41. Tưởng Tượng

04/01/201909:36(Xem: 26559)
41. Tưởng Tượng

Tưởng Tượng

(giọng đọc Lê Quý Bình)

 

Hoàn cảnh chỉ có thể làm cho ta đau, nhưng chính trí tưởng tượng sai lầm mới là thủ phạm giết ta chết.

 

 

 

Sống trong mộng tưởng

 

Một lần nào đó, vô tình ta tìm thấy kỷ vật của người thân yêu, bỗng nhiên những kỷ niệm ngọt ngào năm xưa lũ lượt kéo về tràn đầy trong tâm khảm. Ta thấy rất rõ ánh mắt và nụ cười rạng rỡ của người ấy. Ta nghe văng vẳng bên tai từng lời an ủi dịu dàng của ngày nào. Ta nhớ cả mùi nước hoa mà người ấy thường sử dụng. Ta không thể nào quên được cảm giác lần đầu khẽ chạm vào đôi bàn tay nồng ấm. Dường như tâm ta đã ghi nhớ tất cả.

 

Ngay khi ta vừa mới trò chuyện với một người nào đó xong, nếu đây là câu chuyện hấp dẫn hay đáng nhớ, thì liền ngay sau đó những hình ảnh và âm thanh dễ chịu ấy sẽ liên tục tái hiện. Nó gần như chiếm hết hoạt động của não bộ. Thỉnh thoảng ta cười khúc khích hay thầm thì một mình như cuộc đối thoại vẫn chưa tan. Đang lái xe trên đường cao tốc ta lại ngỡ mình đang đi giữa khung trời thơ mộng, đến khi xe lạc vào lối khác thật xa hay nghe tiếng kèn xe inh ỏi phía sau ta mới sực tỉnh. Ta có cảm tưởng như mình đang bị một lực nào đó ở bên ngoài kéo đi. Thật ra, chính những hình ảnh trong tâm đã cạnh tranh và lấn át thực tại đó thôi. Tất cả những dữ liệu đó đã được lưu trữ trong kho chứa tâm thức (còn gọi là tàng thức), nên khi bị kích động thì nó sẵn sàng tái hiện như một cuốn phim ráp nối không đầu không cuối. Nơi màn ảnh để cuốn phim tái hiện chính là tâm tưởng.

 

Hoạt động của tâm tưởng không thể tách rời với tâm thọ, tâm hành và tâm thức, nên tất cả những gì xảy ra trong những tâm kia đều tác động đến tâm tưởng. Thí dụ, khi nghe gió lạnh từ đâu tràn về, lòng ta bỗng se lại rồi chợt thèm tách cà phê nóng nơi quán cóc ở một góc đường tĩnh lặng nào đó. Bởi ta đã trải qua cảm giác đáng nhớ ấy ít nhất một lần trong quá khứ. Cảm giác được cái lạnh chính là chức năng của tâm thọ (còn gọi là cảm thọ). Tâm thọ nhanh chóng truyền thông tin ấy về tâm thức để nhận dạng. Khi tâm thức tìm được dữ liệu nào ấn tượng nhất liên quan tới cái lạnh, nó sẽ cho hiện lên trong tâm tưởng. Ngay lúc ấy, nếu tâm hành cũng tham dự bằng nỗi lo buồn thì lập tức một viễn cảnh tương lai sẽ được dựng lên. Có khi mơ hồ, có khi rõ rệt. Trong đó có một số dữ liệu cũ, nhưng cũng có một số hình ảnh hoàn toàn mới. Tâm tưởng tuy có thể đưa ra những ý kiến sáng tạo bất ngờ đến kinh ngạc, nhưng nó vẫn là sự tái chế tinh xảo trong chủ động hoặc cả trong vô thức. Cho nên, không có tuyệt tác nào đến từ một siêu ý tưởng bất chợt cả. Những chất liệu làm nên ý tưởng đó có thể đã được lưu trữ từ hàng chục năm trước qua sự trải nghiệm hay góp nhặt. Dù vậy, tần suất biến đổi của tâm tưởng vẫn luôn cao hơn các tâm khác.

