bậc đại nhân trước đó. Những sự gia hộ không có trong sự thực hành của Kinh Thừa Hiển Giáo, nhưng chúng là thiết yếu trong Mật Tông. Phương tiện trước tiên của việc đi vào những sự gia hộ này là qua cánh cửa quán đảnh. Có bốn lớp Mật Tông – Hoạt Động, Thực Hiện, Du Già và Vô Thượng Du Già (Tantra Yoga Tối Thượng) – mỗi lớp với những sự quán đảnh của nó để làm chín muồi tâm thức cho sự thực tập, và mỗi lớp Mật Tông với những sự hành thiền của chính nó.

 

Chúng ta tiếp nhận sự quán đảnh ở đâu? Trong một mạn đà la, bao hàm những môi trường lý tưởng và cư dân siêu phàm tất cả vốn là những sự biểu hiện của từ bi và tuệ trí. Có những mạn đà la với mức độ phức tạp khác nhau cho tất cả bốn lớp Mật Tông. Một số được vẽ. Những thứ khác được tạo thành từ cát màu, và tuy thế những thứ khác nữa được tạo thành từ một loại mạn đà la thiền định đặc biệt.

 

Để tiếp nhận sự quán đảnh và phát nguyện trong một mạn đà la của Mật Tông Du Già hay Vô Thượng Du Già, vị lạt ma tiến hành buổi lễ phải có những phẩm chất hoàn hảo. Tất cả bốn bộ Mật Tông nhấn mạnh đặc biệt vào đức tính của vị lạt ma, trong việc giữ gìn những sự diễn tả chi tiết của Đức Phật cho những giai tầng khác nhau của con đường tu tập. Cũng hãy nhớ lời Đức Phật dạy bảo rằng không chỉ nương tựa vào người ấy mà cũng phải nương tựa vào giáo lý (y pháp bất y nhân). Ta không nên bị choáng ngợp bởi danh tiếng của một vị thầy. Điều quan trọng nhất là, vị thầy phải biết giáo lý, những thực hành, trọn vẹn.

 

CAM KẾT VÀ THỆ NGUYỆN

 

Trong hai bộ Mật Tông thấp – Hành Động và Thực Hiện – không có sự chỉ bảo rõ ràng rằng những thệ nguyện Mật Tông phải được tiếp nhận cho lễ quán đảnh; tuy thế, có nhiều sự cam kết phải được giữ. Trong hai bộ Mật Tông cao – Du Già và Vô Thượng Du Già – sau khi nhận lễ quán đảnh với tất cả những khía cạnh của nó, ta phải tiếp nhận những thệ nguyện Mật Tông ngoài những cam kết. Mật Tông Du Già và Vô Thượng Du Già có mười bốn (14) giới nguyện căn bản cũng như danh sách của những vi phạm để bảo vệ chống lại, nhưng như chúng khác nhau trong những con đường tu tập tương ứng, thậm chí những giới nguyện căn bản cũng hơi khác nhau. Vì sự thực hành Mật Tông quan tâm chính yếu với việc vượt thắng hiện tướng của chính ta và môi trường của ta khi bình thường (nhằm để khắc phục nhận thức những thứ này như bình thường), cho nên ta quán tưởng tự ta có một thân thể, các hành vi từ bi, tiềm lực, và nơi ở của một Đức Phật. Do vậy, hầu hết các sự cam kết quan tâm đến việc thay thế lý tưởng cho những hiện tướng thông thường, và kiềm chế sự đánh giá của chính ta về ta, những bạn đồng hành của ta, môi trường của ta, và những hành vi của ta như thông thường.

 

Loại thứ nhất được mệnh danh là đạo đức giải thoát cá nhân, sau đó là đạo đức Bồ tát, và cuối cùng là đạo đức Mật thừa. Những người thọ giới Bồ tát và Mật tông giữ lối giải thích của riêng họ về giới giải thoát cá nhân. Mật pháp Thời Luân, vốn rộ nở vào thế kỷ 11 ở Ấn Độ và đã trở thành Kim Cương tông chính yếu của những trường phái Tân dịch ở Tây Tạng, tuyên bố rằng nếu có ba vị thầy Mật tông, một với giới giải thoát cá nhân, một với giới sa di, và người thứ ba với đại giới cụ túc, thì người thọ giới cụ túc nên được xem là cao hơn những người kia. Điều này cho thấy rằng sự kính mến cao mà ngay cả trong hệ thống Mật thừa cũng đặt vào đạo đức xuất gia. Mật điển Bí Mật Tập Hội nói rằng bề ngoài ta nên giữ những khuôn phép của sự thực hành giải thoát cá nhân, và bên trong hãy duy trì một mối thân thuộc cho sự thực hành Mật Tông. Trong những cách này sự thực hành của Hiển Giáo và Mật Giáo hoạt động chung với nhau.

 

PHƯƠNG TIỆN CỦA MẬT TÔNG TRONG CON ĐƯỜNG TU TẬP

 

Chúng ta hãy xem vai của tình dục trong con đường tu tập của Mật tong bằng cách nhìn vào cấm đoán tà dâm trong đạo đức giải thoát cá nhân, vốn hoàn toàn căn cứ trên nguyên tắc của việc tránh làm tổn hại. Tà dâm được chi tiết hóa trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của Thế Thân. Đối với một người nam không được có quan hệ với vợ người khác, hay với người vị thành niên. Đối với người nữ cũng vậy; cũng không được quan hệ với chồng người khác, hay người vị thành niên. Một số người cho rằng, thực tức cười, vì tác phẩm của Thế Thân giải thích mười điều bất thiện từ quan điểm của nam giới, cho nên nếu người nữ làm mười điều bất thiện thì không sao – và vì vậy không có việc cấm đoán đối với người nữ.

 

Đối với những Phật tử, việc giao hợp có thể được sử dụng trong con đường tâm linh vì nó tạo ra một sự tập trung mạnh mẽ của tâm thức nếu hành giả đã có lòng từ bi và trí tuệ vững vàng. Nếu mục tiêu của nó là để biểu hiện và kéo dài những trình độ sâu sắc hơn của tâm (được diễn tả trước đây với tương ứng của tiến trình lâm chung), nhằm để đặt năng lực của họ để sử dụng trong việc làm mạnh mẽ sự thực chứng tánh không. Trái lại, chỉ giao hợp đơn thuần thì không có tác dụng vì với con đường tâm linh. Khi một hành giả đã đạt được trình độ cao cấp của thực hành trong động cơ và trí tuệ, thế thì ngay cả khi giao hợp, không làm xao lãng với việc duy trì thái độ thuần khiết của người ấy. Các hành giả du già đã đạt được trình độ cao trên con đường tu tập và đầy đủ phẩm chất thì có thể dấn thân trong hành vi như vậy, và một tu sĩ với năng lực này có thể duy trì toàn bộ giới nguyện.

