06 - Nghĩ về thân và thù

09/02/201920:13(Xem: 9946)
06 - Nghĩ về thân và thù

NGHĨ VỀ THÂN VÀ THÙ

BƯỚC NỀN TẢNG

 

 

 

 

Trong hiện tại con thấy rằng thật không thể chịu nổi vì người thân của con khổ đau, nhưng con vui thích khi kẻ thù con đau khổ, và con dửng dưng đến khổ đau của những người không liên hệ.

 

- Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim [1]

 

 

 Từ nền tảng bản chất thật sự của tâm, chúng ta cần phát triển từ ái và bi mẫn thật mạnh mẽ rằng khổ đau của người khác trở nên không thể chịu nổi.  Vì từ ái và bi mẫn phải được cảm nhận một cách bình đẳng cho tất cả mọi loài chúng sinh, sức mạnh của những thái độ này sẽ tùy thuộc trên mức độ của sự gần gũi hay thân thiết mà chúng ta cảm nhận cho người khác.  Thí dụ, khi một người bạn thân ngã bệnh, cảm giác từ ái và bi mẫn, nguyện ước của chúng ta rằng con người này được tự do khỏi bệnh đau và được hồi phục sức khỏe, là mạnh mẽ hơn nó có thể là cho một người chỉ quen biết, hay cho ai đấy mà chúng ta không thích.  Loại từ ái và bi mẫn này bị lẫn lộn với khao khát theo đuổi một lợi ích nào đấy cho chính chúng ta.

 

Nếu một người trước đây tướng mạo hấp dẫn với cá tính vui vẻ dễ thương đánh mất bề ngoài hay tính tình ấy đi, thì thiện ý để cảm tình với người ấy có thể biến mất.  Nhưng nếu chúng ta có một cảm nhận từ bi cho một người xấu xí, thế thì bất kể dung mạo người ấy thay đổi như thế nào đi nữa, cảm nhận từ bi không bị rơi rớt.  Trong thí dụ lòng thương yêu bi mẫn thứ nhất lẫn lộn với tham dục: người ấy lôi cuốn chúng ta (hay nói đúng hơn đây là luyến ái).  Tâm chúng ta đã thổi phồng những đặc trưng dễ thương của người ấy vì thế tham dục phát sinh, và chúng ta cảm thấy một lòng ước ao khao khát, một hổn hợp của lòng mật thiết và mong ước làm nhỏ đi bất cứ nổi khổ đau nào mà người ấy đang chịu đựng.  Tuy nhiên, lòng bi mẫn thuần khiết không thành kiến hay cục bộ; nó hoàn toàn thấm nhuần với hành xả và hoàn thiện cả bạn và thù.

 

Không có nhận thức bình đẳng, từ ái và bi mẫn không định kiến thậm chí không thể khai triển được.  Một khi chúng ta đã phát sinh một thái độ bình đẳng đối với tất cả, sau đó nó mới có thể nhìn không chỉ những người bạn mà những người trung tính (chẳng ghét-thương) và ngay cả những kẻ thù với một sự mến yêu rộng rãi.  Điều này không dễ dàng.  Thật khó khăn để phát triển một cảm giác thân cận đến mọi người.  Thiền quán phản chiếu là cần thiết.

 

BÌNH ĐẲNG

 

Bắt đầu bằng việc chú ý rằng trong tâm, chúng ta có ba đặc trưng chính cho con người - bạn, người trung tính, và kẻ thù.  Chúng ta có thể có nhiều thái độ đối với họ, nhưng ba loại trên là sự quan tâm của chúng ta ở đây - tham dục, dửng dưng sinh khởi từ sự thờ ơ, và thù hận, tương ứng cho từng thứ.  Khi bất cứ một thứ nào trong ba thái độ này hiện diện, thì không thể phát sinh một cảm giác gần gũi với mọi người.  Tham dục, thù hận, và dửng dưng phải được làm cho trung hòa.

 

THIỀN QUÁN

 

Ở đây là việc chúng ta có thể trau dồi hành xả trong thiền quán như thế nào.

 

1- Quán tưởng một người bạn, một người thù, và một người trung tính một cách đồng thời.

 

2- Thẩm tra cảm giác của chúng ta để thấy ai đang được ôm giữ một cách thân thiết và ai được xem như là xa cách.  Chúng ta cảm thấy gần gũi tự nhiên với bạn chúng ta; việc quan tâm đến kẻ thù, chúng ta không chỉ cảm thấy xa cách mà đôi khi cũng là giận dữ hay phát cáu; chúng ta không cảm thấy gì cho người trung tính hay không quen biết.  Khảo sát tại sao.

