Cho Một Hướng Đi

05/03/201915:03(Xem: 9866)
Cho Một Hướng Đi

matphuonghuong_photo
CHO MỘT HƯỚNG ĐI

Cuộc sống luôn chao đảo, cuồng phong tạp nhạp cuốn trôi xã hội, tuổi trẻ không còn phương hướng, người lớn mệt mỏi chống chọi với bao lo âu. Kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, chính trị, thị trường kinh doanh… dàn trải trước mặt như mọi thứ lềnh bềnh trên mặt sóng thời gian.

Phải chăng chúng ta đang rơi vào tận cùng hổn loạn tâm tưởng. Bấu víu tạm bợ, quơ quàu, lừa đảo, lường gạt, đè ép lẫn nhau để ngoi lên; bất kể đạo lý luân thường, có người làm bất cứ điều gì theo bản năng mà không cần đắn đo suy nghĩ. Tạo ra cơn xáo trộn, tác động đến môi trường chung quanh cùng nhịp điệu xáo trộn như mọi vật tung bay theo cơn lốc. Không còn căn bản sống, không cần biết tương lai, không cần biết ai thiệt hại. Vì một chút dục vọng hay lợi nhuận nhỏ nhoi có thể giết người. Người còn giết dễ dàng huống chi thú vật. Cuộc sống đang là màn tàn sát lẫn nhau. Sinh mạng ngày nay như cọng cỏ rạp theo cơn lốc, có thể bẹp nhúm, có thể trốc gốc cô đơn…

Mở mắt ra nháo nhào vào giòng sống, nhìn nhau bằng ánh mắt ngờ vực thiếu niềm tin; nói với nhau bằng lời nặng nề cau có, đưa cho nhau những độc tố chết người; bỏ vào túi cọc tiền nhơ bẩn không cần xem xét, người đưa tiền biết rằng hôm nay vợ con sẽ thiếu cái ăn, vì cần một chân bảo vệ. Chữ nghĩa tương lai nhẹ hơn cọc vé số vô hồn; trẻ con hồn nhiên vui đùa trên hè phố với tấm thân tàn tạ, quần áo tả tơi. Cụ già co ro bên vĩa hè với nhúm rau khô héo. Cụ ông bươi thùng rác tìm cái gì còn sót lại sống qua ngày. Con chó ốm đói đưa mắt chờ kẻ vứt đồ thừa… Đêm về, mệt mỏi, cô đơn, thèm khát, hận thù… chập chờn dày vò tâm can chìm vào giấc ngủ.

Thế nhưng, vẫn luôn nghe nói về đạo đức, về những lý tưởng phát triển ngày mai. Người người đóng vai bệ vệ qua lớp áo sang trọng che dấu manh tâm thủ lợi bất chính. Một vài cơ sở tôn giáo chiêu mộ niềm tin của những người không còn nơi bám víu. Sống trên sự sống là quy luật ngàn đời như con thuyền bập bềnh trên mặt nước. Thuyền nổi nhờ nước, sự sống này nhờ vào sự sống khác thấp bé hơn.

Tấm lòng nhân đức của những con người thánh thiện, biết chia sớt nhau nỗi khổ niềm đau, như cánh sen lẻ loi trên mặt sình lầy. Có những cuộc chia sớt thật lòng, cũng không thiếu lấy sự chia sớt làm màn the che mắt thánh. Xã hội là thế, và tận cùng xuống cấp của một xã hội cũng chỉ có thế.

Tôn giáo ư? Vâng, tôn giáo luôn nêu khẩu hiệu tình thương và bác ái. Lời khấn nguyện khi thụ phong Linh mục là đức “nghèo khó”, nhưng về quản xứ thì trở thành đức “khó mà nghèo”. Một vài tu sĩ với tâm nguyện xuất gia giải thoát, khi mặc chiếc áo tu vào thì giải thoát trở thành ràng buộc bởi chức sắc  quyền uy. Phật bỏ cao sang để chọn đời sống vô sản, thời nay từ vô sản vào chùa trở thành tư bản cao sang. Sự cách biệt giữa tu sĩ các tôn giáo với dân thường là khoảng cách khó ngăn lấp, ngoại trừ những bậc chân tu ly tham ly dục còn là ánh sáng leo lét soi lối cho những kẻ muốn hướng thượng đường về.

