Cho Một Hướng Đi

05/03/201915:03(Xem: 9680)
Cho Một Hướng Đi

matphuonghuong_photo
CHO MỘT HƯỚNG ĐI

Cuộc sống luôn chao đảo, cuồng phong tạp nhạp cuốn trôi xã hội, tuổi trẻ không còn phương hướng, người lớn mệt mỏi chống chọi với bao lo âu. Kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, chính trị, thị trường kinh doanh… dàn trải trước mặt như mọi thứ lềnh bềnh trên mặt sóng thời gian.

Phải chăng chúng ta đang rơi vào tận cùng hổn loạn tâm tưởng. Bấu víu tạm bợ, quơ quàu, lừa đảo, lường gạt, đè ép lẫn nhau để ngoi lên; bất kể đạo lý luân thường, có người làm bất cứ điều gì theo bản năng mà không cần đắn đo suy nghĩ. Tạo ra cơn xáo trộn, tác động đến môi trường chung quanh cùng nhịp điệu xáo trộn như mọi vật tung bay theo cơn lốc. Không còn căn bản sống, không cần biết tương lai, không cần biết ai thiệt hại. Vì một chút dục vọng hay lợi nhuận nhỏ nhoi có thể giết người. Người còn giết dễ dàng huống chi thú vật. Cuộc sống đang là màn tàn sát lẫn nhau. Sinh mạng ngày nay như cọng cỏ rạp theo cơn lốc, có thể bẹp nhúm, có thể trốc gốc cô đơn…

Mở mắt ra nháo nhào vào giòng sống, nhìn nhau bằng ánh mắt ngờ vực thiếu niềm tin; nói với nhau bằng lời nặng nề cau có, đưa cho nhau những độc tố chết người; bỏ vào túi cọc tiền nhơ bẩn không cần xem xét, người đưa tiền biết rằng hôm nay vợ con sẽ thiếu cái ăn, vì cần một chân bảo vệ. Chữ nghĩa tương lai nhẹ hơn cọc vé số vô hồn; trẻ con hồn nhiên vui đùa trên hè phố với tấm thân tàn tạ, quần áo tả tơi. Cụ già co ro bên vĩa hè với nhúm rau khô héo. Cụ ông bươi thùng rác tìm cái gì còn sót lại sống qua ngày. Con chó ốm đói đưa mắt chờ kẻ vứt đồ thừa… Đêm về, mệt mỏi, cô đơn, thèm khát, hận thù… chập chờn dày vò tâm can chìm vào giấc ngủ.

Thế nhưng, vẫn luôn nghe nói về đạo đức, về những lý tưởng phát triển ngày mai. Người người đóng vai bệ vệ qua lớp áo sang trọng che dấu manh tâm thủ lợi bất chính. Một vài cơ sở tôn giáo chiêu mộ niềm tin của những người không còn nơi bám víu. Sống trên sự sống là quy luật ngàn đời như con thuyền bập bềnh trên mặt nước. Thuyền nổi nhờ nước, sự sống này nhờ vào sự sống khác thấp bé hơn.

Tấm lòng nhân đức của những con người thánh thiện, biết chia sớt nhau nỗi khổ niềm đau, như cánh sen lẻ loi trên mặt sình lầy. Có những cuộc chia sớt thật lòng, cũng không thiếu lấy sự chia sớt làm màn the che mắt thánh. Xã hội là thế, và tận cùng xuống cấp của một xã hội cũng chỉ có thế.

Tôn giáo ư? Vâng, tôn giáo luôn nêu khẩu hiệu tình thương và bác ái. Lời khấn nguyện khi thụ phong Linh mục là đức “nghèo khó”, nhưng về quản xứ thì trở thành đức “khó mà nghèo”. Một vài tu sĩ với tâm nguyện xuất gia giải thoát, khi mặc chiếc áo tu vào thì giải thoát trở thành ràng buộc bởi chức sắc  quyền uy. Phật bỏ cao sang để chọn đời sống vô sản, thời nay từ vô sản vào chùa trở thành tư bản cao sang. Sự cách biệt giữa tu sĩ các tôn giáo với dân thường là khoảng cách khó ngăn lấp, ngoại trừ những bậc chân tu ly tham ly dục còn là ánh sáng leo lét soi lối cho những kẻ muốn hướng thượng đường về.

