Thông Minh và Đạo Đức

20/11/201820:21(Xem: 11050)
Thông Minh và Đạo Đức
robot_1

THÔNG MINH VÀ ĐẠO ĐỨC

Ngày nay, nhân loại tiến vào lãnh vực khoa học đời sống, khoa học vật chất và nhiều lãnh vực khác nhau bằng kiến thức và trí thông minh vượt bậc. Nâng cuộc sống lên tầm mức tiện nghi mà những thế hệ cha ông trước đây chưa được chứng kiến và hưởng thụ.

Để đạt đến được một thành quả nhất định, bản thân người sáng tạo và kẻ thụ hưởng chưa hẳn trọn vẹn sống trong hạnh phúc và mãn nguyện, từ đó phát sanh những nhu cầu mà do lòng tham ước vọng luôn đòi hỏi.

Một số công ty, kỷ nghệ luôn mưu tìm hướng đi cho một thành quả ưu việt nhất, dĩ nhiên cần sức lao động và trí tuệ của nhân viên chuyên ngành, thậm chí, phải gia tăng giờ lao động ngoài luật quy định, gọi là hưởng lương phụ trội; trên bề mặt, đó là luật công bình, không thể gọi là bóc lột sức lao động. Vào thời quá khứ, người lao động vắt sức kiệt lực, bất kể giới hạn thời gian mà lương không được gia tăng phụ trội,thậm chí không trả lương đủ, làm giàu cho chủ nhân, gọi đó là bóc lột. Ngày nay, “thuận mua vừa bán” không bị ghép vào bóc lột, nhưng, cho dù luật nào muốn bảo vệ công nhân lao động, cũng không tránh khỏi kẽ hở khi mà chủ nhân cố tình lách luật.

Trong cuộc sống có muôn vạn ngành nghề cũng có muôn vạn kẽ hở để người thiếu lương tâm tha hồ bóc lột công sức của người lao động. Những đất nước chậm tiến đã đành, những quốc gia giàu mạnh, nếu tinh thần đạo đức không được thấm nhuần  với chủ nhân hay người trực tiếp điều hành công việc, công nhân, nhân viên lao động không tránh khỏi những quy định khắc khe của một tổ chức lớn do chủ nhân đòi hỏi.

Tổ chức công đoàn là đại biểu bảo vệ quyền lợi công nhân, đôi khi do áp lực hoặc do mua chuộc, đại biểu công đoàn ngã sang bảo vệ quyền lợi cho chủ nhân mình đang phục vụ, công nhân sẽ chịu thiệt nhiều thứ. Một số quốc gia, sản phẩm được hình thành do công sức của tù nhân không lương, những trẻ em nghèo khó…Một vài công ty, buộc công nhân, nhân viên phải làm ngoài giờ, lương phụ trội là bề mặt của sự công bình; việc làm giờ phụ trội có thể chấp nhận trong thời gian nhất định cần thiết để hoàn tất một sản phẩm, nhưng không thể luôn là gia tăng hàng ngày từ 12 đến 16 giờ, biến công nhân trở thành chiếc máy bị vét kiệt sức để nhận những đồng lương phụ trội với thời gian lâu dài, đồng lương phụ trội đó không còn tương xứng với sức khỏe lâu dài mà một công nhân buộc phải chấp nhận lao động, nếu không chấp nhận, có quyền nghỉ, dĩ nhiên thất nghiệp, nếu chấp nhận công việc, vì không còn lối thoát nào khác, sẽ bị vét cạn công sức để nhận đồng lương, khác nào bị bóc lột công sức một cách có điều kiện mà không có luật lao động nào can thiệp.

Hệ thống bán hàng đa cấp cũng thế,ngay từ đầu, người tham gia cũng phải bỏ ra một số tiền mua hàng để được cấp thẻ chứng nhận nhân viên, muốn lấy lại số tiền đó và tiếp tục thu lợi từ sự khuyến khích của công ty, nhân viên phải đi khuyến dụ người thân, bạn bè lao vào thế chân để người giới thiệu hưởng được phần lợi nhuận; cứ thế mà bóc lột, lừa đảo lẫn nhau.