 

3- Xem xét có phải người bạn xuất hiện thân cận bởi vì cô ta đã hổ trợ chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

4- Xem xét có phải kẻ thù xuất hiện xa cách bởi vì người ấy đã làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

5- Xem xét có phải chúng ta cảm thấy dửng dưng đối với người trung tính bởi vì người ấy không giúp đở cũng không làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

 

6- Nhận ra rằng, giống như chính mình, tất cả những người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và trong cung cách quan trọng này, họ là bình đẳng.

 

7- Duy trì với nhận thức này cho đến khi nó chìm sâu vào trong tâm hành giả.

 

LÀM NỔI BẬT

 

Nếu chúng ta mở ra khả năng rằng sự tái sinh trong quá khứ và tương lai qua một sự tương tục của đời sống có thể xảy ra, chúng ta có thể làm nổi bật nhận thức bình đẳng bằng việc lưu tâm đến quan hệ mật thiết của tái sinh.  Một sự tương tục của các đời sống có nghĩa là những sự tái sinh không có sự bắt đầu.  Qua tiến triển của nhiều kiếp sống, mọi người có thể đã từng ở trong nhiều loại quan hệ với nhau.  Chúng ta không thể chắc rằng những ai bây giờ là bè bạn đã luôn luôn là bằng hữu trong quá khứ và những ai bây giờ là kẻ thù đã luôn luôn là những người thù địch của chúng ta.  Ngay cả trong một đời sống này, có những cá nhân, người trước đây là kẻ thù nhưng sau này biến thành thân hữu, và những người khác đã từng là bạn hữu nhưng sau này trở thành những kẻ thù.  Việc nhìn vào tương lai, không có lý do gì tại sao một kẻ thù phải mãi là một người thù địch và một người bạn sẽ phải mãi mãi là một bằng hữu.  Bè bạn, kẻ thù, và những người trung tính là bình đẳng bởi vì họ có thể đổi chỗ thay thế cho nhau từ vai trò này sang vai trò nọ.

 

Kết quả là, không có cách nào để quyết định sau cùng một cách hoàn toàn rằng một người nào đấy là kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta và do thế, phải nên loại bỏ, hay là một người nào đó là bạn hữu vĩnh viễn và vì thế phải được yêu mến , hay rằng ai đấy sẽ luôn luôn là một người trung tính xa lạ và do thế phải được đối xử một cách dửng dưng.  Đúng hơn, tất cả đã hành động một cách đồng đẳng như những kẻ thù, bạn hữu, và trung tính.  Nếu ai đấy làm tổn hại chúng ta năm trước nhưng giúp đở chúng ta năm nay, và một người khác giúp đở chúng ta năm rồi nhưng lại làm tổn hại chúng ta hiện tại, họ là như nhau, có phải thế không?  Đây là tại sao thật vô lý trong việc nhất quyết  lưu tâm một người nào đấy chỉ là bạn hữu và một người khác chỉ là kẻ thù, hay chỉ là trung tính.  Cấu trúc căn bản của đời sống là không hoàn toàn ổn định:  đôi khi chúng ta thành công, thỉnh thoảng chúng ta thất bại.  Mọi thứ luôn luôn thay đổi, thay đổi và thay đổi.  Thế đấy, chúng ta trải nghiệm những cảm giác cứng nhắc và ổn cố đối với bạn bè, và kẻ thù như vậy là sai lầm một cách đơn giản.  Phản chiếu trên điều này sẽ dần dần đưa tâm chúng ta đến hành xả (buông bỏ những chấp trước).

 

THIỀN QUÁN

 

1- Suy xét rằng ngay cả trong khoảng thời gian của tuổi thọ kiếp sống này, không chắc chắn rằng những cá nhân đặc biệt nào đấy sẽ luôn luôn là bạn hữu, kẻ thù, hay trung lập.  Quán chiếu những thí dụ của điều này từ chính đời sống của mình - một người trung lập đã trở thành một người bạn; một người trung lập trở thành một người thù; một người bạn trở thành trung lập, hay một người thù; một người thù trở thành một người bạn.

 

2- Quán tưởng ai đấy hiện tại là một người trung lập và tưởng tượng rằng cô ta đem đến sự giúp đở và là tổn hại trong những kiếp sống quá khứ.

 

3- Tưởng tượng một người bạn đã giúp đở nhiều trong kiếp sống này đã đem đến tổn hại cho mình trong một kiếp sống trước và là trung lập vào những lúc khác.