Những tạp nham trong cuộc sống là hiện thân rác rưởi của tâm hồn; tìm đâu nơi an ủi giữa bảo tố cộng nghiệp nhân gian? Dừng lại, vâng, các thiền sư đều bảo dừng lại và buông xuống tất cả những vọng tưởng rối loạn mong cầu. Người mong cầu dừng lại và buông xuống thật khó vì giai duyên ràng buộc, nhưng những người muốn dẫn dắt linh hồn, những người ngỡ mình là giáo chủ cũng chưa đủ can đảm bưông xuống những tham dục, dừng lại những cám dỗ của vị giác nói chi đến những đam mê trần tục, chức quyền.

Tình thương? Vâng, tình thương là cảm xúc của đời thường có đối tượng, đó là tình thương có điều kiện, bản ngã cá nhân đối với cá nhân; tình thương như thế khó cảm hóa lòng người. Mỗi cá nhân có đủ những yếu tố phàm tục, tất sẽ va chạm. Thương không có tình, không có cảm tính, thương vô điều kiện, còn có đối tượng để thương thì thương như làn ánh sáng mong manh trên ngôn ngữ. Còn phân biệt kẻ nghèo người giàu, còn tự ái nhận sự giúp đỡ từ ai đó, còn ý thức mình giúp đỡ kẻ hèn kém, còn đối đãi phân biệt, cái thương đó là sự thương hại của phàm tình. Thương như thế là một cảm xúc tâm lý.

Con người chưa có một pháp hành đủ công năng nâng tâm thức lên một tầng bậc vô vi, thì tình thương chỉ là sự ý thức có cố gắng. Thương là một ánh sáng tự nhiên không cảm xúc, không điều kiện, không đối tượng, đó là ánh sáng trí tuệ hiện thân từ bi, bác ái khi hành giả đạt được trình độ siêu thức một cách tự nhiên. Tình thương hay thương yêu có định hướng, có ý thức là vòng lẫn quẩn tự đánh lừa theo hội chứng giáo chủ.

Dù cho tình thương có đối tượng vẫn tốt hơn vô cảm, nhưng tình thương có điều kiện  thà rằng vô cảm hơn tiêu thụ một tình thương như thế. Tình thương chân thật đủ cảm hóa mọi tệ nạn, và chính mình, tự hóa giải những ách tắc trong tâm. Khởi sự tình thương được dẫn dắt bởi ý thức có thể là nên tảng bước đầu tiến đến nguồn sáng yêu thương của năng lượng vũ trụ; Đó là tình thương siêu thức. Các tôn giáo chân chánh đều nói đến từ bi, bác ái của chân lý, nhưng con người kéo thấp bác ái từ bi xuống tầng cấp đời thường, chính vì thế bác ái từ bi đã bị lòng tham dục lợi dụng dưới nhiều hình thức; Từ đó chống đối lẫn nhau, vì nghĩ rằng họ sai, mình đúng.

Con người nói chung, tuổi trẻ nói riêng hãy chọn cho mình một hướng đi bằng đôi chân tại chỗ. Không mong cầu hướng vọng; hạnh phúc bình an ngay tại chỗ bạn đang sống; những xáo trộn phức tạp bên ngoài chỉ là phản ánh tâm hiếu động chính tự thân. Không ai cho ta bình an, hạnh phúc không đến từ bên ngoài. Biết như thế sẽ không trách móc xã hội, không hờn giận vu vơ, không chạy theo mong cầu để cuối đời còn lại nhúm tóc hai màu và vết chân chim điểm tô khóe mắt. Đèn  dầu không bị gió chao, ánh sáng sẽ tỏa rạng. Tâm an định không bị tác động bởi ngoại cảnh, tinh thương và trí tuệ sẽ sáng ngời. Tình thương và trí tuệ bấy giờ là một điểm linh quang của tuệ giác, soi sáng cho mình và làm điểm tựa cho mọi người chung quanh.