 

Một hành giả du già Tây Tạng tinh tường, khi bị người khác bình phẩm nói rằng ông đã ăn thịt và uống bia khi dâng cúng đến bổn tôn mạn đà la. Những hành giả Mật tong như vậy quán tưởng họ như những bổn tôn trong một mạn đà la hoàn chỉnh, trong sự quán tưởng rằng bổn tôn tối thượng là đại lạc tối thượng – sự phối hợp của đại lạc và tánh không. Người ấy cũng nói rằng sự thực hành tình dục với một phối ngẫu cam kết vì lợi ích của việc phát triển một tri thức chân thật. Và rằng việc làm ấy là mục tiêu. Một hành giả như vậy có thể làm cho việc sử dụng tâm linh không chỉ thực phẩm và thức uống thơm ngon, mà ngay cả phân và nước tiểu. Một thiền giả du già chuyển hóa những thứ này thành thực phẩm của thần thánh thật sự. Tuy thế, đối với những người như chúng ta, thì việc này ngoài tầm tay. Cho đến khi nào chúng ta không thể chuyển hóa phân và nước tiểu, thì những thứ khác không nên làm!

 

Đức Phật đã đưa ra một chuỗi những giai tầng của con đường một cách chính xác vì lý do này. Giai đoạn sơ bộ là tu tập trong những giới nguyện của giải thoát cá nhân. Nếu chúng ta sống như một tu sĩ nam hay nữ, thì đức hạnh của ta phải căn bản hơn – hơi nguy hiểm nếu quá đáng. Ngay cả nếu ta không hoàn toàn thi hành những giới nguyện như vậy, thì cũng không có gì tai hại nhiều. Rồi thì cứ thực hành, thực hành, thực hành. Một khi chúng ta đã phát triển được sức mạnh nội tại, ta có thể kiểm soát bốn yếu tố nội tại – đất, nước, lửa, gió ( hay năm đại nếu thêm của không đại). Một khi ta có thể hoàn toàn kiểm soát bốn yếu tố nội tại, thế thì ta có thể kiểm soát năm yếu tố bên ngoài. Sau đó ta có thể sử dụng bất cứ thứ gì.

 

Việc giao hợp giúp gì trong con đường tu tập? Có nhiều trình độ khác nhau của tâm thức. Khả năng của những trình độ thô rất hạn chế, nhưng những trình độ sâu xa vi tế là mạnh mẽ hơn nhiều. Chúng ta cần thâm nhập những trình độ vi tế hơn của tâm thức. Nhưng nhằm để làm được như vậy, chúng ta cần làm yếu đi và tạm thời dừng lại tâm thức thô. Để làm điều này thì cần thiết phải mang đến một sự thay đổi sâu sắc trong dòng chảy của những năng lượng nội tại. Mặc dù những hình thái của những trình độ tâm thức sâu sắc hơn xảy ra trong khi nhảy mũi và ngáp, nhưng rõ ràng là chúng không thể kéo dài. Cũng thế, kinh nghiệm trước đây với việc biểu hiện những trình độ sâu sắc hơn đòi hỏi việc sử dụng việc xảy ra của chúng trong giấc ngủ sâu. Đây là nơi mà chúng xảy ra. Qua những kỷ năng đặc biệt của việc thiền định trong giấc ngủ, các hành giả thành thạo  có thể kéo dài những thể trạng vi tế và đầy năng lực và đặt chúng vào việc sử dụng để thực chứng tánh không. Tuy nhiên, nếu là những người thong thường thì không có tác dụng gì.

 

Một Đức Phật không cần sự giao hợp. Các bổn tôn trong một mạn đà la thì thường trong sự kết hợp với một phối ngẫu, nhưng điều này không phải nói rằng chư Phật phải cần đến sự giao hợp cho đại lạc của các ngài. Chư Phật đã có đầy đủ đại lạc trong chính các ngài. Chư bổn tôn trong sự kết hợp tự nhiên xuất hiện trong mạn đà la vì lợi ích của chúng sanh với những năng lực sắc bén có thể sử dụng phối ngẫu với đại lạc của việc kết hợp trong việc thực hành con đường nhanh chóng của Mật tong. Trong cùng cách rất giống như vậy, Đức Phật Mật tông Kim Cương Trì xuất  hiện trong những khía cạnh hòa bình và những khía cạnh hung tợn, nhưng đó không có nghĩa là Đức Phật Kim Cương Trì có  hai khía cạnh này với tính chất của ngài là luôn luôn hoàn toàn từ bi. Đúng hơn, sự xuất hiện tự nhiên trong những cung cách khác nhau là vì lợi ích của những hành giả tu tập. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện đúng trong một cung cách mà hành giả nên thiền quán khi sử dụng những cảm xúc phiền não, chẳng hạn như tham dục hay thù hận trong tiến trình của con đường tu tập. Để nắm lấy những cảm xúc mạnh mẽ như vậy trong con đường tâm linh thì hành giả không thể tưởng tượng rằng họ có một thân thể hòa bình của Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni. Bổn tôn du già đòi hỏi. Vì trong trường hợp của thù hận, thí dụ thế, thì cần phải thiền quán trên thân thể của chính mình trong một hình thức hung dữ. Đức Phật Kim Cương Trì xuất hiện một cách tự động trong một hình thức hung tợn tương ứng để chỉ cho hành giả thiền quán như thế nào. Cũng giống như thế với du già tình dục; các hành giả, những người có thể sử dụng đại lạc phát sinh trong tình cảm liên hệ trong khi nhìn chằm chằm, mĩm cười, nắm tay nhau, hay phối hợp phải biểu hiện với bổn tôn du già tương ứng, họ không thể tưởng tượng chính họ như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, một tu sĩ. Mục tiêu của những hiện tướng khác nhau của Đức Phật Kim Cương Trì không phải làm cho hành giả sợ hãi cũng không phải kích thích tham muốn trong họ, nhưng để chỉ họ thiền quán như thế nào trong những hình thể ấy nhằm để cuối cùng họ chiến thắng những cảm xúc phiền não.

 

Một Đức Phật có thể xuất hiện một cách tự nhiên mà không cần sự cố gắng trong bất cứ cách nào là thích hợp. hình thể của những hiện tướng này được hình thành qua nhu cầu của những người khác, không phải vì lợi ích của Đức Phật ấy. Từ quan điểm của Phật đà, thì Đức Phật ấy có chân thân tự đầy đủ (Pháp thân), mà các ngài tồn tại mãi mãi.

 

Hãy nhớ rằng đạo đức Mật tông được xây dựng trên đạo đức của giải thoát cá nhân và trên đạo đức của từ bi. Mục tiêu của Mật tông là để đạt được Quả Phật trên một con đường nhanh hơn nhằm để phục vụ những người khác mau lẹ hơn.

 

TOÁT YẾU THỰC  HÀNH

 

Vì sự thực hành Mật tông chính yếu là chuyển hóa vấn đề chúng ta thấy tự thân ta, người khác, môi trường, và các hành vi của ta như thế nào, cho nên có thể hữu ích để quán tưởng tự thân như có một động cơ từ bi, một thân thể và đức hạnh tinh khiết, làm lợi ích cho những người khác.

