Chùa Nhỏ Miền Quê

28/07/201818:34(Xem: 9206)
Chùa Nhỏ Miền Quê

CHÙA NHỎ MIỀN QUÊ

 Chua-nho-mien-que-01

 

Tôi đứng lặng im trước bức thư pháp đề thơ lộng khung kính treo trên vách của ngôi điện im ắng. Thư pháp của chính Thầy trú trì. 
Thi phẩm bất hủ của Trương Kế, đã được truyền tụng nhiều đời, đưa tiếng chuông của một ngôi chùa ngân vọng giữa thinh không, rung động xuyên suốt cả không gian và thời gian, khiến cho nhân tâm đang lăng xăng phóng túng phải quay về với thinh thinh lắng đọng.
Chua-nho-mien-que-16

PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bản dịch của Tản Đà:
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Tôi đang có mặt ở chùa Tịnh Quang rồi. Một ngôi chùa có dáng vóc khiêm cung ở vùng thôn quê mộc mạc, thuộc xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh. Chùa có xuất xứ từ một căn nhà cấp bốn nuôi dưỡng trẻ mồ côi của một vị tăng đạo hạnh. Đến khi gặp được nhiều phước duyên thuận lợi, mái ấm tình thương dành cho trẻ mồ côi được di dời vào địa phận thôn Thủy Triều, xã Hải Đông, huyện Cam Ranh, trở thành một danh lamThanh Sơn bốn phương đều nghe biết, thì căn nhà cấp bốn này gần như bị rơi vào lãng quên để hoang phế lạnh tàn theo tháng ngày...
Chua-nho-mien-que-04Chua-nho-mien-que-03Chua-nho-mien-que-02
Và, một vị tỳ kheo đã về đến. Một thân lặng lẽ, một bóng lặng thầm, với một tâm nguyện kiên cố, Thầy đã từng ngày bắt tay vào việc "cải gia vị tự" (biến nhà ở thành chùa), lập nên một nơi thờ phụng Tam Bảo, từ đó sẽ truyền soi ánh sáng của chánh pháp nhà Phật đến cư dân của vùng miền còn nghèo khó, lạc hậu.
Chỉ một năm sau khi Thầy có mặt, mái ấm nuôi trẻ mồ côi đã trở thành ngôi chùa nhỏ. Thoạt đầu, Thầy chỉ có ý định lập nên một tịnh thất để tu hành, truyền bá Phật pháp, nhưng rồi phước duyên hội đủ, nơi tu niệm khiêm tốn đã dần dần hình thành với đầy đủ trang nghiêm và đẹp đẽ khang trang, được chư tôn hòa thượng trong Tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa tán dương khích lệ, gia ân hộ trì, công nhận là một ngôi chùa.
Chua-nho-mien-que-08Chua-nho-mien-que-07Chua-nho-mien-que-06Chua-nho-mien-que-05
Tôi được Thầy trú trì đón tiếp như anh em một nhà, uống nước lá vối tươi nấu nóng thay cho trà, hàn huyên tâm sự quên cả giờ giấc, cùng cười sặc sụa với những câu chuyện bi hài có thật trong Đạo lẫn Đời, cũng như cùng lắng lòng trầm tư trước những khó khăn hoạn nạn mà ngôi thiền tự nhỏ bé này phải hứng chịu qua các trận bão lụt thiên tai... 
Thầy có tâm sự với tôi là tuy tịnh thất đã được phép công nhận chùa, được quyền xây cất diễm lệ, mở mang hoành tráng, nhưng Thầy chỉ muốn ngôi Tam Bảo mang tên Tịnh Quang được giữ nguyên như hiện tại, không cần thêm cũng như bớt, để thích hợp với hoàn cảnh sống của cư dân, của Phật tử ở miền quê còn gian nan nghèo khó. Chùa nát Bụt vàng muôn đời vẫn quý hơn Chùa vàng Bụt nát!
Lên chánh điện lạy Phật xong, tôi rảo quanh một vòng quanh chùa, đứng nghe nước chảy róc rách reo vui tai nơi hòn non bộ có cá màu lăng xăng lít xít, dừng chân ghé mắt nhìn ngắm từng bức thư pháp của Thầy treo trang trí, từng bức tượng, khóm hoa, chậu kiểng... cảm nhận được một sự yên bình thanh tịnh đáng trân quý dành cho người xuất gia mà bất ly thế gian.
Đi theo Thầy ra vườn sau, tôi được Thầy chỉ cho xem một pho tượng bằng đá đặt trên bệ cao:
"Tượng đá theo phong cách điêu khắc của Chàm, nói về tình Mẹ Con."
Ngắm nhìn pho tượng, tôi lại liên tưởng đến hình tượng "Quán Âm Thị Kính", và nhớ đến những câu thơ của mình:

"Già lam mưa dỗi gió hờn
Mõ chuông dìu dặt vẫn còn công phu
Nhẹ nhàng lam khói nhà trù
Tượng nàng Thị Kính chừng như hiển thần
Nhắc người: nghiệp chướng nghìn cân
Hương trầm Đạo Hạnh giải phần oan khiên..."

