Chương 10: Tâm Bồ Đề

08/01/201920:36(Xem: 7021)
Chương 10: Tâm Bồ Đề

CHƯƠNG 10:  TÂM BỒ ĐỀ

 

 

 

Monday, October 22, 2012

 

CHÚNG TA ĐÃ NÓI rất nhiều về bi mẫn và hành xả và ý nghĩa gì của việc trau dồi những phẩm chất này trong đời sống hàng ngày của chúng ta.  Khi chúng ta đã phát triển cảm nhận về lòng bi mẫn đến điểm mà chúng ta cảm thấy trách nhiệm đối với tất cả chúng sanh.  Người Phật tử kêu gọi nguyện vọng để đạt đến một thể trạng tâm bồ đề, và một người đã đạt được thì gọi là một vị bồ tát.  Có hai phương  pháp để mang đến thái độ này.  Một gọi là Phương pháp Bảy phần Nhân Quả, xoay quanh việc nhìn tất cả chúng sanh như đã từng là bà mẹ của chúng ta trong quá khứ.  Còn thứ kia là, Hoán Đổi Tự Ngã với Người Khác, chúng ta nhìn tất cả những người khác như ta làm với chính ta.  Cả hai phương pháp được xem như những sự thực tập của phương pháp, hay con đường bao la.

 

 

PHƯƠNG PHÁP BẢY PHẦN NHÂN QUẢ

 

Nếu chúng ta đã từng tái sanh hết lần này đến lần khác, đấy chính là chứng cớ rằng chúng ta đã từng cần nhiều bà mẹ để sinh ra chúng ta.  Phải nên nhớ rằng sự sinh ra của chúng ta không giới hạn trong hành tinh trái đất này.  Theo quan điểm của Đạo Phật, chúng ta đã trải qua vòng sanh tử rất lâu xa hơn trái đất này đã tồn tại.  Những đời sống quá khứ của chúng ta do thế là vô số, cũng như những chúng sanh đã từng sinh đẻ ra chúng ta.  Thế nên, nguyên nhân thứ nhân thứ nhất đem đến tâm bồ đề là việc nhận ra rằng tất cả chúng sanh đã từng là mẹ của chúng ta.

 

Lòng yêu thương và ân cần biểu lộ với chúng ta bởi mẹ chúng ta trong kiếp sống này sẽ thật khó khăn để đền đáp.  Bà đã chịu nhiều đêm thiếu ngủ để chăm sóc chúng ta khi chúng ta là những đứa trẻ bất lực.  Bà đã nuôi dưỡng chúng ta và sẽ sẳn lòng hy sinh mọi thứ, kể cả mạng sống của bà để bảo toàn chúng ta.  Khi chúng ta quán chiếu tấm gương về lòng tận tụy yêu thương của bà, chúng ta phải xem như mỗi một chúng sanh suốt vòng sanh tử đã cư xử chúng ta trong cách này.  Mỗi con chó, con mèo, con ruồi, và con người đã từng là mẹ của chúng ta trong một thời gian nào đó của quá khứ vô tận và biểu lộ tràn đầy lòng yêu thương và ân cần đối với chúng ta.  Một tư tưởng như thế phải mang đến lòng cảm kích.  Đây là nguyên nhân thứ hai của tâm bồ đề.

 

Khi chúng ta hình dung điều kiện hiện tại của tất cả chúng sanh này, chúng ta bắt đầu phát triển lòng khao khát để giúp họ thay đổi số phận của họ.  Đây là nguyên nhân thứ ba, và từ đó sinh ra thứ tư, một cảm nhận từ ái yêu mến tất cả chúng sanh.  Đây là một sự hấp dẫn đối với tất cả chúng sanh, tương tự như một đứa trẻ cảm nhận đối với việc thấy bà mẹ của nó.  Điều này hướng chúng ta đến lòng bi mẫn, chính là nguyên nhân thứ năm của tâm bồ đề.  Lòng bi mẫn là một nguyện ước tách rời những chúng sanh khổ não này, những bà mẹ của chúng ta trong quá khứ, khỏi hoàn cảnh khốn cùng của họ.  Tại điểm này, chúng ta cũng trải nghiệm lòng từ ái, một nguyện ước rằng tất cả mọi chúng sanh sẽ tìm thấy hạnh phúc.  Khi chúng ta tiến hành qua những giai tầng của trách nhiệm, chúng ta đi từ nguyện ước rằng tất cả chúng sanh sẽ tìm thấy hạnh phúc và giải thoát khỏi khổ não đến trách nhiệm đảm đương một cách cá nhân trong việc giúp họ thâm nhập thể trạng vượt khỏi khốn cùng này.  Đây là nguyên nhân cuối cùng.  Khi chúng ta xem xét một cách kỷ lưỡng làm thế nào để giúp đở họ một cách tốt đẹp nhất, chúng ta suy ra được việc đạt đến thể trạng toàn tri và toàn giác của Quả Phật.