 

 

-*-


VI

 

NHỮNG BƯỚC TRÊN ĐƯỜNG TU TẬP


12

TỔNG QUAN VỀ CON ĐƯỜNG ĐẾN GIÁC NGỘ

 

 

*

                                

TIẾN TRÌNH TỪ TỪ

 

Một hành giả tiến tới Quả Phật như thế nào qua việc trau đồi thiền quán những con đường của động cơ và tuệ trí? Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật trình bày những trình độ của con đường trong một tuyên bố ngắn gọn và thậm thâm, “Tadyata gate gate paragate parasamgate bodhi svaha,” có nghĩa là, “Thật sự là như vậy, tiến tới, tiến tới, tiến vượt tới, tiến vượt tới triệt để, thành tựu Giác Ngộ.” Chúng ta hãy thẩm tra điều này một cách sâu sát hơn, bắt đầu với chữ đầu tiên, “gate” (“tiến tới” hay “đi”). Ai đang đi? Có phải “cái tôi” hay tự ngã được biểu thị trong sự lệ thuộc trên sự tương tục của tâm. Từ điều gì ta đang tiến tới? Chúng ta đang rời khỏi vòng luân hồi, trạng thái ở dưới ảnh hưởng của những hành vi nhiễm ô và các cảm xúc phiền não ẩn tàng. Ta đang tiến tới điều gì? Chúng ta đang tiến tới Quả Phật được phú cho Thân Thể Chân Thật, vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau và những nguồn gốc của đau khổ (cảm xúc phiền não), cũng như những xu  hướng được thiết lập bởi những cảm xúc phiền não. Trên những nguyên nhân và điều kiện nào mà chúng ta lệ thuộc khi chúng ta tiến tới? Chúng ta đang tiến tới trong sự lệ thuộc trên con đường vốn là một sự phối hợp của từ bi và tuệ trí.

 

Đức Phật đang nói với những thực tập sinh đi trên một bờ biển khác. Từ quan điểm của thực tập sinh, vòng luân hồi thì ở gần bên, trong tầm tay. Ở bờ xa, một nơi xa kia, là niết bàn – thể trạng đã vượt khỏi khổ đau.

 

NĂM CON ĐƯỜNG

 

Khi Đức Phật nói, “Tadyata gate gate paragate parasamgate bodhi svaha,” (“Thật sự là như vậy, tiến tới, tiến tới, tiến vượt tới, tiến vượt tới triệt để, thành tựu Giác Ngộ.”), Ngài đang nói với những hành giả tiến tới trên năm con đường:

 

Gate – con đường tích lũy (tư lương đạo);

Gate – con đường chuẩn bị (gia hạnh đạo).

Paragate – con đường thấy đạo (kiến đạo).

Parasamgate – con đường hành thiền (tu tập đạo).

Bodhi – con đường không còn học nữa (Giác Ngộ đạo - vô học đạo – cứu kính đạo).

 

Chúng ta hãy xác định bản chất tiến triển qua năm con đường này:

 

1-    Con đường khởi đầu là gì, con đường tích lũy? Đó là thời điểm khi chúng ta chính yếu thực hành theo động cơ khác để tích lũy dồi dào phước  đức lớn. Cũng thế, mặc dù chúng ta đang thực hành một sự phối hợp động cơ và tuệ trí, thì sự thực chứng tánh không của ta chưa đạt đến trình độ của sự hổ trợ hổ tương của chỉ và quán được gọi là “một thể trạng sinh khởi từ thiền”. Trên con đường này chúng ta đạt được thiền định đầy năng lực, và đang hành động đến một thể trạng sinh khởi từ thiền thực chứng tánh không.

2-    Tại một thời điểm mà chúng ta đạt được một thể trạng của tuệ trí sinh khởi từ thiền thực chứng tánh không, chúng ta đi qua con đường chuẩn bị. Bằng việc ngày càng quen thuộc với thể trạng này, cùng với việc trau dồi động cơ từ bi, chúng ta dần dần nhận thức sự xuất hiện tánh không càng rõ ràng hơn đối với bốn trình độ của con đường chuẩn bị (hơi nóng, đỉnh cao, nhẫn nhịn, những phẩm chất thế tục cao nhất)[11].

3-    Cuối cùng tánh không được nhận ra một cách trực tiếp, ngay cả không có một chút nhiễm ô từ hiện tướng nhị nguyên, vốn đã biến mất. Đây là sự bắt đầu của con đường thấy đạo – con đường khởi đầu trực tiếp thực chứng chân lý quan tâm đến bản chất sâu xa của các hiện tượng. Tại điểm này trong Đại thừa, thập địa Bồ tát (được gọi là đất vì trên chúng những phẩm chất tâm linh được sanh ra) bắt đầu. Trên con đường thấy đạo và con đường hành thiền, hai loại chướng ngại, tri thức tập nhiễm[12] và bẩm sinh[13], được vượt thắng một cách tương ứng. Những trạng thái tri thức tập nhiễm của tâm hình thành qua sự chấp chặc vào những hệ thống sai lầm. Thí dụ, có những hành giả của một số trường phái Phật giáo tin tưởng rằng các  hiện tượng tồn tại một cách quy ước theo cách của đặc tính của chính chúng, căn cứ trên “lý luận’ vô căn cứ rằng nếu các hiện tượng không được thiết lập trong cách này, thì chúng không thể biểu hiện chức năng. Đây là một loại nhận thức sai lầm, bị làm nhiễm ô bởi những hệ thống giáo lý bệnh hoạn, được gọi là nông cạn, hay tri thức tập nhiễm. Ngay cả nếu chúng ta không có được những xu hướng mới qua tư duy nhận thức sai lầm trong kiếp sống này, thì mọi người có trong sự tương tục tinh thần của họ những xu hướng được thiết lập bởi sự chấp chặc vào những quan điểm sai lầm trong những kiếp trước.

 

Ngược lại, những trạng thái bẩm sinh sai lầm của tâm đã tồn tại trong tất cả chúng sanh – từ côn trùng cho đến con người – từ thời  vô thỉ, và vận hành tương hợp với chính họ mà không lệ thuộc vào những kinh điển và lý luận sai lầm.

 

4-    Tri thức tập nhiễm, hay nông cạn, những chướng ngại được loại trừ qua con đường thấy đạo, trái lại những chướng ngại bẩm sinh thì vượt thắng khó khăn hơn (vì chúng ta đã bị điều kiện hóa với những trạng thái sai lầm này của tâm từ thời vô thỉ). Chúng phải bị loại trừ bằng việc hành thiền liên tục trên ý nghĩa của tánh không. Vì việc hành thiền như vậy xảy ra lập đi lập lại trải qua một thời gian dài, giai đoạn này của con đường được gọi là con đường hành thiền. Thực tế, chúng ta đã hành thiền về tánh không trước đây rồi, nhưng con đường hành thiền liên hệ đến một con đường của việcthực hành mở rộng cho thông thạo.