Một quốc gia giàu có bỏ tiền cho nước nhược tiểu vay mượn để đặt điều kiện có lợi, hoặc chiếm dụng công thổ khi nước nhỏ không đủ khả năng thanh toán nợ, đó cũng là hình thức bóc lột.Cá nhân cho cá nhân vay nặng lãi, không đủ khả năng chi trả, bị tước đoạt tài sản, bị bạo hành khống chế, thậm chi mất mạng, đó cũng là dạng bóc lột.

“Trung Quốc tuyển hàng trăm trẻ em siêu thông minh để phát triển robot sát thủ”

BIT là một trong những viện nghiên cứu vũ khí hàng đầu của Trung Quốc và sự ra mắt của chương trình mới này là bằng chứng về mục tiêu phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) cho mục đích chạy đua quân sự.

Một giáo sư tại BIT cho biết: “Những đứa trẻ này đều rất thông minh, nhưng chỉ thông minh thôi là chưa đủ. Chúng tôi đang tìm kiếm những phẩm chất khác như tư duy sáng tạo, sẵn sàng chiến đấu, kiên trì khi đối mặt với thử thách. Bên cạnh đó họ cũng cần có một niềm đam mê phát triển vũ khí mới, họ cũng phải là những người yêu nước.”

Những tổ chức mang tính chính trị và quân sự như vậy, người tham gia không đơn thuần nổ lực đóng góp tố chất thông minh, mà còn được giáo dục, điều hướng sang mục tiêu đòi hỏi của chuyên ngành, bấy giờ phải tận dụng chất xám theo tiêu chuẩn yêu cầu. Những chuyên viên kỷ thuật làm việc quá sức, bị áp lực đưa đến khủng hoảng hoặc trầm cảm. Nhất là các nước tiến bộ về kỷ nghệ, tiến bộ về khoa học kỷ thuật, nhân viên thường bị áp lực nặng; từ sự vượt bậc mọi mặt để đưa đất nước đến thịnh vượng, mọi ngành nghề đều phải cố gắng tiến độ để bắt kịp yêu cầu của xã hội, đó là một áp lực, và áp lực đưa đến tình trạng tự sát, sát hại tập thể, thần kinh bất bình thường, hoặc sử dụng cần sa để giảm thiểu mọi áp lực.

                                               ***

Những quốc gia công nghiệp hiện đại đều xuất hiện những tình trạng căng thẳng như thế, các tôn giáo cổ truyền  thuần túy tín ngưỡng như Kito giáo khó mà đóng góp  đưa đến cân bằng tinh thần cho xã hội. Rất may, mặc dù hậu bán thế kỷ 19, khái niệm về Phật giáo đã du nhập vào phương Tây, nhưng mãi đến thế kỷ XX, Suzuki và một số học giả đã truyền bá tư tưởng Phật học và Thiền tông vào xã hội lúc bấy giờ. Phật giáo chỉ bén rễ trong giới trí thức và học thuật. Khi Tây Tạng bị Trung Cộng xâm chiếm, đức Đạt Lai Lạt Ma tỵ nạn tại Bắc Ấn, ngài đã chu du các nước phương Tây, kêu gọi giải quyết Tây Tạng bằng biện pháp hòa bình, đồng thời phổ biến tinh thần từ bi, tính tương ái trong cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, sức ảnh hưởng chưa được lan tỏa, đến khi, Thiền sư Thích Nhất Hạnh khởi xướng “hiện pháp lạc trú”, từng bước chân an lạc, đã giảm nhiệt sự căng thẳng cho xã hội công nghiệp Âu Mỹ; tinh thần an trú đó đã giúp mọi giới, từ trí thức đến bình dân, từ nghị sĩ đến quân đội, từ chính phủ đến các tổ chức phi chính phủ, tu sĩ, nhân sĩ các tôn giáo, thậm chí các thành phần đối lập giữa các quốc gia cũng tham gia những khóa tu để tự làm chủ cảm xúc trước những căng thẳng trong cuộc sống, bình thản trước những bức bách, giúp giải quyết mọi việc một cách bình tĩnh và có trách nhiệm. Những tù nhân cũng đã tìm được hướng đi cho chính mình một cách hài hòa khi tái hội nhập vào xã hội. “ Làng Mai” trở thành một danh hiệu khi nhắc đến pháp hành của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, chính vì thế, người là một trong 25 danh nhân thế giới được khắc tượng và vinh danh, từng được đề bạt giải Nobel hòa bình bởi mục sư Martin Luther King.

