Phiếm Luận Về Ma

11/01/201915:05(Xem: 9213)
Phiếm Luận Về Ma
ghost2_ma
Phiếm Luận Về Ma

Trước khi bàn về ma, chúng ta thử định nghĩa xem “ma” là gì. Thông thường, ma là người đã chết hay người chết. Đang sống thì là người. Nhưng vừa chết một cái đã thành ma, thây ma. Chính vì thế đám ma là nghi thức hoặc tục lệ để khóc than, để tang, thăm viếng, tiễn đưa hoặc chôn cất, hỏa thiêu người chết.

Thế nhưng theo kinh điển, “ma” do chữ Phạn Mâra mà ra. Vì vần “r” không có trong tiếng Trung Hoa nên người Trung Hoa thường gọi là Ma-la thay vì là Ma-ra. Còn Tây Phương định nghĩa “ma” (ghost) như sau, “Đó là sự hiện diện của một người đã chết và được tin rằng xuất hiện và biểu lộ như có sự sống, thường hiện ra dưới hình ảnh mờ mờ.” (an apparition of a dead person which is believed to appear or become manifest to the living, typically as a nebulous image)

Khác với quỷ hay yêu tinh có thể giết hoặc ăn thịt người, ma không hề hại ai. Ma chỉ hù dọa, cám dỗ hoặc làm người ta sợ chứ không hại được người. Tây Phương thật chí lý khi nói rằng “Dead men tell no tales” tức “Người chết thì không còn tiết lộ bí mật/nói năng gì được nữa”. Chính vì thế mà để “diệt khẩu”, diệt nhân chứng, những sát thủ thường giết, thủ tiêu nạn nhân để không một ai biết gì về hành vi tàn ác nữa. Xác chết nằm đó chằng thể nói năng được gì, làm sao có thể hại được người? Thế nhưng tại sao người ta lại sợ ma? Theo Phân Tâm Học, người ta sợ ma không phải sợ cái xác nằm đó mà chính là sợ Sự Chết hay Cái Chết vì Cái Chết hay Sự Chết là điều ghê gớm nhất.

Theo truyền khẩu, sách, truyện, phim ảnh…và có thể do “thần hồn nát thần tính” người ta thấy ma hiện ra dưới rất nhiều hình thức.
-Tiếng kẽo kẹt trong đêm ở bụi tre cũng có thể là ma.
-Một bóng trắng tha thướt trong rừng, có thể do mắt quáng gà, cũng có thể là ma.
-Trong đêm, cánh cửa không có người bỗng nhiên mở ra, cũng có thể là ma.
-Tiếng hú trong tòa lâu đài là do tác động của gió thổi xuyên qua nhiều hành lanh, khe hở cũng có thể là ma kêu quỷ hờn.
-Một bóng người mờ mờ trong đêm tối, giống như người đàn bà gục đầu khóc bên mồ trong nghĩa trang …nhưng khi đến gần thì chẳng có gì cả…cũng có thể là ma.
-Một cảnh cây đong đưa trong cơn gió ban đêm cũng có thể là ma đánh đu.
-Ánh lửa lập lòe trong đêm do đom đóm hay lân tinh chiếu sáng trên cánh đồng vắng…cũng thể là ma trơi.
-Đang ăn uống bình thường, bỗng nhiên nhảy chồm chồm, nói năng nhảm nhí…do bị dồn nén, khủng hoảng tâm thần…cũng có thể nói là bị ma nhập.
-Căn nhà dường như luôn luôn bị phá phách lúc về đêm…như ném đá, cậy cửa…có thể do băng đảng rắn mắt nào đó nghịch ngợm…cũng có thể gọi đó là căn nhà có ma. Nói tóm lại ma hiện diện khắp nơi, từ Âu sang Á. Chỉ khi nào con người “bất tử” tức không chết nữa hoặc tận thế thì mới hết chuyện ma.
- Thế nhưng nhiều khi ma cũng bị “vu oan giá họa”. Chẳng hạn một người do lòng tham-sân-si quá độ, không kiểm soát được mình, đã làm chuyện xấu xa tồi bại, thay vì nhận lỗi lại đổ thừa là “bị ma đưa lối, quỷ đưa đường.” Xin nhớ, mọi hành vi tốt xấu trên thế gian này đểu do chính mình là tác giả hay tác nhân chứ ma quỷ, thần linh không thể can dự vào. Chính mình phải nhận lãnh hậu quả việc mình làm, không thể van vái thần linh, ma quỷ  để rửa tội hay chạy tội được.