 

Trên trình độ này, chúng ta trải qua chín địa Bồ tát còn lại. Từ trong mười địa, bảy địa đầu được gọi là bất tịnh, và ba địa cuối là thanh tịnh. Đây là bởi vì trên bảy địa đầu chúng ta vẫn còn ở trong tiến trình của việc loại trừ những chướng ngại phiền não và vì vậy bảy địa này chưa thanh tịnh. Qua phần thứ nhất của địa thứ tám chúng ta đang tiêu trừ những cảm xúc phiền não. Sự quân bình của địa thứ tám, chín, mười cho phép chúng ta vượt thắng những chướng ngại đến toàn tri toàn giác.

 

5-    Bây giờ, qua việc sử dụng thiền tập trung như kim cương thành tựu vào đoạn cuối của mười địa Bồ tát – cực điểm vẫn còn chướng ngại chưa được chiến thắng – nhưng chúng ta có thể làm xói mòn những chướng ngại rất vi tế đến toàn tri toàn giác. Chính thời khắc kế tiếp của tâm chúng ta trở thành một thức toàn tri toàn giác, một cách đồng thời bản chất sâu thẩm của tâm trở thành Thân Thể Tự Nhiên của một Đức Phật. Đây là con đường thứ năm, con đường sau cùng, con đường không còn học nữa. Từ gió rất vi tế, năng lượng – vốn là một thực thể với gió đó – những sắc tướng thanh tịnh và không thanh tịnh tự động xuất hiện ra để hổ trợ chúng sanh; những thứ này được gọi là những Thân Sắc Tướng của một Đức Phật. Đây là Quả Phật, một thể trạng của việc hiện hữu một cội nguồn giúp đở và hạnh phúc cho toàn thể chúng sanh.

 

Để tôi dành một vài phút ở đây để nói đến nhiều nhận thức sai lầm về vấn đề việc nữ nhân có thể thành tựu Quả Phật hay không. Trong kinh điển Đại thừa, không có một biểu thị nào rằng một nữ nhân không thể đạt được Quả Phật. Tuy nhiên, kinh luận nói rằng, trong những sự thực tập tích lũy phước  đức trải qua ba a tăng kỳ kiếp, thì chúng ta sẽ đi đến một thời điểm khi nghiệp mà chúng ta đang làm việc với ý chí trưởng thành như những dấu hiệu vật lý và hảo tướng của một Đức Phật; vào lúc ấy, theo kinh điển Đại thừa, nó giúp để có một sự hổ trợ vật lý mạnh mẽ, cho nên chúng ta tự nhiên đi đến có một thân thể của nam giới. Những kinh luận này cũng nói rằng trong kiếp cuối cùng trước khi thành tựu Quả Phật, chúng ta cần có một thân thể đại trượng phu. Tuy nhiên, Tantra Yoga Tối Thượng, là thứ mà chúng tôi xem như hệ thống sau cùng, nói rằng không chỉ một nữ nhân có thể thành tựu Quả Phật mà vị ấy có thể làm như thế ngay trong kiếp sống này.

 

NHỮNG PHẨM CHẤT CỦA QUẢ PHẬT

 

Trong tất cả mọi trường phái tu tập của Đạo Phật, sự thực hành là căn cứ trên xu hướng xa rời cõi luân hồi. Ngoài ra, trong Đại thừa chúng ta được động viên bằng xu hướng quan tâm khác để trở thành Giác Ngộ. Trong Mật tông, qua những kỷ năng vốn để nâng cao việc phát triển của thiền tập trung, vốn là sự phối hợp của định và tuệ, thì chúng ta có thể đạt được thể trạng của Quả Phật mà trong đó tất cả mọi chướng ngại – những chướng ngại phiền não ngăn trở việc thoát khỏi vòng luân hồi[14] và những chướng ngại đến toàn tri toàn giác[15] ngăn trở Quả Phật – đã được tiêu trừ.

 

Phẩm chất của một Đức Phật được diễn ta như những “thân thể” khác nhau vốn có thể được phân chia thành hai loại tổng quát:

 

  • Thân Thể Chân Thật, cho việc hoàn thành cát tường của chính bản thân.
  • Các Thân Thể Sắc Tướng, cho việc hoàn thành cát tường của các chúng sanh khác.

 

Các Thân Thể Sắc Tướng, lần lượt, có thể được phân chia bằng việc chúng xuất hiện như thế nào đối với chúng sanh trong những trình độ khác nhau của thanh tịnh và bất tịnh. Những hành giả tiến bộ cao độ có thể thâm nhập Thọ Dụng Thân[16]. Những trình độ khác của các hành giả trải nghiệm các Ứng thân[17]. Thân Thể Chân Thật cũng có thể phân chia thành hai loại, Thân Tự Tánh và Thân Tuệ Trí. Thân Tự Tánh có thể phân chia thêm nữa thành một thể trạng của sự tịnh hóa tự nhiên và một thể trạng của sự tịnh hóa bất định (hay làm thành) các phiền não. Thân Thể Chân Thật Tuệ Trí có thể phân chia xa hơn tùy vào nhiều quan điểm khác nhau. Hiện Quán Trang Nghiêm Luận cho Sự Thực Chứng Minh Bạch[18] của Di Lặc ghi rõ hai mươi (20) bộ tuệ trí vô nhiễm vốn có thể được phân chia thành một trăm sáu mươi bộ (160).

 

SỰ THỰC HÀNH LÂU DÀI

 

Đây là một sự giải thích tóm tắt cho nền tảng – hai chân lý, quy ước và cứu kính; những con đường xây dựng trên nền tảng ấy – động cơ và tuệ trí; những quả vị trên con đường – những Thân Thể Sắc Tướng và Thân Thể Chân Thật của một Đức Phật. Thật lợi ích để có cái nhìn tổng quát về cấu trúc của sự thực hành, nhưng chúng ta cần nhớ rằng sự thực chứng được phát sinh qua nhiều nguyên nhân và điều kiện – sự thấu hiểu đúng đắn, sự tích lũy phước đức, và sự vượt thắng các chướng ngại. Nếu ta trước tiên chưa tích lũy phước đức, và tịnh hóa những hành vi bất thiện, thì thật khó để đạt được sự thực chứng chỉ qua việc cố gắng hành thiền. Do vậy, thật quan trọng để làm việc thông qua mỗi một hành vi sơ bộ.

 

Liên hệ trong những sự thực hành sơ bộ tiên quyết không chỉ là một vấn đề của việc bổ sung nào đó hay ngay cả là việc hoàn thành ẩn tu ba năm hay pha mặt trăng[19] (như một số có thể tưởng tượng từ sự kiện rằng nhiều sự tu tập kéo dài như thế), hay bất cứ một thời gian nào khác. Thay vì thế, chúng ta  phải tích tập phước đức và tịnh hóa các chướng ngại cho đến khi những sự thực chứng nào đó được phát sinh. Chúng ta có thể dành trọn cả cuộc đời để làm như thế, với mục tiêu cải thiện những kiếp sống tương lai. Đôi khi, do bởi một sự khiếm khuyết hiểu biết, cho nên những người thực hiện những thời gian ẩn tu dài kết thúc với niềm kiêu hảnh lớn chỉ với sự kiện rằng họ đã hoàn thành khóa tu. Sự gia tăng trong tự hào sinh ra một sự gia tăng trong sân hận, ghen tỵ, và ganh đua. Điều giống như vậy có thể xảy ra với tri thức đơn thuần trong sách vở về giáo lý. Thật không dễ dàng; những cảm xúc phiền não là xảo quyệt.

