Văn Hóa Hôn Lễ

22/12/201807:05(Xem: 9221)
Văn Hóa Hôn Lễ

VĂN HÓA HÔN LỄ
van-hoa-hang-thuan-04

Việc kết hợp giữa hai đối tượng khác phái, đi đến sống chung sanh con đẻ cái, đã có từ thời con người nguyên thủy xuất hiện. Tùy mỗi bộ tộc, mỗi quốc gia, việc hợp thức hóa cho đôi lứa có quy định theo tập tục riêng, với người Việt thường gọi là hôn lễ.

Thực hiện tập tục cho “hôn lễ” theo nếp xưa, gồm có: - lễ nạp tài – lễ vấn danh – lễ nạp cát – lễ nạp tệ - lễ thỉnh kỳ và lễ thân nghinh.

Ngoài ra, khi hai bển thỏa thuận, nhà gái đòi hỏi nhà trai cung ứng đủ những phẩm vật như  trầu rượu, cau, trà, bánh trái, gạo, heo, đồ trang sức, y phục cho cô dâu và tiền mặt …

Cũng tùy vùng miền có thêm những hủ tục phụ thuộc, chẳng hạn miền Bắc xưa kia còn đốt lò lửa để ngay ngạch cửa cho cô dâu và đàn trai bước qua để đốt phong long (đốt những xui xẻo).sau hai ngày, vợ chồng mang quà cáp về thăm nhà cô dâu, nếu xa xôi thì gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ.

Việc hôn lễ là của riêng hai họ, nhưng về mặt pháp lý, cũng phải có sự chứng thực của chính quyền gọi là chứng nhận đăng ký kết hôn, quy định này có từ thời Gia Long, Tự Đức.

                                                       ***
van-hoa-hang-thuan-03

Hôn lễ theo tôn giáo:

Đối với nhà Phật, tuy không khuyến khích việc hôn phối, nhưng kinh “Thiện sanh” dạy kỷ về bổn phận đối với nhau giữa hai vợ chồng, cũng như chồng vợ có bổn phận với cha mẹ hai bên. Thường những cặp làm lễ hôn phối tại chùa được gọi là lễ “hằng thuận”, thầy giảng giải đạo lý sau khi trao nhẫn cưới cho nhau và quy y Tam bảo nếu có.

Thiên  Chúa giáo, lễ cưới gọi là “Bí tích hôn phối”. Cũng như  nhà Phật, đôi bạn có lời khấn nguyện trước Tam bảo bảo vệ giúp nhau  cuộc sống hạnh phúc, tôn trọng, nâng đở lẫn nhau; Lễ cưới ở nhà thờ có nghi lễ tuyên hứa và làm phép đeo nhẫn. Lễ cưới ở nhà thờ phải làm trước khi lễ gia tiên.

Những tôn giáo khác cũng có những quy định riêng cho cuộc hôn lễ.

                                                        ***

Trong cuộc sống, không phải thành đôi chồng vợ đều đã trãi qua thủ tục hôn phối. Do điều kiện sinh hoạt, do tình thế xã hội hay vì những lý do bất khả kháng nào đó, lễ hôn phối không được thực hiện, mặc dù họ ở với nhau nhiều năm. Gần đây, đám cưới tập thể được thực hiện dành cho những gia đình không đủ điều kiện. Năm 2012, Thủy là thành viên của Gia Đình An Nhiên chùa Pháp Vân, Tân Phú,cùng anh  Phúc đồng nghiệp trong nghề trang điểm, nảy sinh ý định giúp cho những gia đình chưa từng được vui hưởng sinh khí hôn lễ. Khởi đầu chỉ vài gia đình, sau đó mỗi năm tăng lên từ 20 cặp, 40 cặp, 60 cặp.  những năm trước tổ chức tại khách sạn Tân Sơn Nhất do nghệ sĩ Kim Cương  tài trợ.Năm nay  50 cặp gia đình khuyết tật được quỷ Đạo Phật Ngày Nay tổ chức với sự yểm trợ từ các mạnh thường quân qua nhiều khâu như ẩm thực, nhẫn cưới, chụp ảnh lưu niệm, trang phục…đặc biệt 50 cặp đều có áo dài hồng đậm cho cô dâu và áo màu gạch nhạt cho chú rễ do công ty pháp phục An Nhiên thiết kế cho từng tướng dạng của mỗi người.50 chiếc xe cyclo chở cô dâu chú rễ diễu hành vòng quanh từ Công viên Hòa Bình ra chợ Bến Thành vòng về chùa Giác Ngộ.Mỗi cặp được đánh số để tình nguyện viên phụ trách hướng dẫn, phụ giúp việc đi lại và ổn định vị trí.