            Trên đây chỉ là những con ma tưởng tượng, cảm thấy, dường như thấy, nhưng không thực. Tuy nhiên có những loại ma dưới đây thì rất thực và đang sống chung với chúng ta:
-Ma mãnh tức là kẻ khôn ngoan những chuyện lặt vặt để thủ lợi.
-Ma bùn tức kẻ có những hành vi ám muội không tốt.
-Ma túy bao gồm cần sa, bạch phiến, thuốc phiện… tàn hại tâm trí và cuộc đời con người.
-Ma men là những người nghiện rượu, tê liệt cả ý chí, sống đời phế bỏ, làm khổ cha mẹ, vợ con.
-Ma-cà-bông là bọn người tụ họp, lang thang, phá làng phá xóm, rải đinh trên đường, vẽ bậy lên tường, thậm chí ăn trộm chó bị người ta đánh nhừ tử.
-Ma xó là hạng người ưa tọc mạch vào chuyện riêng của gia đình người ta.
-Ma nữ là những cô gái có thân hình gợi dục, dùng mọi hình thức uốn éo, mời mọc, lời nói lả lơi để quyến rũ người nam thèm muốn, giao hoan, làm tình.
-Ma đói là kẻ quá tham ăn, tham uống, mà người đời gọi là phàm phu tục tử.
-Ma ăn cỗ là loại người làm ăn bất chính như nhũng lạm, ăn cắp của công, xén bớt tiền bạc cứu trợ, dự án để bỏ túi riêng.
-Ma đuổi – là chính mình ù té chạy vì chuyện gì đó, nghe tiếng chân thình thịch phía sau, sợ hết hồn,  nhưng đó chính là tiếng chân của mình.
-Ma phiền là phiền não, buồn bực luôn luôn làm chúng ta cảm thấy không hạnh phúc. Ma phiền não ngự trị trong tâm trí mọi người và hành khổ con người bất cứ lúc nào và ở đâu.

            Đó là ma của cuộc đời, của thế tục, của nhân gian và sống thực trong nhân gian. Thế còn Đạo Phật nhìn ma như thế nào? Trên Thư Viện Hoa Sen, cư sĩ Hoang Phong đã có một bài viết về ma với tựa đề, “Có Ma Hay Không?”. Theo sưu tầm của Hoang Phong thì:
“Thật ra thì ma nhiều lắm, nhưng tựu trung được kinh sách phân loại thành bốn thứ gọi là Tứ ma. 
Tứ Ma của Thừa Kinh Điển là:
 1. Ma cấu hợp (Skandhamara) : đó là thứ ma quái tượng trưng bởi ngũ uẩn làm cơ sở cho khổ đau và cái chết mà ta phải gánh chịu trong cõi luân hồi. Con ma đó gọi là "con ma gánh chịu cái chết", kinh sách tiếng Hán gọi là Ấm ma, Uẩn ma, hay Ngũ chúng ma.
 2. Ma dục vọng (Klesamara) : bao gồm các dục vọng, sự ham muốn, thèm khát, xui khiến ta phạm vào những hành động tiêu cực, tạo ra nghiệp xấu, thu ngắn kiếp nhân sinh, đưa ta vào vòng khổ đau của cõi luân hồi. Đó là "con ma đưa đến cái chết", kinh sách gốc Hán gọi là Phiền não ma.
 3. Ma thần chết (Mrtyumara) : đó là sự hủy hoại, cứu cánh tất nhiên của sự sinh, hậu quả của bản chấtcấu hợp của mọi hiện tượng, tức đấy là quy luật vô thường. Con ma này có tên là "con ma vô thường",kinh sách gốc Hán gọi là Tử ma.
 4. Ma con trời (Devaputramara) : bao gồm những thứ ma làm cho ta đãng trí, phân tâm, xúi dục ta bám víu vào ảo giác của những vật thể bên ngoài và cả trong tâm thức, cản trở sự tu học. Đó là "con ma bấn loạn", kinh sách gốc Hán gọi là Tha-hoá Tự-tại Thiên-tử ma, gọi tắt là Thiên ma, tức thần thánh tay sai của Thiên-hóa Tự-tại Vương.
 Tứ ma của Thừa Kim Cương là
 1. Ma xiềng xích (tiếng Tây Tạng : thogs-bcas-kyi bdud) : con ma này rất hung tợn và lộ liễu, gây ra phiền não, bệnh tật và các chướng ngại bên ngoài. Đây là con ma của sự bám víu và ghét bỏ đối với những vật thể và hiện tượng chung quanh. Con ma này luôn tìm cách trói buộc ta vào những thứ ấy. Kinh sách gốc Hán gọi con ma xiềng xích là Phiền não ma.
 2. Ma thả lỏng (tiếng Tây tạng : thogs-med-kyi bdud) : đó là ba thứ nọc độc chính và năm thứ nọc độc phụ, tức là những dục vọng chính yếu và thứ yếu, những tư tưởng hay tư duy bấn loạn chưa được khắc phục, xâm chiếm tâm thức và gây ra khổ đau cho ta. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Tâm ma.
 3. Ma khánh hỷ (tiếng Tây tạng : dga’-brod-kyi bdud) : đó là con ma đội lốt hân hoan, vui thích, thỏa mãn với chính mình, xem ta hơn cả mọi người, xúi dục ta bám víu vào những "kết quả" và "kinh nghiệm"thiền định đã thực hiện được và cho đấy là cao siêu, rồi trở nên hãnh diện, không chịu cố gắng tu tậpthêm. Kinh sách gốc Hán gọi con ma này là Thiện-căn ma.
 4. Ma kiêu căng (tiếng Tây tạng : snyems-byed-kyi bdud) : đó là con ma ngạo mạn, tự mãn, tự kiêu, tự đại. Đấy là bản chất căn bản của con ma mang tên là cái "ta", cái "tôi", cái "ngã". Kinh sách gốc Hán gọi con mà này là Tam-muội ma.