Pháp môn Làng Mai có một ảnh hưởng và đóng góp không nhỏ trong đời sống các quốc gia công nghiệp, giải tỏa stress đối với những bức bách của nghiệp vụ; cho dù không phải là giải thoát hoàn toàn, nhưng ít ra giải thoát được những hệ lụy mà các quốc gia tăng trưởng đang phải đối mặt, “từng bước chân an lạc” đã thiết lập cỏi Tịnh độ hiện hữu. Kinh Pháp cú, phẩm An lạc: 197.

“Vui thay,chúng ta sống,
Không hận, giữa hận thù!
Giữa những người thù hận,
Ta sống, không hận thù!”

 

201.“Chiến thắng sinh thù oán,
Thất bại chịu khổ đau,
Sống tịch tịnh an lạc.
Bỏ sau mọi thắng bại.”

                                                   ***

Tâm hồn thảnh thơi an lạc thì cuộc sống sẽ an lạc; Nguyễn Du tiên sinh đã bảo – “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nhà Phật bảo: “nhất thiết duy tâm tạo”. Buồn vui, bất an, hạnh phúc đều do tự tâm. Tâm bị lôi cuốn vào cuộc sống loạn động thì bản thân ắt phải bất an, tâm biết dừng lại với nhịp điệu từ tốn thì cuộc sống bớt bị giao động.

Thế giới lao vào cuộc đua vũ trang, cạnh tranh làm bá chủ, vận dụng mưu mô xảo trí, chất xám hướng vào mục tiêu sát phạt, chèn lấn lẫn nhau; những kế sách được gọi là khôn ngoan, sáng tạo thiếu tính khoan dung đạo đức đều là thảm họa của nhân loại.Từ cá nhân đến cá nhân, từ lãnh đạo một tổ chức đến lãnh đạo một quốc gia, mọi hành xử không đặt trên nền tản đạo đức và nhân quả, tất yếu đưa đến hổn loạn. Hóa giải là phương án trên tinh thần đạo đức dễ chinh phục lòng người hơn là trấn áp trừng phạt. Trừng phạt, trấn áp đã xem đối tượng là một tội phạm theo quan điểm luật pháp, nhưng hóa giải là cách tìm hiểu nguyên nhân phạm tội của tội phạm để chuyển hóa trên tinh thần tù bi.Tình thương đó đã hóa giải được hận thù.

Tóm lại, con người ngày nay sử dụng trí thông minh và tận dụng trí thông minh theo tham vọng. Nếu xây dựng trí thông minh song hành với tinh thần đạo đức mà cha ông ta từng làm, tuy thắng ngoại xâm phương Bắc, không những bằng mưu lược và sức mạnh, vua quan ta thể hiện nhân từ với tù binh, tạo mối giao hảo làm cho địch quân tâm phục, thì chắc chắn cái thông minh và tinh thần đạo đức tạo thế bền vững, hài hòa cho cuộc sống lâu dài.

Thông minh thiếu đạo đức là mối họa cho bản thân lẫn xã hội. Nhân loại ngày nay trọng dụng trí thông minh mà bỏ quên đạo đức sẽ đưa đến hổn loạn và họa diệt vong. Thông minh và đạo đức là tố chất tối cần cho cuộc sống.