Trong số 50 cặp gồm 59 người khuyết tật vận động, 20 người khiếm thị,, 2 người vừa khiếm thị và khiếm thính,, cùng 19 người có hoàn cảnh khó khăn.

Mỗi cặp được tài trợ 20 triệu đồng trong đó 10 triệu đồng tiền mặt. Theo thầy trụ trì, rất tiếc,vì khuôn viên hạn hẹp nên không thể dung chứa hơn số lượng đó, Đây là lần đầu tiên một ngôi chùa được Tổ chức kỷ lục Việt Nam trao tặng kỷ lục:”Ngôi chùa tổ chức lễ hằng thuận tập thể cho nhiều cặp đôi khuyết tật nhất việt Nam”. Qua phát biểu cảm tưởng của cặp đôi đại diện người khuyết tật, tuy lời lẽ đơn sơ nhưng đã gói gọn niềm cảm xúc mà trong đời chưa hề mơ ước được một hôn lễ trang trọng, hoàn chỉnh và đầy tình người như thế. Trên gương mặt ngời sáng niềm vui của 50 cặp khuyết tật và thân nhân có mặt, có lẽ đây là một lễ Hằng thuận tập thể chỉnh chu về mặt tổ chức, mang tính văn hóa và tràn ngập tình người.

                                                                         ***

Có những hôn lễ hoành tráng quá tốn kém, thì cũng không thiếu những mãnh đời bất hạnh từ thể chất đến tình cảm. Trong cuộc sống đơn sơ, họ cũng chỉ ước mơ có một mái ấm đơn sơ, đến với nhau bằng đôi tay trắng và trái tim đơn điệu cần chắt chiu; tuy nhiên, trên con đường tăm tối vẫn có những tia sáng soi rọi đời mình, họ thật ngỡ ngàng được tham dự lễ “hằng thuận” tập thể do sự quan tâm của nhà chùa.

Càng ngày, thủ tục hôn lễ càng giảm bớt những quy tắc nhiêu khê, tuy nhiên, một số nơi phô trương hoành tráng quá tốn kém không cần thiết giữa cuộc sống còn bao người bất hạnh.

Đây là một kỷ niệm đẹp và kỷ niệm khó quên đối với 50 cặp đôi khuyết tật vào ngày 21/12/2018 tức rằm thang11 năm Mậu Tuất.Tuy là một lễ tập thể nhưng mang tính nhân văn giản dị, không phô trương nhưng sâu lắng.Cả người tổ chức lẫn người tham dự đều thể hiện trách nhiệm. Phải chăng, văn hóa “hằng thuận” đã dần đi sâu vào cửa chùa để duy trì tính bền vững lứa đôi được xây dựng trên nền tảng đạo đức nhà Phật?

 van-hoa-hang-thuan-06van-hoa-hang-thuan-05van-hoa-hang-thuan-02van-hoa-hang-thuan-01

MINH MẪN
21/12/2018

 

 

   

 