 

Phải xác nhận rằng tâm tưởng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống. Không có tâm tưởng thì không có sáng tạo, không có tuyệt tác, không có những dự phòng cần thiết. Tuy nhiên, cũng chính tâm tưởng đã khiến ta không thể chấp nhận và sống sâu sắc với hiện tại, vì nó luôn dệt lên những giấc mộng hấp dẫn xa xôi. Khi ta đứng núi này lại trông núi nọ, nhìn người này hóa ra người khác thì làm sao thấy được hạnh phúc mình đang có trong tay mà tận hưởng? Đó chính là vọng tưởng. Dường như bây giờ ai ai cũng đang sống trong vọng tưởng, trong đầu họ lúc nào cũng đầy rẫy những hình ảnh âm thanh đan xen nhau một cách hỗn loạn. Bởi vì họ cho rằng càng nghĩ ra được nhiều ý tưởng hay để đem về lợi nhuận thì càng tốt. Nhưng hoạt động của tâm tưởng một khi đã vượt tầm kiểm soát và đến mức không thể dừng lại được nữa, thì toàn bộ cơ chế tâm thức sẽ bị đảo lộn và chuyển sang cung bậc khác. Đó là những dạng mà ta thường thấy: đãng trí, loạn tưởng, trầm cảm hay tâm thần. Khi ấy, họ sẽ nhìn mọi thứ bằng nhận thức hoàn toàn mới lạ, một thế giới mơ mơ màng màng mà họ hoàn toàn không nhận ra và định vị mình được nữa.

 

Bây giờ người ta dễ bị mắc vào chứng bệnh "hoang tưởng". Nguyên nhân từ một chấn động quá lớn trong lúc tinh thần đang yếu ớt, hoặc do một nỗi ám ảnh nào đó kéo dài từ trong quá khứ. Nhưng phần lớn là do họ chìm đắm trong mộng tưởng quá lâu mà không được ai đánh thức, vô tình họ đồng hóa giữa thực tại với những gì mình đang suy tưởng. Đầu tiên, bệnh nhân rơi vào tình trạng đánh mất niềm tin nơi bản thân và luôn mong chờ một điều gì đó tốt đẹp sắp đến để thay đổi cuộc đời mình. Sau đó, họ cảm nhận những gì đang xảy ra xung quanh dường như đã từng được thấy ở đâu rồi, có gắn kết với số phận của họ. Rồi họ cố gắng phân tích, giải thích theo lối suy diễn mông lung của mình. Theo thời gian, những suy nghĩ ấy được củng cố thành hệ thống vững chắc, không gì có thể thay đổi được. Hoang tưởng nếu không sớm điều trị thì sẽ ảnh hưởng nặng nề đến thái độ sống và làm thay đổi cả nhân cách. Từ một người đạo đức có thể trở thành kẻ tội phạm tàn ác.

 

Những người trẻ bây giờ hay tự đánh giá rất cao bản thân để cố gắng dựng lên những giấc mộng xa tít tầm tay, như thể là người có chí lớn. Nhưng thực chất khoảng cách giữa tài năng hiện tại và giấc mộng của họ quá đối nghịch. Thậm chí, họ chưa từng nắm bắt được những mục tiêu rất gần, cũng chưa chạm tới những tiêu chuẩn căn bản trong cuộc sống. Họ chỉ đang sở hữu mỗi lòng tham và trí tưởng tượng quá lớn. Bởi đó cũng là cách để họ cứu rỗi niềm hy vọng sau bao lần thất bại và chứng tỏ giá trị của mình trước mọi người. Mãi mơ về một điều không có căn cứ thì cũng là "bệnh tưởng", rất gần với hoang tưởng.

 

Trí tưởng tượng quá phong phú đôi khi đưa ta vào thế "tự mình hại mình" chỉ vì muốn bảo vệ mình. Có một anh chàng nọ vội vã chèo thuyền ngược dòng nước giữa lớp sương mù dày đặc. Bỗng thấy từ xa có một chiếc thuyền đang xuôi dòng, nó lao tới rất nhanh và đâm đầu thẳng vào phía anh. Anh chàng hốt hoảng la lớn lên: "Ê, thuyền ai đó, coi chừng lủi vô thuyền tôi nè!". Vừa nói dứt lời thì hai chiếc thuyền đâm sầm vào nhau và lật úp. Nước sông buổi sáng sớm lạnh buốt khiến anh chàng run rẩy và càng thêm tức giận. Anh ta hối hả bơi tới định "thưởng" người kia một quả đấm cho đích đáng. Nhưng khi lật chiếc thuyền lên thì không thấy ai cả. Thì ra chiếc thuyền bị tuột dây nên trôi theo dòng nước, chứ không phải do ai đó vô ý vô tứ hay cố tình gây chiến như anh chàng đã nghĩ.