 

Vấn đề ẩn tàng trong phương pháp này là trung tâm của Phật Giáo Đại Thừa: nếu tất cả chúng sanh khác đã từng ân cần đối với chúng ta từ vô thỉ kiếp đang khổ não, làm thế nào chúng ta có thể tự dâng hiến để theo đuổi hạnh phúc cho riêng mình?  Để tầm cầu hạnh phúc của riêng chúng ta mặc cho những chúng sanh khổ não đang trải nghiệm đau thương là bất hạnh bi thảm.   Do vậy, rõ ràng rằng chúng ta phải cố gắng để giải thoát tất cả chúng sanh khỏi khổ não.  Phương pháp này giúp chúng ta trau dồi lòng khao khát để làm như thế.

 

 

HOÁN ĐỔI TỰ NGÃ CHO NGƯỜI KHÁC

 

Một phương pháp khác để mang đến tâm bồ đề, nguyện vọng đạt đến giác  ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sanh là Hoán Đổi Tự Ngã và Người Khác.  Trong phương pháp này chúng ta hành động với việc nhận thức vấn đề chúng ta lệ thuộc trên những người khác như thế nào đối với tất cả những thứ chúng ta có.  Chúng ta quán chiếu những ngôi nhà chúng ta ở, áo quần chúng ta mặc, những con đường chúng ta lái xe, tất cả đã được tạo ra bởi việc làm khó nhọc của người khác như thế  nào?  Rất nhiều công đoạn đã trải qua trong việc cung ứng cho chiếc áo sơ mi mà chúng ta mặc, từ việc trồng bông vải để kéo sợi, dệt thành vải, và may thành áo mặc.  Lát bánh mì chúng ta ăn đã được nướng bởi người nào đấy.  Lúa mì đã được gieo trồng bởi những người khác nữa và sau khi tưới tẩm và bón phân, đã được thu hoạch và sau đó được xay thành bột.  Việc này phải nhào nặn thành bột nhão và rồi nướng một cách thích hợp.  Thật không thể đếm tất cả những người đã liên hệ trong việc cung cấp chúng ta với một lát bánh mì đơn giản.  Trong nhiều trường hợp máy móc đã làm nhiều công đoạn; tuy nhiên, chúng phải được sáng chế và sản xuất, và phải được điều khiển.  Thậm chí các đức hạnh của chúng ta, chẳng hạn như nhẫn nhục và ý thức đạo đức, tất cả cũng được phát triển trong sự lệ thuộc trên những người khác.  Chúng ta ngay cả đi đến cảm kích những ai gây khó khăn cho chúng ta là đang cung ứng cơ hội cho chúng ta phát triển sự bao dung.  Qua sự rèn luyện tư tưởng này, chúng ta đi đến nhận thức vấn đề chúng ta lệ thuộc trên những người khác cho tất cả những gì chúng ta thụ hưởng trong đời sống như thế nào.   Chúng ta phải hành động trong việc phát triển nhận thức này khi chúng ta đi vào cuộc sống sau những buổi hành thiền buổi sáng.  Có rất nhiều thí dụ trong vấn đề chúng ta lệ thuộc vào những người khác.  Khi chúng ta nhận thức chúng, ý thức trách nhiệm của chúng ta đối với người khác phát triển, cũng như khát vọng đền đáp vì sự ân cần tử tế của họ.

 

Chúng ta cũng quán chiếu vấn đề, do bởi luật nghiệp báo, những hành vi bị thúc đẩy một cách vị kỷ đã đưa đến những sự khó khăn mà chúng ta chạm trán trong căn bản đời sống hàng ngày như thế nào.  Khi chúng ta xem xét đến hoàn cảnh của chúng ta, chúng ta thấy những cung cách vị ngã của chúng ta vô nghĩa như thế nào và những hành vi vô ngã như thế nào, thì việc cống hiến để giúp đở người khác là lời khuyên bảo hợp lý.  Xét cho cùng, việc này đưa chúng ta đến một hành vi cao quý nhất trong tất cả mọi hành vi: là việc dấn thân trong tiến trình đạt đến thể trạng của Quả Phật nhằm để giúp đở tất cả chúng sanh.

 

Khi làm việc với kỷ năng Hoán Đổi Tự Ngã cho Người Khác, cũng thật quan trọng để thực hành việc phát triển nhẫn nhục, khi một trong những chướng ngại chính đối với việc phát triển và làm nổi bật lòng bi mẫn cùng tâm bồ đề của chúng ta là một sự thiếu vắng của lòng nhẫn nhục và bao dung.