MINH MẪN

19/11/2018  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/01/2018(Xem: 13336)
Đầu năm 2018 đón bạn đạo từ khắp thế giới đến Việt Nam hành hương, Thường thì chúng ta chỉ thấy người Việt Nam (và cá các nước khác trên thế giới) đi hành hương đến đất Phật ở Ấn Độ, Nepal, Myanmar,… chứ mấy khi nghe tin các bạn quốc tế, nhất là Âu Mỹ hành hương về các miền đất Phật tại Việt Nam. Ấy vậy mà trong những ngày đầu năm mới 2018 này chúng tôi lại có vinh dự đó các bạn Phật tử đến từ Mỹ, Brazil, Israel, Ấn Độ, Canada,… tại Việt Nam. Các bạn ấy đến Việt Nam không phải để đi tham quan và ngắm những cảnh đẹp của đất nước chúng ta mà để hành hương về những miền đất Phật tại Việt Nam. Thật là thú vị.
14/01/2018(Xem: 10562)
Hầu hết các tôn giáo đều có Giới và Luật để tổ chức tồn tại trong trật tự, bảo về tinh đoàn kết nội bộ, riêng Phật giáo, Giới và Luật không chỉ đơn thuần như thế, còn mang tính “khế thời, khế cơ và khế lý” bàng bạc tinh thần dân chủ mà gần 3000 năm trước, xã hội con người lúc bấy giờ trên tinh cầu còn bị thống trị bởi óc phong kiến và nặng về giai cấp.Vậy Giới và luật của Phật giáo như thế nào? Theo Đại tự điển Phật Quang định nghĩa Giới là: Tấng lớp, căn cơ,yếu tố, nền tảng, chủng tộc…
11/01/2018(Xem: 12292)
Trầm cảm là hiện tượng đang thấy rõ trong giới trẻ tại Việt Nam, và cả ở khắp thế giới. Các bản tin trong mấy ngày qua cho thấy một nỗi nguy: Ngành y tế Việt Nam báo động vì hiện tượng trầm cảm lan rộng trong giới trẻ... Trong các nguyên nhân chính được nhận ra là do nghiện Facebook và nghiện điện thoại.
10/01/2018(Xem: 16019)
Tôi xuất gia gieo duyên (hay: Về vai trò của giới tinh hoa và về sự cống hiến cho xã hội) Tạp chí Tia Sáng số Xuân năm nay có chủ đề “vai trò của giới tinh hoa trong thời kỳ đổi mới”. Trong thư mời viết bài, ban biên tập đề dẫn rằng “chủ đề này được đặt ra trong bối cảnh thế giới vừa diễn ra những sự kiện, trào lưu quan trọng (Brexit, Trumpism), trong đó, tiếng nói của người trí thức và giới tinh hoa trở nên lạc lõng trước sự thắng thế của những tư tưởng dân túy thực dụng và ngắn hạn được số đông công chúng ủng hộ.” Nếu nói về vai trò (câu hỏi Làm gì?), tôi nghĩ vai trò của giới tinh hoa trong thời này không thay đổi cơ bản
19/12/2017(Xem: 14652)
Hôm nay là ngày 28 tháng 11 năm 2017 tại chùa Long Phước, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Chúng tôi xin thay mặt chư Tôn đức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, xin trân trọng kính chúc H.T Viện chủ, quý vị Quan khách, cùng bà con hiện diện hôm nay vô lượng an lành. Sau đây, chúng tôi xin chia sẻ đến bà con một vài điều, xin quý vị hoan hỷ lắng nghe. Thưa quý vị! Trong Văn học Việt Nam, Tổ tiên Việt Nam chúng ta có nói rằng: “Lênh đênh qua cửa Thần phù, khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”.
19/12/2017(Xem: 15460)