 

Việc hành trì không phải là điều gì đó mà chúng ta thực hiện trong vài tuần hay vài năm. Nó xảy ra trải qua nhiều kiếp sống, trong hàng vô lượng kiếp và vô lượng kiếp. Như chúng ta đã thấy, một số kinh luận nói việc Giác Ngộ được thành tựu sau khi tích lũy vô số phước đức và tuệ trí trong ba a tăng kỳ kiếp. Nếu chúng ta xem tuyên bố này là thích đáng, thì nó có thể động viên ta tiếp nhận một thái độ nhẫn nhục, kiên trì qua những hoàn cảnh khó khăn. Nếu học hỏi điều này làm ta phiền muộn, thì có thể là do việc chúng ta mong muốn thành tựu Quả Phật một cách nhanh chóng vì quá quan tâm đến người khác của chúng ta. Đó cũng có thể là một dấu hiệu của lòng can đảm không đủ. Giác Ngộ không thể đạt được mà không phải hành động nghiêm mật. Tin tưởng theo cách khác có nghĩa là chúng ta đang chứa chấp một hình thức vị kỷ nào đó.

 

*

 

Đây là toàn bộ tiến trình của con đường tu tập. Mặc dù người ta có thể không giàu có vốn có thể giữ trong một chiếc bóp, nhưng họ có thể có sự giàu có này giữ trong tâm. Những tuyên bố hảo ý của các tôn giáo khác nhau thì không đủ; chúng ta phải khai triển thực hiện chúng trong đời sống hàng ngày trong xã hội. Sau đó chúng ta mới có thể biết giá trị thật sự những giáo lý của chúng. Thí dụ, nếu một Phật tử hành thiền trong chùa viện nhưng bên ngoài chùa viện thì họ không sống với những lý tưởng quán chiếu ấy, như vậy là không tốt. Chúng ta phải thực hành trong đời sống hàng ngày.

 

Giá trị thật sự của việc thực hành được thấy khi chúng ta đối diện một thời điểm khó khăn. Khi chúng ta vui sướng và mọi thứ diễn ra suông sẻ, thế thì sự thực hành dường như không khẩn thiết, nhưng khi chúng ta đối diện những vấn nạn không thể tránh chẳng hạn như bệnh tật, tuổi già, chết chóc, hay những hoàn cảnh chán chường khác, thì thật cần thiết để kiểm soát sự sân hận của ta, kiểm soát những cảm giác của chúng ta, và để sử dụng tâm tư tốt đẹp của con người chúng ta để quyết định phải đối diện với vấn nạn đó như thế nào với sự nhẫn nhục và điềm tĩnh.

 

Nếu chúng ta thực hành cách này, hy vọng trước nhất của chúng ta là chúng ta có thể chiến thắng vấn nạn, nếu không, tối thiểu vấn nạn không thể quấy rầy sự an bình tinh thần chúng ta. Như vậy là tốt, có phải không? Chúng ta đang đối diện với hoàn cảnh và duy trì được sự bình an của tâm hồn – không cần uống thuốc an thần hay cố gắng để đẩy tư tưởng của chúng ta khỏi nó. Đó là tại sao chúng ta vô cùng thích thú trong những ngày cuối tuần và các kỳ nghĩ dưỡng! Năm ngày trong tuần chúng ta vô cùng bận rộn, làm việc cật lực để kiếm tiền, rồi thì vào cuối tuần chúng ta đi đến một nơi nào xa xôi với số tiền ấy và có một thời gian dễ thương! Điều này có nghĩa là chúng ta cố gắng để đưa tâm thức chúng ta khỏi vấn nạn của chúng ta. Nhưng vấn nạn vẫn ở đấy.

 

Tuy nhiên, nếu chúng ta có một thái độ tinh thần tốt, thì không cần tiêu khiển. Khi chúng ta có thể đối diện với hoàn cảnh và phân tích vấn nạn, thế thì, giống như một cục nước đá trong nước, nó sẽ dần dần tan đi. Nếu chúng ta thực hành một cách chân thành, thì chúng ta sẽ trải nghiệm giá trị thật sự của nó.

 

Theo lời của chính Đức Phật, giáo huấn của Ngài sẽ tồn tại ở thế gian này trong năm nghìn năm. Vào lúc kết thúc năm nghìn năm ấy, nó cuối cùng sẽ bị hủy diệt bởi một người nào đó là chính sự tái sanh của Đức Phật, vì khi ngày ấy đến giáo lý của Ngài sẽ không còn giá trị nữa. Tuy nhiên, có cả tỉ hệ thống thế giới như chúng ta, với hàng tỉ giáo lý vô tận như vậy. Một số trong chúng, giáo lý sẽ được làm mới lại; một số sẽ tàn tạ. Giáo lý tiếp tục duy trì ở một nơi nào đó vào mọi thời gian. Chư Phật không bao giờ biến mất, và giáo lý sẽ không bao giờ tan biến.

 

*

 

TOÁT YẾU THỰC HÀNH HÀNG NGÀY

 

Đây là một nơi những tóm tắt cho sự thực hành tập họp lại khắp cả quyển sách. Hãy tập trung trên những thứ phù hợp với trình độ của bạn vào điểm này. Hay, chúng ta có thể thay đổi trong chúng trong phạm vi một tuần. Hãy cải thiện một cách nhẫn nại qua thời gian, những sự thực hành sẽ trở thành ngày càng quen thuộc hơn và đời sống của chúng ta sẽ trở thành đầy đủ ý nghĩa hơn.

 

Đạo đức của sự giải thoát cá nhân

 

1-    Hãy thẩm tra động cơ của chúng ta thường xuyên như có thể. Thậm chí trước khi rời khỏi giường vào buổi sáng, hãy thiết lập một quan điểm bất bạo động, không lạm dụng, không ngược đãi cho một ngày của chúng ta. Vào ban đêm thẩm tra lại những gì chúng ta đã làm trong ngày.

2-    Hãy chú ý có bao nhiêu đau khổ trong chính cuộc sống của ta:

  • Có những đau khổ thể xác và tinh thần nào tư nhiên chúng ta muốn tránh, chẳng hạn như bệnh tật, tuổi già, và sự chết.
  • Có những kinh nghiệm tạm thời nào, như ăn uống thực phẩm ngon, dường như có thể vừa lòng trong chúng và tự chính chúng, nhưng, nếu tiếp tục ăn uống có thể hóa thành bệnh – đây là đau khổ vì thay đổi. Khi hoàn cảnh biến từ sung sướng thành đau khổ, hãy quán chiếu trên sự kiện rằng bản chất sâu thẩm của niềm vui ban đầu đang tự hiển lộ. Việc dính mắc vào những niềm vui nông cạn như vậy sẽ chỉ mang đến khổ đau hơn.
  • Hãy quán chiếu vấn đề chúng ta bị vướng trong một tiến trình của điều kiện, vốn, đúng hơn là ở dưới sự kiểm soát của chúng ta, chính là ở dưới sự ảnh hưởng của nghiệp và những cảm xúc phiền não.