 

4- Tưởng tượng rằng một người thù đã tổn hại mình trong kiếp sống này là trung lập trong một kiếp sống nào đây và đã đem đi đem lại nhiều lần những lợi ích trong những lúc khác.

 

5- Hãy thấy rằng trong nhận thức dài lâu của nhiều kiếp sống, bạn bè, kẻ thù, và người quán sát trung lập tất cả đều bình đẳng giúp đở và gây hại cho mình hay bạn bè mình, vì thế không thể kết luận rằng họ chỉ độc nhất là thứ này hay thứ kia.

 

6- Nhận ra rằng trong dạng thức trong sự giao hảo của tiến trình dài lâu của sự tái sinh không có khởi đầu, không ai trong chúng ta có thể quyết định rằng ai đấy người đã giúp đở hay tổn hại chúng ta trong kiếp sống này đã, đang và sẽ làm như thế trong mọi kiếp sống.

 

7- Quyết định rằng thật không đúng để chỉ ra một người cho sự thân thiết, một người khác cho trung lập dửng dưng, và một người nữa cho sự ghét bỏ.

 

 

Phản chiếu cách này, làm sâu sắc ý nghĩa cảm nhận bình đẳng đối với bè bạn, kẻ thù, và người trung lập.

 

Dường như có thể thiết yếu hơn để quan tâm những gì người khác đang làm cho mình hay đến mình trong hiện tại hơn là những kiếp sống trước đây, nhưng việc  này không như vậy.  Như chúng tôi đã chỉ, vị thế một cá nhân như bạn hay thù có thể thay đổi ngay trong một kiếp sống.  Sự giúp đở hay tổn hại từ một người khác là tạm thời, và chỉ thời gian mà thôi thì có thể không phải là cơ sở cho việc chọn lựa sự mật thiết hay ghét bỏ.  Hãy quyết định rằng thật không thực tế  để khao khát một cách mãnh liệt những ai hiện tại giúp đở mình và thù ghét dữ dội những người hiện tại đang làm tổn hại chúng ta.

 

KỶ NĂNG HỔ TRỢ

 

Khi chúng ta quán chiếu vấn đề này, sự thấu hiểu nồng nhiệt về những người như bạn bè và những người khác như kẻ thù, và sự phát sinh hợp lý của khát vọng và thù ghét, sẽ trở nên yếu ớt  hơn trong sức mạnh.  Tuy thế, để mang mối quan hệ mật thiết của những thiền quán này về tổ ấm, thật hữu ích để phản chiếu trong một khung cảnh  gây ấn tượng sâu sắc hơn.

 

1- Quán tưởng hai người.

 

2- Tưởng tượng rằng một người đang vung quả đấm vào hành giả.

 

3- Phản chiếu trên lý do cho việc trở nên khó chịu: hành giả dường như ở trong một hiểm họa sắp bị đánh.

 

4- Tưởng tượng một cách năng động rằng người thứ hai cùng lúc ấy đang làm điều gì đấy dễ chịu cho chúng ta - cầu nguyện cho chúng ta, tặng phẩm vật cho chúng ta, hay vuốt ve cánh tay chúng ta.

 

5- Thẩm tra tại sao chúng ta quá hài lòng với điều này.  Đó là qua một tinh cảnh tạm thời ngắn ngủi mà chúng ta quá thích ý.

 

6- Thấu hiểu điều này, lưu ý rằng những phản ứng của chúng ta với sự quan tâm đến bạn bè hay kẻ thù là không sâu sắc lắm.

 

THIỀN QUÁN KẾT  LUẬN

 

Không có gì chắc chắn rằng một người bạn, một người thù, và một người dưng sẽ mãi mãi lúc nào cũng giúp đở, gây hại, hay không gây hại cũng không giúp đở.  Khi những tư tưởng và động cơ tiêu cực chẳng  hạn như thù hận hay giận tức hiện diện, ngay cả một người bạn cũng được thấy như một người thù, nhưng khi những tư tưởng đối với một người thù biến mất, thì kẻ thù trở thành một người bạn.  Phản chiếu trên những điều sau đây:

 

1- Từ quan điểm của chính họ những người bạn, những kẻ thù và những người trung tính là đồng đẳng, muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.

 

2- Từ quan điểm của chính chúng ta mỗi một người trong họ đã từng là bạn của chúng ta trong vô số kiếp sống từ vô thì luân hồi sinh tử và chắc chắn sẽ lại giúp đở chúng ta trong tương lai; mỗi loại người ấy là trung lập một cách bình đẳng.