Những tạp nham trong cuộc sống là hiện thân rác rưởi của tâm hồn; tìm đâu nơi an ủi giữa bảo tố cộng nghiệp nhân gian? Dừng lại, vâng, các thiền sư đều bảo dừng lại và buông xuống tất cả những vọng tưởng rối loạn mong cầu. Người mong cầu dừng lại và buông xuống thật khó vì giai duyên ràng buộc, nhưng những người muốn dẫn dắt linh hồn, những người ngỡ mình là giáo chủ cũng chưa đủ can đảm bưông xuống những tham dục, dừng lại những cám dỗ của vị giác nói chi đến những đam mê trần tục, chức quyền.

Tình thương? Vâng, tình thương là cảm xúc của đời thường có đối tượng, đó là tình thương có điều kiện, bản ngã cá nhân đối với cá nhân; tình thương như thế khó cảm hóa lòng người. Mỗi cá nhân có đủ những yếu tố phàm tục, tất sẽ va chạm. Thương không có tình, không có cảm tính, thương vô điều kiện, còn có đối tượng để thương thì thương như làn ánh sáng mong manh trên ngôn ngữ. Còn phân biệt kẻ nghèo người giàu, còn tự ái nhận sự giúp đỡ từ ai đó, còn ý thức mình giúp đỡ kẻ hèn kém, còn đối đãi phân biệt, cái thương đó là sự thương hại của phàm tình. Thương như thế là một cảm xúc tâm lý.

Con người chưa có một pháp hành đủ công năng nâng tâm thức lên một tầng bậc vô vi, thì tình thương chỉ là sự ý thức có cố gắng. Thương là một ánh sáng tự nhiên không cảm xúc, không điều kiện, không đối tượng, đó là ánh sáng trí tuệ hiện thân từ bi, bác ái khi hành giả đạt được trình độ siêu thức một cách tự nhiên. Tình thương hay thương yêu có định hướng, có ý thức là vòng lẫn quẩn tự đánh lừa theo hội chứng giáo chủ.

Dù cho tình thương có đối tượng vẫn tốt hơn vô cảm, nhưng tình thương có điều kiện  thà rằng vô cảm hơn tiêu thụ một tình thương như thế. Tình thương chân thật đủ cảm hóa mọi tệ nạn, và chính mình, tự hóa giải những ách tắc trong tâm. Khởi sự tình thương được dẫn dắt bởi ý thức có thể là nên tảng bước đầu tiến đến nguồn sáng yêu thương của năng lượng vũ trụ; Đó là tình thương siêu thức. Các tôn giáo chân chánh đều nói đến từ bi, bác ái của chân lý, nhưng con người kéo thấp bác ái từ bi xuống tầng cấp đời thường, chính vì thế bác ái từ bi đã bị lòng tham dục lợi dụng dưới nhiều hình thức; Từ đó chống đối lẫn nhau, vì nghĩ rằng họ sai, mình đúng.

Con người nói chung, tuổi trẻ nói riêng hãy chọn cho mình một hướng đi bằng đôi chân tại chỗ. Không mong cầu hướng vọng; hạnh phúc bình an ngay tại chỗ bạn đang sống; những xáo trộn phức tạp bên ngoài chỉ là phản ánh tâm hiếu động chính tự thân. Không ai cho ta bình an, hạnh phúc không đến từ bên ngoài. Biết như thế sẽ không trách móc xã hội, không hờn giận vu vơ, không chạy theo mong cầu để cuối đời còn lại nhúm tóc hai màu và vết chân chim điểm tô khóe mắt. Đèn  dầu không bị gió chao, ánh sáng sẽ tỏa rạng. Tâm an định không bị tác động bởi ngoại cảnh, tinh thương và trí tuệ sẽ sáng ngời. Tình thương và trí tuệ bấy giờ là một điểm linh quang của tuệ giác, soi sáng cho mình và làm điểm tựa cho mọi người chung quanh.

Đó là lý do một Thiền sư, một minh sư, một thánh nhân đem lại sự an lạc cho người đời mỗi khi thân cận gần gũi với các ngài. Các đấng giáo chủ không quyền lực, không quyền lợi mà vẫn được quần chúng tôn sùng, quy ngưỡng, phải chăng chỉ có lòng từ bi chân thật đã cảm hóa?

 Ngày nay giữa bộn bề rối loạn đã đánh mất phương hướng cho cuộc sống an lành, hướng đi không đâu xa, chính ngay chỗ ta đang sống.

 

MINH MẪN

04/3/2019

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14429)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20423)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17709)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15167)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 16995)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12905)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11783)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12435)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8431)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9256)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.