3-    Hãy phát triển một cách từ từ một quan điểm thực tiển của thân thể qua việc thẩm tra những thành phần của nó – da, máu, thịt, xương, và v.v…

4-    Hãy phân tích đời sống của chúng ta một cách cặn kẻ. Cuối cùng chúng ta sẽ thấy khó khăn để lạm dụng nó bằng việc trở thành như máy móc hay chỉ bằng việc tìm ra tiền như kẻ đại diện cho hạnh phúc.

5-    Hãy chấp nhận một thái độ tích cực khi đối mặt với khó khăn. Hãy tưởng tượng rằng bằng việc chịu đựng một hoàn cảnh khó khăn thì chúng ta cũng làm tiêu mòn những hậu quả tệ hại từ những nghiệp chướng khác mà khác đi chúng ta có thể trải nghiệm trong tương lai. Như một sự luyện tập tinh thần, hãy tự đảm nhận gánh nặng đau khổ của những kẻ khác giống như thế.

6-    Hãy đánh giá những hệ quả có thể tiêu cực và tích cực về những cảm giác chẳng hạn như tham muốn, sân hận, ganh tỵ, và thù oán. Khi nó trở thành rõ ràng rằng hậu quả của chúng là tai hại, thì chúng ta đi đến kết luận rằng không có các kết quả tích cực của sân hận, … Hãy phân tích nhiều hơn nữa, và dần dần sự tự tin của chúng ta sẽ được làm mạnh lên; sự phản chiếu được lập lại về những bất lợi của sân hận sẽ làm chúng ta nhận ra rằng nó vô nghĩa, và đáng thương. Quyết định này sẽ làm cho sự sân hận của chúng ta từ từ hao mòn.

7-    Đã nhận ra phạm vi của đau khổ, hãy nghiên cứu nguyên nhân của nó, và xác định cội nguồn của đau khổ là si mê về bản chất chân thật của con người và mọi vật, và rằng tham muốn, thù hận, và v.v… căn cứ trên sự si mê này. Hãy nhận ra rằng đau khổ có thể loại trừ được, có thể triệt tiêu được trong không gian của thực tại. Hãy quán chiếu rằng sự chấm dứt chân thật (diệt đế) đạt được qua sự thực hành đạo đức, thiền định, và tuệ trí – những con đường chân thật (đạo đế).

8-    Hãy chú ý rằng những sự dính mắc của chúng ta về thực phẩm, áo quần, và nơi cư trú, và hãy thích ứng với những thực tập của tu sĩ về toại nguyện cho đời sống của một cư sĩ. Hãy hài lòng với thực phẩm, áo quần, và chỗ cư trú tương xứng. Hãy sử dụng những thời gian rỗi rảnh cho thiền tập vì thế chúng ta có thể vượt thắng nhiều vấn nạn khác nữa.

9-    Hãy phát triển một nguyện ước mạnh mẽ để tránh làm tổn hại người khác, cho dù là bằng hành động hay lời nói, bất chấp chúng ta bị hổ thẹn, bị xúc phạm, bị mắng chưởi, hay bị đánh.

 

Đạo Đức Quan Tâm Đến Người Khác

 

Tiến hành quán tưởng năm bước cho việc phát triển từ bi:

 

1-    Hãy duy trì điềm tĩnh và có lý trí.

2-    Trước mặt ta bên phải, hãy tưởng tượng một phiên bản khác của chính ta, tự cao và vị kỷ.

3-    Trước mặt ta bên trái, hãy tưởng tượng một nhóm người nghèo khó, đau khổ, những người không thân thuộc với ta, cũng không phải là bạn bè hay kẻ thù.

4-    Hãy quán chiếu hai phía này từ quan điểm thuận lợi và điềm tĩnh. Bây giờ hãy nghĩ, “Cả hai đều muốn hạnh phúc. Cả hai đều muốn thoát khỏi khổ đau. Cả hai đều có quyền để hoàn thành những mục tiêu này.”

5-    Hãy xem xét điều này: Giống như thường lệ chúng ta sẳn sàng để thực hiện những điều hài lòng tạm thời cho một điều tốt đẹp lâu dài, cho nên lợi lạc của nhiều người đau khổ bên trái ta thì quan trọng hơn nhiều so với một người vị kỷ đơn lẻ bên phải ta. Hãy chú ý tâm thức ta tự nhiên quay về phía số lượng lớn hơn những con người.

 

Hãy thực hiện nghi thức cho sự ngưỡng mộ Giác Ngộ. Trước tiên thi hành bảy bước chuẩn bị sơ bộ:

 

1-    Tôn kính: Hãy tưởng tượng Đức Phật Thích Ca được vây quanh bởi vô số Bồ tát, đầy trên bầu trời trước mặt ta.

2-    Hãy cúng dường tất cả những thứ tuyệt vời – cho dù chúng ta có sở chúng hay không – kể cả thân thể, tài sản, và đạo đức của chính ta, đến chư Phật và chư Bồ tát.

3-    Hãy bày tỏ vô số hành vi lỗi lầm cua thân thể, lời nói, và tâm ý mà ta đã gây ra với một mục tiêu làm tổn hại người khác. Hãy sám hối vì đã làm những thứ ấy, và có ý muốn kiêng tránh khỏi chúng trong tương lai.

4-    Hãy ngưỡng mộ từ trong chiều sâu của trái tim đạo đức của chính ta và của những người khác. Tỏ lòng hoan hỉ trong những việc làm tốt lành mà ta đã thực hiện trong kiếp này và những kiếp trước, hãy nghĩ, “Tôi thật sự đã làm  điều gì đó tốt đẹp.” Hãy hoan hỉ trong đạo đức của những kẻ khác, kể cả của chư Phật và chư Bồ tát.

5-    Hãy thỉnh cầu chư Phật những bậc đã Giác Ngộ tròn vẹn nhưng chưa dấn thân trong việc giảng dạy giáo lý tâm linh, làm như thế nhân danh của tất cả chúng sanh đau khổ.

6-    Hãy cầu xin chư Phật không nhập niết bàn.

7-    Hãy hồi hướng sáu sự thực hành này để thành tựu Giác Ngộ vô thượng.

 

Sau đó bắt đầu thực hiện phần trung tâm của nghi thức ngưỡng mộ Giác Ngộ:

 

1-    Với một quyết định mạnh mẽ để đạt được Quả Phật nhằm để phục vụ những chúng sanh khác, hãy tưởng tượng một Đức Phật trước mặt ta, hay vị thầy tâm linh của ta như đại diện cho Đức Phật.

2-    Hãy trì tụng ba lần giống như ta đang lập lại sau vị ấy:

Cho đến khi tôi đạt được Giác Ngộ, tôi tìm quy y trong Đức Phật, giáo lý, và cộng đồng tâm linh cao thượng.

Qua sự tích lũy của phước đức của bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và tuệ trí, nguyện cho tôi thành tựu Quả Phật để phụng sự tất cả chúng sanh.