 

Bất cứ phương pháp nào chúng ta áp dụng để phát triển tâm bồ đề, chúng ta phải duy trì sự chân thật với nó và trau dồi nguyện vọng cao nhất này hàng ngày trong những buổi thiền chính thức và sau đó.  Chúng ta phải làm việc một cách cần mẫn để làm giảm thiểu các bản năng vị kỷ và hất cẳng chúng với những đức tính cao thượng hơn trong lý tưởng bồ tát.  Thật quan trọng để chúng ta trước nhất phát triển một ý thức mạnh mẽ của hành xả, thái độ thông cảm một cách vô tư đối với tất cả chúng sanh.  Việc tiếp tục nuôi dưỡng những sự thiên vị là rất ảnh hưởng trong việc làm khó khăn cho các nguyện vọng đức hạnh của chúng ta, khi chúng sẽ chiếu cố những thứ mà chúng ta gần gũi.

 

Trong khi chúng ta hành động để trau dồi nguyện vọng cao thượng của tâm bồ đề, nhiều chướng ngại làm chúng tự đổ ngã.  Các cảm giác nội tại của luyến ái hay thù địch sinh khởi làm xói mòn những nổ lực của chúng ta.  Chúng ta thấy chính mình bị lôi kéo đối với những thói quen lãng phí thời gian xưa cũ, xem truyền hình hay những người bạn thường lui tới đẩy chúng ta xa rời khỏi mục tiêu cao quý mà chúng ta đang hứa hẹn hiện tại.  Chúng ta phải hành động trong việc vượt thắng những khuynh hướng và cảm xúc như vậy bằng phương tiện của các kỷ năng thiền quán đã được diễn tả trong suốt quyển sách này.  Đây là những bước mà chúng ta phải tiến hành.  Thứ nhất, chúng ta phải nhận thức những cảm xúc phiền não và thói quen không tốt như chứng cớ của việc chúng tiếp diễn tình trạng của luyến ái chấp trước và quán sát một lần nữa bản chất tai  hại của chúng.  Thứ  hai, chúng ta phải áp dụng những phương thức đối trị thích hợp và sắp xếp trật tự quyết tâm không theo đuổi những cảm xúc này xa hơn nữa.  Chúng ta phải duy trì tập trung trên chí nguyện của chúng ta đối với tất cả chúng sanh.

 

Chúng ta đã và đang khám phá cung cách khơi mở những trái tim của chúng ta.  Lòng bi mẫn chính là căn bản của một trái tim cởi mở và phải được trau dồi trong suốt hành trình của chúng ta.  Hành xả loại trừ thành kiến và có thể cho phép lòng vị tha của chúng ta gặp tất cả chúng sanh.  Tâm bồ đề là chí nguyện để hổ trợ họ một cách thật sự.  Bây giờ chúng ta sẽ học những phương pháp mà nhờ đấy chúng ta phát triển sự tập trung cần thiết để trau dồi một khía cạnh khác của việc thực tập của chúng ta, đấy là tuệ trí.

 