            Tôi năm nay đã ngoại thất tuần. Ở Việt Nam, từ lúc tấm bé đã nghe nói về ma, đọc truyện ma, kể chuyện  ma, qua các ngõ vắng về đêm đều ù té chạy vì sợ ma. Rồi qua Mỹ hơn 30 năm cũng nghe người ta nói, viết về ma, chụp hình được cả ma nhưng bản thân chưa hề thấy ma bao giờ. Thế nhưng có điều tức cười là, để mua vui cho đời, với tư cách một nhà văn, để ẩn dụ và triết lý, tôi cũng viết vài truyện ngắn về ma, hoàn toàn bịa đặt. Nay học Phật, tôi có ý nghĩ hoàn toàn khác về ma. Là người con Phật chúng ta nên và không nên:
1)      Không nên sợ ma. Ma khác với quỷ và yêu tinh - ma không bao giờ hại người. Vì thế chúng ta nên đối xử với ma như người còn sống. Theo giáo lý nhà Phật, ma là những oan hồn uổng tử không thể đầu thai hoặc vì chết oan ức, hoặc còn quyến luyến, hận thù, thương tiếc những gì có trước khi chết khiến thần thức u trệ không sao đầu thai được. Nghĩ cho cùng ma thật đáng thương, đáng cứu vớt.
2)      Nếu ma có hiện lên, chẳng qua là ma muốn giãi bày một tâm sự, một niềm u uẩn gì đó, một nguyện vọng gì đó, hoặc vì đói lạnh chứ không phải để hãm hại chúng ta. Tôi chưa bao giờ nghe nói ma hại người - mà chỉ có người hại người thôi.
3)      Không nên tìm thầy pháp, thầy bùa để trừ ma. Làm như thế là hủy hoại lòng Từ Bi. Đức Phật dạy chúng ta xót thương và cứu vớt muôn loài chúng sinh. Bồ Tát  Địa Tạng còn tìm vào địa ngục để độ cho những kẻ có tội mà. Ma nhiều khi chính là ông bà, cha mẹ, anh em, con cái chúng ta đã chết đi. Tại sao chúng ta không cứu vớt họ mà lại “trừ khử” họ?
4)      Do đó, khi thật sự thấy ma, bị ma ám, ma hành, chúng ta nên mời ni/sư tụng kinh siêu độ trong tinh thần Từ Bi/Giải Thoát của nhà Phật. Chư tăng/ni trong mọi khóa lễ đều cầu nguyện “Âm siêu dương thới”, tức người chết cũng cần được hưởng những gì tốt lành qua lời dạy của chư Phật.