 

3- Vì vậy, từ bất cứ phía nào được quan tâm, chính chúng ta hay những người khác, không có điểm nào trong những nhận thức thổi phồng về thân thiết và chán ghét.  Chúng ta không nên đánh giá người này như căn bản là tốt và người nọ là xấu, mặc dù những hành vi của người ấy có thể là tốt hay xấu, hữu ích hay tai hại.  Không có lý do gì để tử tế với người này và cáu kỉnh với người nọ.  Mặc dù đúng là những cá nhân tạm thời là bạn bè hay thù địch - giúp đở hay tổn hại - thật không đúng để phân biệt bất cứ người nào với thích thú hay thù ghét.

 

Thật quan trọng để diễn tập những thiền quán phản chiếu này với những người đặc thù trong tâm và không chỉ hướng đến tất cả chúng sinh, toàn bộ thì quá lờ mờ để ảnh hưởng một sự thay đổi thật sự của thái độ.  Bằng việc làm việc trên những cá nhân, chậm rãi mở rộng cảm giác này ra ngày càng nhiều người hơn, chúng ta sẽ phát triển một cảm nhận xả buông đối với toàn thể thế giới đời sống.

 

Qua thiền quán này, cuối cùng chúng ta đi đến tại một điểm, nơi mà sự phát sinh những cảm giác mạnh mẽ của khát vọng hay thù hận xuất hiện là vô nghĩa.  Thành kiến yếu đi, và chúng ta thẩm định rằng sự phân loại con người một cách cứng nhắc như bạn bè hay kẻ thù đã là một sai lầm.

 

Giống như làm láng một bức tường trước khi vẽ lên một bức tranh hay chuẩn bị một cánh đồng trước gieo trồng, việc trau dồi một cảm nhận chân thật về tính bình đẳng cung ứng một nền tảng cho bước tiếp theo trong con đường để  yêu thương từ ái:  công nhận tất cả chúng sinh như nhữn người bạn thân thiết.  Bây giờ trau dồi tính bình đẳng sẽ phục vụ như nền tảng cho từ ái.

 

 

 

 

 

Nguyên tác: Foundation Step: Viewing Friend and Foe trích từ quyển How to Expand Love

Ẩn Tâm Lộ ngày 22/10/2011


 