 

Bản năng tự vệ là rất cần thiết. Nhưng nếu nó bị thúc đẩy quá mạnh bởi những kinh nghiệm cũ rích thì thế nào cũng tạo nên những hành động sai lầm. Quen dùng đến kinh nghiệm tích lũy hơn là quan sát thực tại là do tâm sợ hãi và tâm lười biếng trong ta quá lớn. Ta luôn sợ những điều kiện thuận lợi của mình sẽ bị hư hao, mất mát. Ta cũng hay lười biếng quan sát và không chịu tư duy sâu sắc về bản chất của những đối tượng hay vấn đề đang xảy ra trong hiện tại. Nếu ta không có khả năng ngăn chặn những hình ảnh và âm thanh cũ tự tiện hiện về trong tâm tưởng, không thể định tâm để tạo ra khả năng phát hiện mọi xung lực của phiền não đưa tới, thì ta sẽ tiếp tục rơi vào những nhận thức sai lầm hoặc những quyết định đáng tiếc. Cho nên hoàn cảnh chỉ có thể làm cho ta đau, nhưng chính trí tưởng tượng sai lầm mới là thủ phạm giết ta chết. Hãy cẩn thận với tâm tưởng!

 

 

 

Nhận diện đơn thuần

 

Hiểu biết của ta thường được tạo ra bởi kiến thức tích lũy và kinh nghiệm tích lũy. Còn một chất liệu quan trọng nữa mà ít ai biết và sử dụng được nó, đó là trực giác.

 

Trực giác là khả năng nhận biết đối tượng trong hiện tại bằng cái nhìn trong suốt như lần đầu tiên mới nhìn thấy. Nó tuyệt nhiên không mang theo kiến thức hay kinh nghiệm có sẵn để định nghĩa hay đối chiếu lên đối tượng. Nhưng bản năng của ta luôn thiên về sự hưởng thụ và tự vệ, nên ta luôn có thói quen sử dụng kiến thức và kinh nghiệm cũ để giải quyết vấn đề cho mau chóng và cảm thấy yên tâm hơn. Thí dụ, khi ăn một chén xúp thì ta có tới hai cách để ăn: một là ăn như đã từng được ăn, hai là ăn như lần đầu được ăn. Nếu ăn theo cách thứ nhất thì chắc chắn đó không phải là cách để thưởng thức. Ăn chỉ để cho no bụng hay ăn chỉ để cho xong. Còn nếu có thể ăn theo cách thứ hai thì ta sẽ ăn rất chăm chú, không bị kiến thức hay kinh nghiệm có sẵn về món xúp làm giảm khả năng khám phá và thưởng thức trọn vẹn. Đó là nghệ thuật ăn xúp mà cũng là nghệ thuật nắm bắt sự sống.

 

Cũng như nhiều người mong muốn được yêu-như- yêu-lần-đầu. Họ muốn người kia hãy nhìn họ bằng cái nhìn mới mẻ như lần đầu tiên mới yêu nhau, dù rằng họ đã biết rất nhiều về những hạn chế hay khó khăn của nhau. Hoặc họ muốn người kia hãy nhìn họ như chính họ, chứ đừng nhìn họ bằng hình ảnh của những người trước mà cứ phải nghi ngờ hay phòng thủ. Thực tế thì ai cũng muốn mình được mới mẻ trong mắt người khác, vì sự thật là ta luôn luôn đổi mới - có thể hay hơn hoặc có thể tệ hơn. Nhưng điều nghịch lý là ta lại không thể nhìn người khác hay mọi vấn đề một cách đơn thuần như chính nó. Ta chỉ thấy mọi thứ qua cái bóng mờ của quá khứ mà ta cứ nghĩ là mình đã biết đã hiểu hết tất cả.