Chào tạm biệt Thầy, tôi trở về nhà mang theo một tâm trạng buồn vui mơn man, và hai nhánh lá vối tươi Thầy mới cắt cho để về nấu uống cho biết :
"Cây nhà lá vườn... chùa quê
Uống xong là thấy muốn về... Tây Thiên!"

 

Cư sĩ Vĩnh Hữu
Chua-nho-mien-que-22Chua-nho-mien-que-21Chua-nho-mien-que-20Chua-nho-mien-que-19Chua-nho-mien-que-18Chua-nho-mien-que-17Chua-nho-mien-que-15Chua-nho-mien-que-14Chua-nho-mien-que-13Chua-nho-mien-que-12Chua-nho-mien-que-11Chua-nho-mien-que-10

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/02/2011(Xem: 12961)
Ngày nayđọc được một bài viết về Phật giáo của một tác giả Ấn độ là một việc hiếm hoi,vì Phật giáo đã biến mất trên bán lục địa này đã tám thế kỷ. Nhưng nếu đọc đượcmột bài viết của một tác giả khác thường, thì lại còn hiếm hoi hơn nữa. BhimraoRamji Ambedkar (1891-1956) là cựu bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Nerhu, mộtngười tranh đấu cho công bằng xã hội, đơn độc chống lại sự phận chia giai cấp giữacon người và vạch trần những sai lầm của Ấn giáo.
09/02/2011(Xem: 12051)
Muốn giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết gốc của sanh tử là gì? Theo pháp Mười hai nhân duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh.
09/02/2011(Xem: 12594)
Bốn mùa đã không thì làm gì có mùa Xuân, mùa Hạ. Thế mà nói ngày Xuân, tháng Xuân, mùa Xuân là nhằm trong cửa phương tiện tương đối luận bàn.
07/02/2011(Xem: 21863)
Trong Phật giáo, chúng ta không tin vào một đấng Tạo hóa nhưng chúng ta tin vào lòng tốt và giữ giới không sát hại sinh linh. Chúng ta tin vào luật nghiệp báo nhân quả...
06/02/2011(Xem: 13010)
Cúng lễ, cầu nguyện, xin ơn trên phù hộ cho bản thân, gia đình được bình an hay hoàn thành một điều ước, một tâm nguyện nào đó là một trong những nhu cầu căn bản và thiết yếu của con người, diễn ra trong sinh hoạt của hầu hết các tôn giáo.
06/02/2011(Xem: 22184)
Đạo Phật được đưa vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai do những vị tăng sĩ và những thương gia Ấn Độ và Trung Á tới Việt Nam bằng đường biển Ấn Độ Dương.
02/02/2011(Xem: 17568)
Tập sách này gồm có những bài viết đơn giản về Phật Pháp Tại Thế Gian, Cốt Tủy Của Ðạo Phật, Vô Thượng Thậm Thâm Vi Diệu Pháp, những điều cụ thể, thiết thực...
01/02/2011(Xem: 13777)
Chúng tôi viết những bài này với tư cách hành giả, chỉ muốn đọc giả đọc hiểu để ứng dụng tu, chớ không phải học giả dẫn chứng liệu cụ thể cho người đọc dễ bề nghiên cứu.
31/01/2011(Xem: 12803)
Nói đến Tăng phục Phật Giáo trước tiên chúng ta nên tìm hiểu về những lý do căn bản, ý nghĩa thậm thâm của Tăng phục.
28/01/2011(Xem: 19549)
Tất cả chúng sanh lớn như loài người, nhỏ như các loài động vật đều có bổn phận để sanh tồn, như con người có bổn phận của con người, con kiến có bổn phận của con kiến, con ong có bổn phận của con ong, con chim, con sâu đều có bổn phận của con chim của con sâu..v..v.... Nguyễn Công Trứ thường ca ngợi về bổn phận của các loài động vật như : “Ta xem loài vật nhỏ, trong lòng ta tưởng mộ, ong kiến biết hợp đoàn, chim sâu còn luyến tổ, có nước không biết yêu, không bằng chim cùng sâu, có đoàn không biết hợp, ong kiến hơn ta nhiều..v..v.....” Các động vật thuộc loài hạ đẳng còn biết bổn phận đoàn kết và biết luyến tổ để sống còn để tồn tại thì huống hồ là loài người, nguyên vì các nhà hiền triết cho rằng loài người có trí khôn hơn loài vật. Cho nên vấn đề Bổn Phận là nguyên động lực lẽ sống của tất cả chúng sanh để hiện hữu và tồn tại trong cộng đồng duyên sanh của từng chủng loại.