Nhân tai là tai nạn do con người sống với nhau, đối xử với nhau bằng chất liệu tham, sân, si, kiêu mạn đem lại. Khi tai nạn đã xảy đến với mỗi chúng ta có nhiều trường hợp khác nhau, nhưng trường hợp nào đi nữa, thì khi tai nạn đã xảy ra, nó không phân biệt là giàu hay nghèo, sang hay hèn, trí thức hay bình dân, quyền quý hay dân dã và mỗi khi tai nạn đã xảy ra đến bất cứ ai, bất cứ lúc nào, thì đối với hai điều mà chúng ta cần lưu ý, đó là hên và xui, may và rủi. Hên hay may, thì tai nạn xảy ra ít; xui và rủi thì tai nạn xảy ra nhiều và có khi dồn dập. Vì vậy, món quà của GHPGVNTN Âu Châu do chư Tôn đức, Tăng Ni cũng như Phật tử trực thuộc Giáo hội tự mình chia sẻ, tự mình vận động và đã ủy cử T.T Thích Thông Trí – Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên của Giáo hội trực tiếp về đây để thăm viếng, chia sẻ với bà con chúng ta, trong hoàn cảnh xui xẻo này.
16/12/2017(Xem: 16351)
Lý Duyên Khởi gốc từ tiếng Pàli là "Paticca Samuppàda Dhamma", dịch là "tuỳ thuộc phát sinh, nương theo các duyên mà sinh". Tiếng Anh dịch là Dependent origination. Lý là nguyên lý hay định lý. Duyên là điều kiện. Lý Duyên Khởi có nghĩa là: "Tất cả những hiện tượng thế gian khởi lên là do nhiều điều kiện hay nhiều nhân nhiều duyên mà được thành lập." hay nói ngắn gọn: "Lý Duyên Khởi là từ điều kiện này khởi ra cái khác".
16/12/2017(Xem: 14589)
Viện nghiên cứu Y khoa và sức khỏe (INSERM) của chính phủ Pháp vừa công bố các kết quả thật khích lệ về các hiệu ứng tích cực của phép luyện tập thiền định của Phật giáo đối với việc ngăn ngừa bệnh kém trí nhớ Alzheimer và làm giảm bớt quá trình lão hóa của não bộ những người lớn tuổi. Hầu hết các nhật báo và tạp chí cùng các tập san khoa học tại Pháp và trên thế giới đồng loạt đưa tin này. Dưới đây là phần chuyển ngữ một trong các bản tin trên đây đăng trong tạp chí Le Point của Pháp ngày 07/12/2017. Độc giả có thể xem bản gốc trên trang mạng:
16/12/2017(Xem: 17024)
Bài viết này để nói thêm một số ý trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng có thể xem như nối tiếp bài “Suy Nghĩ Từ Bát Nhã Tâm Kinh” (1), nhưng cũng có thể đọc như độc lập, vì phần lớn sẽ dựa vào đối chiếu với một số Kinh Tạng Pali. Bài viết cũng không có ý tranh luận với bất kỳ quan điểm nào khác, chỉ thuần túy muốn đưa ra một số cách nhìn thiết yếu cho việc tu học và thiền tập. Bài Bát Nhã Tâm Kinh từ nhiều thế kỷ được đưa vào Kinh Nhật Tụng Bắc Tông chủ yếu là để cho mọi thành phần, kể cả bậc đại trí thức và người kém chữ, biết lối thể nhập vào Bản Tâm (nói theo Thiền) hay vào Tánh Không (nói theo Trung Quán Luận). Nghĩa là, để văn, để tư và để tu. Không để tranh biện kiểu thế trí. Bài này cũng sẽ nhìn theo cách truyền thống của Phật Giáo Việt Nam.
06/12/2017(Xem: 17726)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của Lạt-ma Denys Rinpoché, một nhà sư người Pháp. Ông sinh năm 1949, tu tập theo Phật giáo Tây Tạng từ lúc còn trẻ, vị Thầy chính thức của ông là nhà sư nổi tiếng Kalu Rinpoché (1905-1989), ngoài ra ông còn được thụ giáo thêm với rất nhiều vị Thầy lỗi lạc khác như Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV, Dudjom Rinpoché, Kangyr Rinpoché, Pawo Rinpoché X, Dilgo Khyentsé Rinpoché, Karmapa XVI, v.v. Hiện ông trụ trì một ngôi chùa Tây Tạng tại Pháp và cũng là chủ tịch danh dự của Tổng hội Phật giáo Âu Châu.