 

Để duy trì và tăng cường lòng vị tha sâu xa này trong kiếp sống này hãy thực hiện những điều sau:

 

1-    Hãy nhắc lại luôn luôn những lợi lạc của việc phát triển một mục tiêu để trở thành Giác Ngộ vì lợi ích của những kẻ khác.

2-    Phân chia một ngày thành ba thời và đêm thành ba thời, và trong mỗi thời dành một ít thời gian hay thức dậy từ giấc ngủ và thực tập năm bước quán tưởng đã nói trước đây. Cũng đầy đủ để quán tưởng năm bước ba lần trong một buổi tu tập vào sáng sớm khoảng mười lăm phút, và ba lần trong buổi tối khoảng mười lăm phút.

3-    Tránh sự quên lãng tinh thần lợi ích của ngay cả một chúng sanh.

4-    Tối đa như có thể, hãy dấn thân trong những hành vi đạo đức với một thái độ thiện lương, và phát triển một sự hiểu biết sơ bộ về bản chất của thực tại, hay duy trì một nguyện ước để làm như thế và hành động với nó.

 

Để duy trì và tăng cường lòng vị tha thậm thâm này trong những kiếp sống tương lai:

 

1-    Hoàn toàn không nói dối với bất cứ ai, ngoại trừ ta có thể giúp đở người khác một cách lớn lao qua việc nói dối.

2-    Hãy trực tiếp hay gián tiếp giúp đở người khác để tiến tời Giác Ngộ.

3-    Hãy đối xử với tất cả mọi người với sự tôn trọng.

4-    Không bao giờ lừa dối với bất cứ người nào, và luôn luôn trung thực.

 

Trong thâm tâm, hãy nghĩ đi nghĩ lại, “Nguyện cho tôi trở thành có thể giúp đở tất cả chúng sanh.”

 

Thiền Tập Trung

 

1-    Hãy chọn một đối tượng của thiền tập và tập trung tâm ý ta vào nó, và cố gắng đạt được và duy trì sự ổn định, trong sáng, và cường độ. Tránh sự giải đải và trạo cử.

2-    Thay phiên, xác định thể trạng nền tảng của tâm không bị tì vết bởi tư tưởng, giống như trong trạng thái của chính nó – chỉ thuần sáng suốt, bản chất hiểu biết của tâm. Với chánh niệm và nội quán duy trì trong thể trạng ấy. Nếu một tư tưởng sinh khởi, chỉ hãy nhìn vào chính bản chất của tư tưởng ấy; điều này làm nó bị mất sức mạnh và tan biến tương ứng với nó.

 

Tuệ Trí

 

Như một thực hành của việc xác định các đối tượng và chúng sanh xuất hiện một cách sai lầm trong nhận thức như thế nào, hãy cố gắng theo sau:

 

1-    Hãy quán sát một vật chẳng hạn như một chiếc đồng hồ đeo tay xuất hiện trong cửa hàng như thế nào khi ta lần đầu thấy nó, sau đó hiện tướng của nó thay đổi thế nào và trở thành cụ thể hơn thế nào khi sự thích thú của ta lớn mạnh, và cuối cùng nó xuất hiện thế nào khi ta đã mua nó và xem nó như của ta.

2-    Hãy chú ý trong những thời điểm khác nhau vấn đề tự ta xuất hiện trong tâm ta như thế nào giống như nó tồn tại trong và tự ta, không lệ thuộc vào tâm thức và thân thể.

3-    Sau đó, thường xuyên quán chiếu vấn đề các hiện tượng sinh khởi trong sự lệ thuộc với những nguyên nhân và điều kiện như thế nào, và quán sát vấn đề điều này mâu thuẩn với cách mà con người và sự vật xuất hiện và tồn tại trong chính bản chất của chúng như thế nào, để tồn tại một cách cố hữu. Nếu ta xoay về hướng chủ nghĩa hư vô, hãy quán chiếu hơn về sự lệ thuộc duyên khởi. Nếu, bằng việc tập trung trên các nguyên nhân và điều kiện, ta có xu hướng tái củng cố sự tồn tại cố hữu của các hiện tượng, thì hãy đặt hơn sự nhấn mạnh về vấn đề sự lệ thuộc mâu thuẩn với hiện tướng quá cụ thể này như thế nào. Chúng ta chắc chắn sẽ được kéo ra khỏi việc bám víu vào một bên; con đường trung đạo cần thời gian để thấy.

 

Cũng thế:

 

1-    Hãy xác định bản chất sáng suốt và hiểu biết của tâm, không bị che mờ bởi các tư tưởng và không có bất cứ khái niệm nào che phủ.

2-    Hãy thẩm tra bản chất sâu thẩm của tâm lập đi lập lại để khơi mở việc vắng bóng sự tồn tại cố hữu của nó, tánh không của nó. Hãy quán chiếu trên sự lệ thuộc của tâm thức vào các nguyên nhân, điều kiện, và những thành phần của nó. Đối với tâm, bất cứ chiều dài nào của thời gian đối với tâm – cho dù là một phút hay một sát na ngắn ngủi nhất – lệ thuộc vào những thành phần trước đó và sau đó của thời khắc đó.

3-    Hãy cố gắng để nhận ra khả năng tương thích của tâm với tánh không của nó của sự tồn tại cố hữu; hãy thấy sự hổ trợ hổ tương của hai thứ này với nhau như thế nào.

 

Mật Tông

 

Vì sự thực hành Mật tông chính yếu là để chuyển hóa vấn đề ta thấy tự ta, những người khác, và môi trường như thế nào, cho nên nó có thể rất lợi ích để quán tưởng chính ta như có một động cơ từ bi, thân thể tinh khiết, và những hành vi làm lợi ích cho những người khác.

 

*

 

Mặc dù kiến thức của tôi là giới hạn và kinh nghiệm của tôi là rất nghèo nàn, nhưng tôi đã cố gắng tối đa để giúp các bạn thấu hiểu toàn bộ chiều rộng giáo huấn của Đức Phật. Xin hãy triển khai thực hiện bất cứ điều gì trong những trang này xuất hiện cho có lợi ích. Nếu bạn theo những tôn giáo khác, xin hãy đón nhận bất cứ điều gì có thể hổ trợ bạn. Nếu bạn không nghĩ nó có lợi ích gì, thì hãy cứ quên đi.

 

*

 

Ẩn Tâm Lộ, Thursday, May 9, 2019

 

 


[1] Thiền chủ quan (subjective meditation): không tập trung trên tâm thức hay nổ lực của ý chí. Đúng hơn là việc tìm kiếm cội nguồn của tâm thức, truy tầm gốc rể của “cái tôi”.

 

[2] Thiền khách quan (Objective meditation): là tập trung tâm thức trên một đối tượng, đối tượng có thể là thân tướng của một bổn tôn, ánh sang, bầu trời, …, một số phảm chất như từ ái, bi mẫn, tự làm mạnh một cách chủ động. Tâm thức tập trung trên đối tượng bằng một nổ lực của ý chí.

[3] Hình sắc, cảm giác, những phân biệt, các nhân tố cấu thành, và thức.