 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01/01/2021(Xem: 11073)
Từ lâu các kinh sách Phật Giáo Việt Nam bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ âm Hán Việt của Trung Quốc. Từ những được chư tôn thiền đức Tăng Ni chuyển qua quốc ngữ tiếng Việt, để Phật tử dễ đọc, nhất là những vị chưa có kiến thức về âm Hán Việt. thế kỷ 20 (năm 2000 trở đi) các kinh sách dần dần đã Người biên soạn xuất gia tại Chùa Liên Hoa, Bình Thạnh, với Tôn Sư Hải Triều Âm, các kinh sách trong Chùa tụng bằng tiếng Việt do Tôn sư chuyển ngữ. Từ năm 2005 trở đi, người biên soạn định cư và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Nhiều Chùa ở Hoa Kỳ vẫn còn tụng kinh bằng âm Hán Việt và nhiều nơi phải tụng bằng tiếng Anh cho người bản địa và thế hệ con cháu thứ hai sanh tại Mỹ có thể tụng hiểu được. Phật tử Việt tụng kinh bằng tiếng Việt mà vẫn chưa hiểu được ý nghĩa ẩn sâu trong lời kinh và càng bối rối hơn khi tụng kinh bằng bằng âm Hán Việt. Đó là lý do thúc đẩy, chùa Hương Sen biên soạn một cuốn “NGHI LỄ HÀNG NGÀY” bằng tiếng Việt và tổng hợp gần 50 bài kinh:
01/01/2021(Xem: 12034)
Trong kho tàng văn học của Việt Nam và Phật Giáo, Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã có những đóng góp vô cùng to lớn và giá trị, những sáng tác của Ngài, bất hủ qua dòng thời gian, tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời Dân Tộc và Đạo Pháp. Trần Thái Tông được kể như một vị Thiền sư cư sĩ vĩ đại, nhà thiền học uyên thâm, thành tựu sự nghiệp giác ngộ. Một vị vua anh minh dũng lược, chiến thắng quân Nguyên Mông giữ gìn bờ cõi, đem lại cường thịnh ấm no cho dân cho nước, đã để lại tấm lòng cao quý thương yêu đời đạo, lưu lại di sản trí tuệ siêu thoát cho hậu thế noi theo.
29/12/2020(Xem: 12569)
Tịch tĩnh bất động hay định lực có thể đè nén những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng, nhưng nó không thể loại trừ hoàn toàn chúng. Tuệ giác nội quán là cần thiết bởi vì như được giải thích trước đây, nó có thể loại trừ hoàn toàn những cảm xúc phiền phức và những rối rắm hậu quả của chúng. Thiền ổn định (chỉ) và thiền phân tích (quán) bây giờ phải làm việc với nhau. Khi chúng thể hiện chức năng cách này, chúng có thể nhổ gốc những cảm xúc phiền phức và loại trừ những giới hạn của thông tuệ vì thế chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu tối hậu của việc giúp đở những kẻ khác một cách hiệu quả hơn.
29/12/2020(Xem: 11501)
Thơ thiền Nhật bản là cả một thế giới thi ca độc đáo, tiêu biểu cho tư tưởng và chủ trương tu tập của thiền học Zen, nhất là qua một thể thơ cực ngắn gọi là haiku. Điểm đáng lưu ý và cần nêu lên trước nhất là thơ thiền Nhật bản khác hẳn với thơ Đường của Trung quốc. Một số học giả, kể cả các học giả Tây phương, dường như đôi khi không nhận thấy được sự khác biệt này khi mang ra phân tích và tìm hiểu tinh thần Phật giáo chung cho cả hai thế giới thi ca trên đây.
28/12/2020(Xem: 11654)
Moscow: Thuật ngữ “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” mô tả một dạng thiền cao cấp trong truyền thống Kim Cương thừa, thường được thực hành bởi các tu sĩ Phật giáo trong trạng thái quá độ sang sự chết, được gọi là trung hữu – bardo (chìa khóa để giải mã những Bí mật của Nghệ thuật sinh tử). Trạng thái nhập thiền định Phật giáo Mật tông hiếm có được gọi là “Tukdam, ཐུགས་ དམ་” đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu Và Tìm hiểu trong nhiều năm, với sự lãnh đạo của Tiến sĩ ngành tâm lý và tâm thần học - Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin-Madison (Mỹ), người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Tâm Trí Lực (Center for Healthy Minds).