Tuesday, October 23, 2012 / 11:00:41 AM

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08/03/2021(Xem: 7253)
Dharamshala: Danh sách tham gia ngày càng tăng, bởi các nhà lãnh đạo thế giới đã được tiêm vaccine COVID-19, vào đầu giờ hành chính ngày 6 tháng 3 vừa qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiêm liều vaccine COVID-19 đầu tiên tại Bệnh viện Zonal, Dharamshala, H.P., Ấn Độ. Sau khi tiêm liều vaccine COVID-19, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi tất cả những người đủ điều kiện, đặc biệt là ‘bệnh nhân bị nhiễm covid-19’ hãy vì lợi ích chung cho xã hội, nhanh chóng đăng ký tiêm liều vaccine COVID-19. “Điều này rất quan trọng, vì vậy tôi đã thực hiện việc tiêm vaccine COVID-19, tôi muốn chia sẻ nhiều người nên đã can đảm để thực hiện tiêm liều vaccine COVID-19 đầu tiên tại Bệnh viện Zonal.
07/03/2021(Xem: 12916)
Huế, cố đô một thời, là thành phố nhỏ bé như vậy mà lại có nhiều chùa nhất so với các miền khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bởi, nơi đây có chiều dài lịch sử lập quốc của nhà Nguyễn từ khi người đầu tiên khai mở là Nguyễn Hoàng, muốn tránh sự sát hại của người anh rể là Trịnh Kiểm nên xin đi xa vào Nam để khai khẩn đất hoang theo sự vấn kế của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua câu phán: “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.“ Và, Chùa Thiên Mụ danh Tự có từ đó. Đứng đầu bảng trong 10 ngôi chùa nổi tiếng tại Huế.
07/03/2021(Xem: 8062)
“Ai thấy Pháp người ấy thấy Ta, ai thấy Ta người ấy thấy Pháp”. Đây là lời dạy của đức Phật dành cho tỷ-kheo Vakkali. Lời dạy này được ghi lại trong Kinh Tiểu Bộ và Kinh Tương Ưng; do Hòa thượng Minh Châu dịch từ tiếng Pàli sang tiếng Việt. Trước khi tìm hiểu lời dạy trên của đức Phật, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về ngài Vakkali một chút.
06/03/2021(Xem: 7392)
Kính bạch Thầy nhân ngày phụ nữ sắp tới và còn trong tháng giêng, con chợt nghe bài hát này , nhớ đến trong bài pháp thoại Thầy kể về cụ bà Tâm Thái . Kính dâng bài thơ này đến Cụ Bà Tâm Thái và những bà mẹ từ thôn quê đến thị thành nhân ngày phụ nữ . Kính, HH Lễ hội 8/3 ngày phụ nữ bình đẳng ! Những bà mẹ quê ....từ sáng tinh mơ, Có khi nào nghĩ đến quyền lợi bao giờ. Sáng chiều vất vã hy sinh trong lặng lẽ !
27/02/2021(Xem: 11715)
Myanmar, đất nước chùa tháp, đang khổ đau. Hưởng ứng lời hiệu triệu kêu gọi của chư tôn tịnh đức tăng già Phật giáo “vì dân, do dân và của dân”, hàng triệu người dân trong mọi tầng lớp đã đổ ra đường phố ở các thị trấn và thành phố trên khắp đất nước Phật giáo Myanmar để phản đối cuộc đảo chính của chế độ độc tài quân sự Myanmar, đã lật đổ Chính phủ dân cử của nhà vô địch dân chủ kỳ cựu, nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) vào ngày 1 tháng 2 vừa qua.
25/02/2021(Xem: 15828)
Phần này bàn về cụm danh từ "khoa học" trong tiếng Việt từ thời bình minh của chữ quốc ngữ đến nay. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là cuốn "The Emergence of the Modern Sino-Japnese Lexicon – Seven Studies" (chủ biên/dịch giả Joshua A. Fogel – NXB Brill – Leiden/London 2015), và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false.
25/02/2021(Xem: 12496)
Vào hôm thứ ba, ngày 16 tháng 2 vừa qua, Đoàn thể Phật giáo Myanmar đã Tuần hành phản kháng chế độ độc tài quân sự Myanmar, tham gia chiến dịch chấm dứt chế độ độc tài quân sự Myanmar dưới sự cai trị hung hãn của các tướng lĩnh quân đội, và trả tự do cho các nhà lãnh đạo bị giam giữ của Chính phủ dân cử bị lật đổ, bao gồm cả nữ cư sĩ Phật tử Aung San Suu Kyi, Cố vấn nhà nước Myanmar, Chủ tịch và Tổng Bí thư Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD).
23/02/2021(Xem: 12634)
Ngày càng có thêm nhiều bằng chứng về việc xây dựng Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) và các cơ sở dân sự ở các khu vực khác ngoài Ladakh, một khu vực ở bang Jammu và Kashmir của Ấn Độ. Nó kéo dài từ Siachen Glacier trong phạm vi Karakoram đến Himalaya ở phía nam và có người gốc các dân tộc Ấn-Arya và Tây Tạng, chẳng hạn như dọc theo biên giới tranh chấp ở Vương quốc Phật giáo Bhutan và Arunachal Pradesh, một trong hai mươi chín bang của Ấn Độ.
23/02/2021(Xem: 13574)
Phật Giáo Việt Nam kể từ khi lập quốc (970) đến nay đã đóng góp rất lớn cho nền Văn Học Việt Nam qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần..v..v.. nhưng không có một Quốc Sử Việt Nam nào ghi nhận cả, điều đó thật là đau buồn, mặc dù Phật Giáo Việt Nam thời bấy giờ và cho đến bây giờ không cần ai quan tâm đến. Phật Giáo Việt Nam nếu như không có công gì với núi sông thì đâu được vua Đinh Tiên Hoàng phong Thiền sư Ngô Chân Lưu đến chức Khuông Việt Thái Sư và chức Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam vào năm Thái Bình thứ 2 (971). Cho đến các Thiền sư như Pháp Thuận, Vạn Hạnh,v..v.... đều là những bậc long tượng trong trụ cột quốc gia của thời bấy giờ, thế mà cũng không thấy một Quốc Sử Việt Nam nào ghi lại đậm nét những vết son cao quý của họ.
23/02/2021(Xem: 19465)
Văn học thời Trần là giai đoạn văn học Việt Nam trong thời kỳ lịch sử của nhà Trần (1225 – 1400). Văn học thời Trần tiếp tục và có nhiều bước tiến bộ rõ rệt hơn so với văn học thời Lý (1010 – 1225). Văn học thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo. Tư tưởng Phật giáo chủ yếu trong văn học thời Trần là tư tưởng thiền học.