 

Thiền chính là phép thực tập để phát triển khả năng nhận diện đơn thuần. Ta cần phải có một vị thầy giỏi giúp ta xây dựng thói quen này ngay từ buổi đầu. Mỗi khi đến tham vấn với thiền sư, có thể ta sẽ ngồi suốt buổi mà chẳng nghe được điều gì hay ho ngoài mấy câu rất bình thường đến vô nghĩa: "Uống trà đi!", "Cây tùng trước sân kìa!". Nhiều thiền sinh đã đau đầu về lối hướng dẫn lạ lùng này. Họ dùng hết trí năng để suy tìm ẩn ý sâu kín phía sau những thông điệp mà thiền sư đã gửi tới. Nhưng tìm mãi cũng chẳng hiểu được gì. Cuối cùng, thiền sư thấy tội nghiệp nên giáng cho một gậy chí tử thì thiền sinh mới bừng ngộ. Thật ra, không phải thiền sinh nào cũng phải "ăn" một gậy mới bừng ngộ. Những người có thể bừng ngộ ngay từ những câu nói tưởng chừng bình thường hay vô nghĩa kia là nhờ tâm họ vốn rất đơn giản, nói sao hiểu vậy chứ không suy đoán lung tung.

 

Thiền sư bảo "Uống trà đi!" thì thiền sinh hãy cứ uống-trà-như-uống-trà. Đừng uống-trà như-không-uống- trà vì tâm tư đang bận nghĩ những vấn đề khác, dù đó là những vấn đề được cho là quan trọng hay xứng đáng. Uống-trà-như-uống-trà tức là nhận biết rõ mình đang ngồi uống trà và nhận biết rõ đối tượng tiếp xúc là chén trà, mà không phát sinh thêm ý tưởng nào trong tâm. Đó là bước căn bản nhất của thiền tập. Cũng như "Cây tùng trước sân" là một thực tại rành rành trước mắt. Nhưng mỗi ngày đi ngang qua có thể thiền sinh đã lơ là không ngó thấy, hoặc chỉ nhìn thoáng qua vì trong lòng chất chồng những lo lắng hay mong cầu. Thiền sư không muốn học trò tiếp tục cuộc chạy đua tư tưởng vô bổ nữa, phải giúp họ nếm trải ngay lập tức hương vị thiền chứ không phải lý thuyết thiền.

 

Dừng lại những vọng tưởng lao xao, nhận biết rõ những gì đang hiện hữu xung quanh, thấy rõ từng phản ứng của mình lên đối tượng tiếp xúc, đó chính là thái độ sống đúng đắn nhất của con người. Thái độ này cũng chính là nền tảng để tạo dựng trí tuệ. Trí tuệ là khả năng thấu hiểu bản chất của mọi sự vật sự việc trên thế gian này. Có trí tuệ, ta sẽ biết rõ mình nên làm gì và không nên làm gì, để ta luôn tạo thế hài hòa với vũ trụ và đạt được hạnh phúc chân thật. Nghĩa là muốn đạt tới những điều sâu sắc đến vô cùng của tâm thức, ta cần phải hạn chế đến cô lập hoàn toàn tâm tưởng. Tâm tưởng không chỉ khiến ta đánh mất thực tại, bóp méo thực tại, mà còn khiến cho thực tại trở thành viễn cảnh của tương lai hay bóng mờ của quá khứ. Thế nên chân lý phải đi bằng đôi chân trải nghiệm chứ không thể dùng cái đầu tưởng tượng. Càng dùng trí năng để tưởng tượng thì càng rời xa chân lý.

 

Có thể ta không muốn trở thành thiền sinh, không cần đạt tới mục đích trí tuệ, mà chỉ muốn là một con người bình thường để được hưởng thụ tất cả những gì cuộc đời đã ban tặng. Nhưng nếu đang đi trên con đường mùa xuân lại nhớ đến mùa thu, ngồi bên người thương mà lo nghĩ đến những dự án hấp dẫn, người ta nói thật lòng mà cứ ngỡ là gian dối thì ta có tận hưởng được gì không? Hạnh phúc đang ở trong tầm tay mà cứ mơ ước xa xôi thì làm sao ta biết thế nào là hạnh phúc? Đành rằng nhờ ý tưởng sáng tạo phong phú mà ta đã có nền văn minh tuyệt hảo như hôm nay. Nhưng nhìn kỹ lại, ta cũng không khỏi giật mình khi biết địa cầu đang rên xiết và có thể sẽ bị hủy diệt trong nay mai cũng vì những mộng tưởng điên đảo của con người. Trí tưởng tượng nếu đứng trên nền tảng của lòng tham, phục vụ cho nhu cầu ích kỷ của những kẻ quyền lực, thì nó chính là tác nhân lớn nhất nhấn chìm thế giới hiện thực này và đưa con người vào những cơn mê bất tận.