28/12/2020(Xem: 12335)
Phật giáo đồ các quốc gia Đông Á, thường Kỷ niệm ngày Đức Phật Nhập Niết bàn vào tháng 2 Âm lịch. Nhưng tại địa phương tôi, Trung tâm Thiền miền Bắc Carolina (the North Carolina Zen Center) lại tổ chức Kỷ niệm ngày Đức Phật Thành đạo vào tháng 12 Âm lịch, với một buổi chia sẻ Pháp thoại với Thanh thiếu niên Phật tử, một buổi lễ thắp nến lung linh, tỏa sáng ánh đạo vàng từ bi, trí tuệ, và một bữa ăn tối sau lễ Kỷ niệm.
24/12/2020(Xem: 11842)
Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu, thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg sẽ hội thảo cùng với các nhà khoa học hàng đầu vào ngày 9 tháng 1 tới, về mối quan tâm ngày càng tăng, đối với phản ứng các bên về “khủng hoảng khí hậu: những biến đổi do con người gây ra trong môi trường làm tăng tốc độ nóng lên toàn cầu”. Cuộc thảo luận sẽ được tổ chức bởi Viện Tâm trí và Đời sống (Mind and Life Institute), rút ra từ cuốn sách mới nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Chủ nghĩa hoạt động của nàng thiếu nữ (17 tuổi) Greta Thunberg, nhà hoạt động môi trường người Thụy Điển về biến đổi khí hậu và một loạt phim giáo dục mới về biến đổi khí hậu.
24/12/2020(Xem: 11471)
Trung tâm Phật giáo Somapura (Somapura Mahavihara, সোমপুর মহাবিহার, Shompur Môhabihar) được kiến tạo vào thế kỷ thứ 8, tọa lạc tại Paharpur, Badalgachhi Upazila, Naogaon, Tây Bắc Bangladesh, một ngôi Già lam Cổ tự lớn thứ hai phía Nam dãy Hymalaya, một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất Nam Á, thành tựu nghệ thuật độc đáo, ảnh hưởng đến nhiều trung tâm Phật giáo lớn khác trên thế giới.
24/12/2020(Xem: 9991)
Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp, triều đại của Ngài đã đánh dấu thời đại Phật giáo Mông Cổ Cực thịnh, Ngài là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và là lãnh tụ của bộ tộc Tümed của Mông Cổ. Vào giữa thế kỷ 16, năm 1578 Ngài bệ kiến Sonam Gyatso, Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 3 và ban cho Ngài tước hiệu “Đại Dương”, “ám chỉ Hoàng đế Phật tử ltan Khan, vị Đại hộ pháp Trí tuệ Siêu phàm như Biển” Tước hiệu Đạt Lai Lạt Ma cũng được ban cho hai vị Giáo chủ tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 3, và tước hiệu này trở thành thông dụng cho tất cả những người kế nhiệm Đức Đạt Lai Lạt Ma Sonam Gyatso về sau này.
21/12/2020(Xem: 12859)
Thơ là chữ viết, nhưng thơ cũng là giữa những dòng chữ. Thơ là lời nói ra, nhưng thơ cũng là giữa những lời nói ra, hiển lộ cả trước và sau lời nói ra. Thơ là ngôn ngữ và thơ cũng là vô ngôn, là tịch lặng. Và là bên kia của chữ viết, bên kia của lời nói. Khi đọc xong một bài thơ hay, khi không còn chữ nào trên trang giấy để đọc nữa, chúng ta sẽ thấy thơ là một cái gì như sương khói, mơ hồ, lung linh, bay lơ lửng quanh trang giấy. Cũng như thế, Kinh Phật là thơ, là lời nói, là tịch lặng, là bên kia ngôn ngữ. Khi bài Tâm Kinh đọc xong, khắp thân tâm và toàn bộ ba cõi sáu đường đều mát rượi, ngấm được cái đẹp của tịch lặng ẩn hiện bên kia những chữ vừa đọc xong. Cội nguồn thơ, cũng là cội nguồn Kinh Phật, đó là nơi của vô cùng tịch lặng, một vẻ đẹp như sương khói phả lên những gì chúng ta nhìn, nghe, cảm xúc và hay biết.