[4] Magical Array Tantra

[5] Repetition of the Names of Manjushri Tantra

[6] Negative particle

[7] Noumenal sphere

[8] Indestructible drop

[9] Báo thân và hóa thân

[10] Pháp thân

[11] Noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất.

[12] Tri thức tập nhiễm: Tân huân chủng tử

[13] Tri thức bẩm sinh: Bản hữu chủng tử - câu sanh chủng tử

[14] Phiền não chướng

[15] Sở tri chướng

[16] Báo thân

[17] Hóa thân

[18] Maitreya’s Ornament for Clear Realization

[19] Three phases of the moon

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/06/201911:44(Xem: 624)
Tôi luôn luôn nói trong cung cách bình thường như bổ sung cho tiếng Anh không lưu loát của tôi. Tôi không thích nghi thức. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng là những con người từ thân thể, tinh thần đến cảm xúc. Tầm quan trọng của một người là tính sáng tạo của tâm thức. Khi chúng ta đối xử với nhau như những người anh chị em, thì nó sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc.
13/06/201921:01(Xem: 569)
Cái đề của bài viết “Giọt Nước Mắt Sa Di”, thoạt nghe, cứ tưởng như tiếng vọng ai hoài của một cuốn phim truyện đầy tình cảm éo le như Dạ Cổ Hoài Lang hay Hồi Chuông Thiên Mụ… vào một thuở xa xưa!
13/06/201911:09(Xem: 533)
Chúng tôi đã dành mấy tháng nay để đến với miền quê các tỉnh thành Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh và huyện Đông Anh, Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi đến những cánh đồng để quan sát. Mà kết quả là rác nhiều vô cùng. Rác ở đây là túi ni lông, vỏ gói thuốc và vỏ chai lọ đựng thuốc trừ sâu. Tại rất nhiều nơi, hai bên đường và cả dưới kênh, mương, bờ ruộng à vô vàn bịch ni nông đựng rác (không rõ bên trong là loại rác nào). Chúng tôi thật sự bất ngờ về túi ni lông bay khắp nơi, bên bờ ruộng, bên đường làng. Nhiều kênh, mương, sông nhỏ ở một số vùng quê này cũng đã bị ô nhiễm, không thể tắm được như hồi chúng tôi còn nhỏ. Giật mình đau xót.
28/05/201917:46(Xem: 666)
Vườn Yêu Thương thực hành hạnh yêu thương với chương trình “ĐIỀU ƯỚC CHO EM” tại Viện Huyết học truyền máu trung ương, Chúng tôi là những thành viên của Vườn Yêu Thương nên luôn thực hành hạnh yêu thương ở mọi lúc mọi nơi, ở bất cứ nơi nào có thể. Chúng tôi là những người con Phật nên luôn thực hành lời Phật dạy. Và chúng tôi luôn cảm thấy hạnh phúc
27/05/201919:33(Xem: 667)
Một hành giả tiến tới Quả Phật như thế nào qua việc trau đồi thiền quán những con đường của động cơ và tuệ trí? Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật trình bày những trình độ của con đường trong một tuyên bố ngắn gọn và thậm thâm, “Tadyata gate gate paragate parasamgate bodhi svaha,” có nghĩa là, “Thật sự là như vậy, tiến tới, tiến tới, tiến vượt tới, tiến vượt tới triệt để, thành tựu Giác Ngộ.”
27/05/201919:28(Xem: 630)
Trong Phật giáo có hai loại thực tập căn bản Hiển Giáo và Mật Giáo. Cho đến giờ, chúng ta đang thảo luận về sự thực hành Hiền Giáo. Mục tiêu đặc biệt của Mật Giáo là để cung ứng một con đường nhanh hơn vì thế những hành giả đủ điều kiện có thể phục vụ người khác một cách nhanh chóng hơn. Trong Mật Giáo năng lực của quán tưởng được khai thác để hành thiền trong một sự thực hành gọi là bổn tôn du già. Trong sự thực hành này ta tưởng tượng:
27/05/201908:44(Xem: 852)
Vào mỗi lần đại gia đình nhà tôi khi có dịp gặp mặt đầy đủ vào những ngày giỗ lễ lớn quan trọng và phù hợp với School holiday, tôi thường lắng tai nghe các con tôi trao đổi kinh nghiệm sống khi tiếp xúc và xã giao với các bạn bè hay trong công việc của chúng ( hai đứa con tôi mỗi gia đình ngụ tại hai thành phố khác nhau của Australia- Sydney / Melbourne) .
20/05/201912:41(Xem: 638)
Đến tận giây phút này, giờ phút ngồi trước máy tính gõ bàn phím, khi tóc đã bạc sương vào tuổi sáu mươi của đời người ngắn ngủi, tôi vẫn còn nhớ như in buổi học môn Văn của lớp 9/5. Thầy, tôi nhớ không lầm là thầy dạy thế, tạm thời đứng lớp thay cho thầy Xuân mới chuyển công tác, nên cái duyên kết dính với lớp của tôi rất mỏng manh. Buổi học đó thầy giảng đến bài “Các thể loại Thơ”, cứ mỗi thể thơ nhắc đến đều được thầy đưa ví dụ một bài thơ tiêu biểu, và đến thể thơ “Ngũ ngôn” thì thầy đọc ngâm: “Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua…”
17/05/201906:40(Xem: 802)
Theo Yahoo News ngày 19/11/2018, nữ dân biểu Hồi Giáo ILhan Omar vừa đắc cử ở Minnesota (nơi đông đảo sắc dân Somalia) nói rằng bà sẽ tranh đấu để hủy bỏ lệnh cấm mang khăn trùm đầu tại phòng họp của Hạ Viện kéo dài đã 181 năm. Các dân biểu của Đảng Dân Chủ tuần rồi loan báo (vào Tháng Giêng 2019) họ sẽ thay đổi luật cấm choàng khăn tại đây mà điều luật này cũng có nghĩa là cấm đội khăn trùm đầu mà Bà Omar đang đội. Bà Omar còn nói rằng, không ai trùm chiếc khăn này lên đầu tôi. Đó là lựa chọn của tôi và nó được Tu Chính Án Số Một bảo vệ. (No one puts a scarf on my head but me, Omar wrote. “It’s my choice - one protected by the First Amendment.)
16/05/201919:23(Xem: 768)
Từ Bi là căn bản của đạo, căn bản của tất cả pháp lành, như đã được Đức Phật thuyết trong kinh Đại Bát Niết Bàn: “Nếu có người hỏi gì là căn bổn của tất cả pháp lành? Nên đáp: Chính là tâm từ… Này thiện nam tử (Ca Diếp Bồ Tát)! Tâm từ chính là Phật tánh của chúng sanh, Phật tánh như vậy từ lâu bị phiền não che đậy nên làm cho chúng sanh chẳng đặng nhìn thấy. Phật tánh chính là tâm từ, tâm từ chính là Như Lai (Đại Bát Niết Bàn, Tập I, Phẩm Phạm Hạnh (1999, PL2543), tr.520, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh). Vì thế, người con Phật không thể không thực hành hạnh từ bi.