 

Ngược lại, nếu ta biết đặt tâm tưởng của mình trong một khuôn khổ đúng đắn, có khả năng quan sát và dẫn dắt nó đi đúng hướng, biết dừng lại nghỉ ngơi khi cần thiết, luôn nhận ra sự kích động của môi trường bất lợi vào những tâm hành phiền não, thì ta sẽ sử dụng tâm tưởng một cách hữu hiệu. Còn nếu ta thấy mình vẫn chưa đủ sức để kiềm tỏa tâm tưởng, vẫn luôn bị nó thao túng mọi nói năng và hành động thì ta hãy nên quay về thực tập phép định tâm cho bền bỉ. Định tâm chính là "khắc tinh" của vọng tưởng. Nhưng nếu ta chưa kịp xây dựng mức định tâm vững vàng, mà lại phải đi vào những nơi đầy cạm bẫy và hiểm trở thì ta hãy luôn luôn đi bên cạnh những người sống tỉnh thức. Chỉ cần họ kiên trì gọi đúng tên ta nhiều lần là ta sẽ giật mình bừng tỉnh và sẽ quay đầu tìm hướng.

 

 

Hãy gọi đúng tên tôi

Giữa cuồng điên mộng tưởng

Dù chưa biết ra sao

Vẫn quay đầu tìm hướng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2020(Xem: 19438)
Trưởng lão cư sĩ Hứa Triết (許哲, Teresa Hsu Chih, 7/7/1897-7/12/2011), trước danh Cư sĩ, danh tự tiếng Anh là “(Teresa, tiếng Trung: 德蕾莎)” tên tiếng Phạn là “Prema, (愛人)”, chào đời tại Sán Đầu, thành phố ven biển thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sinh thời, bà đến lớp tiểu học năm lên 27 tuổi, học Y khoa chuyên ngành Điều dưỡng ở tuổi 47, thành lập một Viện Dưỡng lão độc lập ở tuổi 67, học Yoga (瑜伽) ở tuổi 69, học Phật ở tuổi 90, dụng công học tiếng Trung ở tuổi 100, và 101 tuổi quy y Phật môn.
29/05/2020(Xem: 12277)
Tâm thế gian là tâm tràn đầy ham muốn ích kỷ, những ai luôn sống với tâm này sẽ huân tập nhiều tập khí, lậu hoặc gọi chung là nghiệp. Nghiệp thì có nghiệp xấu và nghiệptốt. Nhưng đa phần người ta dính nhiều với nghiệp xấu hơn là nghiệp tốt. Đã tạo nghiệp, thì phải chịu luân hồi sinh tử để thọ quả báo.
27/05/2020(Xem: 10376)
Bài viết, kỷ niệm 50 ngày thành lập Cộng đồng đa dạng văn hóa tín ngưỡng gồm 10 quốc gia ASEAN!
27/05/2020(Xem: 10201)
Năm nay đánh dấu kỷ niệm 40 năm, kể từ khi Khánh thành Bảo tàng Khảo cổ Thung lũng Bujang (the Bujang Valley Archaeological Museum), tọa lạc tại Merbok, Kedah, một bang phía tây bắc của Bán đảo Malaysia.
27/05/2020(Xem: 14945)
Người Phật tử tu hạnh Bồ Tát ngoài mười điều thiện, phải tu tập pháp “Lục Độ Ba La Mật”. Lục là sáu. Độ là vượt qua. Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita, người Trung hoa dịch nghĩa là “bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”. Đây là sáu món tu tập có công năng như một chiếc thuyền, đưa mình từ bờ bên này, bờ vô minh của thế gian, vượt sang bờ bên kia, bờ giác ngộ của chư Phật. Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu cả phước lẫn tuệ. Tu phước gồm có: “bố thí, trì giới, tinh tấn và nhẫn nhục”. Tu tuệ là “thiền định và trí tuệ”.
26/05/2020(Xem: 16143)