Tuy nhiên có những thứ ma sau đây chúng ta phải cảnh giác, xa lánh hoặc diệt trừ, đó là:
-Ma túy cần phải diệt trừ vì nó tàn hại nhiều thế hệ thanh niên, gây tội phạm và băng hoại xã hội.
-Ma men cần phải xa lánh vì “rượu vào lời ra” hoặc không còn kiểm soát được đầu óc khiến lái xe giết người hàng loạt, đánh đập vợ con, gia đình đổ vỡ, bản thân sống như một kẻ tàn phế.
-Ma-cà-bông sống lang thang phóng đãng, phá làng phá xóm, vẽ bậy lên tường, ăn cắp ăn trộm, nghiện ngập xì ke ma túy khiến gây bất ổn xã hội.
-Ma-lanh là thủ đoạn khôn ngoan lặt vặt để thủ lợi khiến nhân cách trở nên xấu xa. 
-Ma bùn là có hành vi xấu, lén lút giống như “ngụy quân tử”.
-Thiên Ma hay Ma Ba Tuần cai quản cõi trời Tha Hóa Tự Tại (tầng trời thứ sáu) không tin vào chánh pháp, chấp thủ tà kiến tự ngã và thường đoạn kiến sâu nặng, không muốn có người tu đắc đạo thoát khỏi luân hồi trong ba cõi. Ma Ba Tuần trong thế gian này có thể  hiểu là người hoặc giàu có, trí thức, có quyền thế nhưng không tin chính pháp, phỉ báng và ngăn cản người tu học. Ma Ba Tuần cho rằng sống chỉ để hưởng thụ và không cần hướng thượng và cứu giúp mọi người và không tin luân hồi, nhân quả.
-Ma nữ là thứ ma cuối cùng nguy hại không sao lường hết được. Thời đại văn minh điện tử ngày nay có cả triệu ma nữ gọi là “gái sexy”, “hot girl”, ăn mặc hở hang, dâm ô, đóng phim sex, chụp hình phô bày cả bộ phận sinh dục để  kiếm tiền. Mở bất cứ trang báo điện tử nào ra cũng đều thấy hàng loạt, hàng loạt ma nữ được quảng cáo nhiệt tình. Loại ma nữ này xuất hiện trong cả các đại hội Liên Hoan Điện Ảnh, trình diễn thời trang ăn mặc gần như trần truồng, được dùng để quảng cáo bán hàng, ngụy trang qua các dịch vụ đấm bóp, du lịch (sex tour), phòng trà, quán nhậu ôm, cà-phê ôm, quán rượu. Lại còn có cả ma nữ ăn mặc hở hang lái xe đua lượn trên đường phố trong những ngày hội, rồi tự chụp hình đưa lên mạng lưới toàn cầu cho người ta xem. Các loại ma nữ này náo loạn thanh niên, thiếu nữ, đại gia, các chịnh trị gia… đã đành mà còn hủy hoại cuộc đời của nhiều nhà tu hành. Dính vào ma nữ coi như sự nghiệp tiêu tan, tiếng xấu để đời. Thế nhưng ma nữ là loại ma hấp dẫn,  đàn ông ông, con trai ai cũng thích lao vào. Ma nữ là loại ma không có trí tuệ và không biết xấu hổ. Mục đích chính của nó là phô bày thân thể để mời gọi đàn ông. Ngay Đức Phật trước khi thành đạo còn bị ma nữ não hại, nhưng ngài vượt qua được.

             Viết về chuyện ma, bàn tán về ma là chuyện ngàn đời nhiều khi chỉ để hù dọa trẻ con, mua vui, câu độc giả hay trám chỗ trên mấy tờ báo. Là người học Phật chúng ta không sợ ma chết mà sợ ma sống. Chính ma sống làm não loạn và làm xấu con người mà ma nữ là trở ngại chính trên bước đường tu hành. Ngài A Nam tí nữa cũng chết vì ma nữ. Cho nên người tu hành, từng giây, từng phút phải cảnh giác với ma nữ. Ma nữ là hình ảnh nổi bật của hai chữ Ái-Dục.

Nói chung, ma không có thật. Và nếu có thật thì chẳng có gì đáng sợ. Nhưng nếu hiểu “ma” là chúa tể của dục vọng hay ham muốn của chính chúng ta….thì ma đó vô cùng đáng sợ, hãm hại chúng ta đã đành, mà còn hủy diệt luôn cả trái đất này.
Đào Văn Bình
(California ngày 10/1/2019)
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11146)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12048)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12606)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11557)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11689)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12375)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11858)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11482)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 10013)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12874)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.