Đó là lý do một Thiền sư, một minh sư, một thánh nhân đem lại sự an lạc cho người đời mỗi khi thân cận gần gũi với các ngài. Các đấng giáo chủ không quyền lực, không quyền lợi mà vẫn được quần chúng tôn sùng, quy ngưỡng, phải chăng chỉ có lòng từ bi chân thật đã cảm hóa?

 Ngày nay giữa bộn bề rối loạn đã đánh mất phương hướng cho cuộc sống an lành, hướng đi không đâu xa, chính ngay chỗ ta đang sống.

 

MINH MẪN

04/3/2019

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/11/2021(Xem: 16836)
Huế, không khí vẫn bình lặng, sự bình lặng làm cho những ai quen sống cuộc đời phóng túng phải kinh hãi và họ kinh hãi là phải lắm, vì rất ít ai có khả năng nghe được tiếng nói từ bình lặng và hiến dâng trọn vẹn cho sự bình lặng đó. Ngày xưa, khi những vị giáo sĩ ngoại đạo tranh cãi nhau, làm cho không khí xáo động hết bình lặng, hoặc tình cờ, hoặc vì chủ đích, đức Phật đi đến giữa chúng tranh cãi ấy, thì trong chúng đó họ tự bảo nhau: “Đức Gotama đến kia kìa! Ngài là bậc an tịnh, trầm lặng, Ngài không muốn ồn ào!”. Họ nói với nhau như vậy xong, họ liền giữ sự im lặng mỗi khi gặp đức Thế Tôn.
08/11/2021(Xem: 17286)
Mùa xuân là hình ảnh của con người. Tâm của con người như thế nào, nó sẽ tạo ra mùa xuân cho con người đúng như thế ấy. Tâm của một người xấu thì không thể nào tạo ra một mùa xuân đẹp cho chính mình, huống hồ gì họ có thể tạo ra một mùa xuân đẹp cho gia đình và xã hội. Mùa xuân là hình ảnh của cộng đồng người. Tâm thức của cộng đồng người như thế nào, họ sẽ tạo ra mùa xuân cho chính cộng đồng của họ đúng như thế ấy. Tâm của một cộng đồng người đặt đức tin của họ vào những thế lực ngoại tại, thì tự thân của cộng đồng đó sẽ tạo ra những biểu tượng thần thánh để tôn sùng và tô vẽ cho mùa xuân của cộng đồng họ qua hình ảnh thánh thần.
08/11/2021(Xem: 16505)
Sáng ngày 6/11/2021, tại thôn Nà Danh, xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Đại diện Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN, và các nhà tài trợ doanh nhân Phật tử Công ty TNHH ToTo, Cục Hải Quan Hà Nội, Công ty Cổ Phần TM&DV Ngọc Hà, Công ty TNHH Kentetsu World Express Việt Nam, Công ty Cổ Phần Tư Vấn Công Nghệ Thiết Bị và Kiểm Định xây dựng CONINCO, cùng Đại diện Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Lê Lai đã tiến hành Khánh thành trường Mầm non trên địa bàn xã.
08/11/2021(Xem: 11101)
Thói quen của chúng sinh thường tự cho mình là trung tâm, và việc mãi mê những ham muốn vật chất không bao giờ thỏa mãn. Đối với mọi thứ trên đời, các bạn muốn sở hữu những thứ tốt, và từ chối những cái xấu, tức là tham lam và chán ghét. Khi tâm trí con người bị chi phối bởi hai thế lực này, họ không thể nhìn nhận sự việc một cách khách quan, và cách đối nhân xử thế dễ bị trục trặc. Một số người nổi tiếng, nhưng họ thực sự có hạnh phúc? Một số người không ngần ngại sử dụng các phương tiện không chính đáng để đạt được danh và lợi, chẳng hạn như làm hại người khác vì lợi ích riêng cho bản thân, hoặc ức hiếp đánh đập những người mà họ không thích. Mọi người không ngừng suy nghĩ về sự khác biệt, và họ có thể cảm thấy tội lỗi khi tỉnh giấc lúc nửa đêm dài trong mộng. Nếu tâm không thể thanh thản thì khó có thể gọi là một cuộc sống hạnh phúc.