Nhà lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng, cùng hòa điệu với các nhà khoa học nổi tiếng trong một bộ phim tài liệu với chủ đề tuyệt diệu đầy quyến rũ.
26/05/2020(Xem: 17830)
Nước ta ở vào địa thế phía Đông là biển cả bao la, phía Tây là dãy Trường Sơn trùng điệp, còn phương Bắc thì tiếp giáp với Trung Hoa, một quốc gia rộng lớn, hùng mạnh đã biết bao phen xâm chiếm nước ta, vì vậy dân tộc ta không còn sự chọn lựa nào khác hơn là phải nỗ lực tiến về Nam để tồn tại và phát triển. Trong các đợt mang gươm đi mở cõi, tộc Phạm có nhiều vị tướng tài giỏi, những nhà cai trị lỗi lạc đã giúp các vương triều hoàn thành sứ mạng lịch sử vĩ đại này.
26/05/2020(Xem: 14776)
Đàn chim bay ngang phố. Xao xác tiếng cánh vỗ. Con quạ già trên nhánh cây hè phố ngước nhìn một lúc, rồi im lặng sà xuống đất, nhảy lò cò vài bước với một chân bị què, tiếp tục kiếm ăn. Phố im lạ thường. Những con đường vắng xe đã vơi mùi khói xăng từ những ngày trước. Lan tỏa đâu đây hương bạch đàn hòa lẫn với mùi nước cống vẫn ngày đêm chảy ngầm dưới lòng đất. Thỉnh thoảng có tiếng còi hụ của xe cứu thương băng ngang góc phố xa. Khách bộ hành mang khẩu trang chỉ chừa lại hai mắt ngầu đục sau gọng kiếng râm, không sao nhìn ra được vẻ đẹp tráng lệ của một bình minh tràn ngập nắng tàn xuân. Gió mai lành lạnh trong công viên thành phố. Ông già ngồi phơi nắng trên chiếc ghế gấp mang theo từ nhà. Hai vợ chồng trẻ khoác áo gió dắt chó đi bộ quanh bãi cỏ xanh. Một cơn gió mạnh thổi qua làm cho những hàng cây rùng mình buông lá úa. Giờ không phải mùa thu, cũng chưa vào hạ, mà lá vàng vẫn rơi lác đác, trông như những cánh bướm cải nhởn nhơ trong gió. Nhưng không, chỉ trong thoáng chốc, n
25/05/2020(Xem: 19927)
Trưởng lão Cư sĩ David Robert Loy (sinh năm 1947), vị học giả người Mỹ, Giáo sư, tác gia, Giáo thọ Thiền Phật giáo thuộc Tam Bảo giáo (Sanbō Kyōdan, 三寶教), truyền thống Phật giáo Nhật Bản. Trưởng lão Cư sĩ David Robert chào đời tại Panama, khu vực kênh đào, (Đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Phương Nam của quân đội Mỹ). Thân phụ của ông trong đơn vị Hải Quân Hoa Kỳ nên gia đình được đi du lịch rất nhiều. Thuở nhỏ, ông học trường Carleton College, Minnesota, một tiểu bang vùng Trung Tây của Hoa Kỳ, và sau đó du học khoa triết học tại trường King's College London (informally King's or KCL), Vương quốc Anh.
23/05/2020(Xem: 12250)
Con người ta, kể cả Đức Phật, Bồ Tát, La Hán hay thánh tăng khi còn sống thì vẫn phải đi đây đi đó, tiếp xúc, gặp gỡ, giao tiếp với người này người kia trừ khi sống ẩn tu trong hang động, núi rừng. Trong khi tiếp xúc, gặp gỡ như thế có thể “đối cảnh sanh tâm”. Thí dụ, khi bước vào một nhà giàu, có thể thể nảy sinh lòng ham muốn. Khi thấy người ta đeo nữ trang quý giá có thể sanh tâm thèm muốn hay đua đòi. Khi gặp cô gái, anh chàng đẹp trai có thể sanh tâm yêu mến. Từ yêu mến có thể sanh tâm chiếm đoạt.