[1] Những Giai Tầng của Con Đường Giác Ngộ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23/02/2021(Xem: 14466)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 20473)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.
23/02/2021(Xem: 17784)
Trong nội dung của ấn bản lần thứ hai của quyển “Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Lý”, chúng tôi vẫn giữ những điểm chính quan trọng của ấn bản lần thứ nhất. Tuy nhiên, chúng tôi đã sửa chữa và bổ sung một vài nơi. Chúng tôi đánh giá cao sự góp ý và phê bình của: GS Lưu Khôn (Cựu GS tại trường ĐHVK Saigon và Cần Thơ), GS Khiếu Đức Long (Cựu GS tại ĐH Vạn Hạnh), Ô. Nguyễn Kim Quang (Cựu học sinh Lycée Petrus Ký 1953-1960), cố Kỹ Sư Nguyễn Thành Danh (Vancouver, Canada). Trong khi viết quyển sách này lần thứ nhất vào năm 1995, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và góp ý của các thân hữu: cố Hoà Thượng Thích Nguyên Tịnh (Cựu Trú trì Chùa Thiền Tôn, Vancouver, Canada), cố GS Nguyễn Bình Tưởng (Cựu Hiệu Trưởng trường Trung Học Vĩnh Bình, và Cựu Giám Học trường Trung Học Nguyễn An Ninh, Saigon), chúng tôi chân thành cám ơn quý vị này.
20/02/2021(Xem: 15223)
Thơ tụng tranh chăn trâu của thiền sư Phổ Minh gồm tất cả mười bài thơ “tứ tuyệt” cho mười bức tranh chăn trâu với các đề mục sau đây: 1. Vị mục: chưa chăn 2. Sơ điều: mới chăn 3. Thọ chế: chịu phép 4. Hồi thủ: quay đầu 5. Tuần phục: thuần phục 6. Vô ngại: không vướng 7. Nhiệm vận: theo phận 8. Tương vong: cùng quên 9. Độc chiếu: soi riêng 10. Song mẫn: cùng vắng
20/02/2021(Xem: 17111)
Kinh Hoa Nghiêm được giải thích là kinh đầu tiên khi Phật đạt chánh đẵng chánh giác sau 49 ngày thiền định. Sau đó người giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát là giảng bằng thiền định tâm truyền tâm nên im lặng suốt 21 ngày. Kinh Hoa Nghiêm nói về Tâm. Kế đến Kinh Lăng Già Phật cũng giảng cho Ma vương và ma quỷ sống trong hang động ở đỉnh núi Lăng Già. Phật giảng bằng tâm truyền tâm ấn nên không có nói bằng lời và giảng về Thức vì Ma vương không còn uẩn sắc nữa mà chỉ còn là tâm thức. Kinh Lăng già là giảng về Duy Thức Luận. (bài viết của cư sĩ Phổ Tấn)
20/02/2021(Xem: 12961)
Washington: Theo báo cáo của The Economist, Trong nỗ lực mới nhất nhằm thắt chặt vòng vây Tây Tạng, Trung Cộng đang buộc người Tây Tạng ít quan tâm đến tôn giáo của họ hơn, và thể hiện nhiệt tình hơn đối với chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo tối cao. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực phủ nhận vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma ra khỏi đời sống tôn giáo của người dân Tây Tạng để xóa bỏ danh tính của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cưỡng chiếm Tây Tạng vào giữa thế kỷ 20 sau thập niên 1950, và kể từ đó đã kiểm soát khu vực cao nguyên tại Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, và Pakistan tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya..
17/02/2021(Xem: 11851)
Nội dung tác phẩm dựa trên một bức tranh nổi tiếng có tên là “Thanh minh thượng hà đồ” (nghĩa là “tranh vẽ cảnh bên sông vào tiết Thanh minh”) của nghệ sĩ Trương Trạch Đoan vào thời nhà Tống cách đây hơn 1000 năm. Thiên tài Albert Einstein đã từng nói: “Nghệ thuật thật sự được định hình bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của người nghệ sĩ sáng tạo”. Và một nghệ sĩ điêu khắc người Trung Quốc – Trịnh Xuân Huy đã chứng minh điều đó qua kiệt tác nghệ thuật của ông trên một thân cây dài hơn 12 mét. Chắc chắn bạn sẽ phải ngạc nhiên về một người có thể sở hữu tài năng tinh xảo đến như vậy!
17/02/2021(Xem: 12545)
Một quán chiếu về những ánh lung linh trên bề mặt một hồ nước gợn sóng lăn tăn bởi làn gió nhẹ. Một con sông khổng lồ của si mê tin tưởng sai lầm tâm-thân là tồn tại cố hữu tuôn chảy vào hồ nước của việc hiểu sai cái "tôi" như tồn tại cố hữu. Hồ nước bị xáo động bởi những làn gió của tư tưởng phiền não chướng ngại ẩn tàng và của những hành vi thiện và bất thiện. Sự quán chiếu ánh trăng lung linh biểu tượng cho cả trình độ thô của vô thường, qua sự chết, và trình độ vi tế của vô thường, qua sự tàn hoại từng thời khắc thống trị chúng sanh. Ánh lung linh của những làn sóng minh họa tính vô thường mà chúng sanh là đối tượng, và quý vị thấy chúng sinh trong cách này. Bằng sự ẩn dụ này, quý vị có thể phát triển tuệ giác vào trong vấn đề chúng sinh bị kéo vào trong khổ đau một cách không cần thiết như thế nào bằng việc điều hướng với tính bản nhiên của chính họ; tuệ giác này, lần lượt, kích hoạt từ ái và bi mẫn.
16/02/2021(Xem: 8666)
Nói về pháp khí, nhạc khí của Phật giáo là nói đến chuông, trống và mõ. Trong ba pháp cụ đó. Tiếng chuông chùa đã gợi nguồn cảm hứng không ít cho những văn, thi sĩ. Hiện nay rất ít tài liệu nói về nguồn gốc của chuông, trống và mõ. Sự kiện trên khiến các học giả nghiên cứu về chuông, trống, mõ gặp trở ngại không nhỏ. Tuy thế dựa vào bài Lịch sử và ý nghĩa của chuông trống Bát nhã do thầy Thích Giác Duyên viết đã đăng trong Thư Viện Hoa Sen, khiến chúng ta biết được người Trung Hoa đã dùng chuông vào đời nhà Chu ( thế kỷ 11 Trước CN – 256 Trước CN ). Riêng việc chuông được đưa vào các chùa chiền ở Việt Nam từ thời nào người viết không biết có tài liệu nào đề cập đến không?
14/02/2021(Xem: 9311)
Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật. Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.