08/11/2021(Xem: 12307)
Vô Tầm Vô Tứ Định là tầng Định thứ hai trong bốn chi Thiền do đức Phật thiết lập. Bốn chi Thiền đó gồm Sơ Thiền tương xứng với Sơ Định hay Định Hữu Tầm Hữu Tứ, Nhị Thiền tương xứng với Vô Tầm Vô Tứ Định, Tam Thiền tương xứng với Xả hay An Chỉ Định, Tứ Thiền tương xứng với Chánh Định.
08/11/2021(Xem: 15178)
Tổ chức Từ thiện Xã hội Cộng sinh Toàn cầu và Thiếu Lâm Tự (소림사), thành phố Bucheon, Gyeonggi, Hàn Quốc đã hoàn thiện trong xây dựng ngôi Trường Tiểu học Bucheon Sorimsa (부천소림사초등학교) và trao tặng một nơi lý tưởng học tập cho các em thiếu niên tại Nepal.
08/11/2021(Xem: 26696)
Đây chỉ là chiếc thuyền nan, chưa tới bờ bên kia, vẫn còn đầy ảo tưởng chèo ra biển cả. Thân con kiến, chưa gột sạch đất cát, bò dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nghe tiếng vỗ của một bàn tay trên đỉnh cao. Chúng sinh mù, nếm nước biển, ngỡ bát canh riêu cá, Thế gian cháy, mải vui chơi, quên cảnh trí đại viên. Nắm vạt áo vàng tưởng như nắm lấy diệu quang, bay lên muôn cõi, theo tiếng nhạc Càn Thát Bà réo gọi về Tịnh Độ, ngửi mùi trầm Hương Tích, an thần phóng thoát. Con bướm mơ trăng Cực Lạc, con cá ngụp lặn dưới nước đuôi vàng như áo cà sa quẫy trong bể khổ, chờ thiên thủ thiên nhãn nghe tiếng sóng trầm luân vớt lên cõi Thanh văn Duyên giác. Những trang sách còn sở tri chướng của kẻ sĩ loanh quanh thềm chùa Tiêu Sơn tìm bóng Vạn Hạnh, mơ tiên Long Giáng lào xào bàn tay chú tiểu Lan trên đồi sắn.
08/11/2021(Xem: 22367)
Hiền Như Bụt là tác phẩm biên khảo về Phật Giáo, bút ký pha lẫn văn chương nhưng không phải do một tu sĩ hay một nhà nghiên cứu Phật học sáng tác mà do một trí thức khoa bảng yêu mến và quý trọng Đạo Phật viết ra. Nó là sản phẩm của 20 năm, từ 1992-2012. Hạ Long Bụt Sĩ tên thật là Lưu Văn Vịnh. Ông là một dược sĩ & Cao Học Dược, Cao Học Triết Học Tây Phương -nguyên giảng sư về các bộ môn Triết Học, Tâm Lý Học tại Đại Học Văn Khoa, Vạn Hạnh và Minh Đức. Ông đã xuất bản khoảng 11 tập thơ trong đó có dịch thơ Ả Rập và Thơ Thiền cùng một số sách nghiên cứu lịch sử và triết học. Hiền Như Bụt dày 444 trang xuất bản năm 2020, bao gồm một chương Tổng Quát và sáu chương với những chủ đề: Phật Pháp Trị Liệu Pháp, Đạo Bụt và Khoa Học Vật Lý, Bóng Phật Trong Văn Học, Tư Tưởng Tam Giáo, Đạo Bụt Canh Tân và Chuỗi Ngọc Kinh Phật.
07/11/2021(Xem: 12016)
Phần này bàn về cách dùng đã, đã đã, đã tật và làm đã, đã làm vào thời LM de Rhodes đến truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ). Ngoài các bản Nôm của LM Maiorica ghi ở đoạn sau, tài liệu tham khảo chính của bài viết này là bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
04/11/2021(Xem: 14902)
Sau đây là bản Việt dịch bài giảng pháp của Đại Sư Mahasi Sayadaw (1904-1982) trước các thiền gia trong buổi lễ khai thị ở trung tâm thiền tập Mahasi Meditation Center, Rangoon, Miến Điện. Bài này được dịch từ tiếng Miến sang Anh ngữ bởi Unyi Nyi, và sửa chữa lại năm 1997 bởi Đại Sư Pesala.