Rằm Tháng Mười – Tết lúa mới

03/12/201719:03(Xem: 11377)
Rằm Tháng Mười – Tết lúa mới

Rằm Tháng Mười – Tết lúa mới

Mỗi năm có ba ngày Rằm lớn: Rằm tháng Giêng còn gọi là Rằm Thượng nguyên (Thượng ngươn); - Rằm tháng Bảy còn gọi là Rằm Trung nguyên (Trung ngươn); và  Rằm tháng Mười còn gọi là Rằm Hạ nguyên (Hạ ngươn), Tết lúa mới.    

 -Rằm tháng Giêng là ngày Vua Nghiêu ban phước  cho nhân sinh, nên còn được gọi là "Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quân Đại Đế Thắng Hội"  hay "Thượng   Nguyên  Thiên Quân Thánh Đản "hay gọi tắt là: "Thiên Quan Tứ Phước”.

 - Rằm tháng Bảy  là ngày Vua Thuấn xá tội cho các vong hồn nơi  Địa phủ,  nên còn gọi là "Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Đại Đế Thắng Hội" hay còn gọi là "Trung Nguyên Địa Quan Thánh Đản", “Vu Lan Thắng Hội”.

- Rằm tháng Mười là ngày Vua Hạ Vũ giải tai ách cho nhân sinh nên còn gọi là "Hạ Nguyên Giải Ách Thuỷ Quan Đại Đế Thắng Hội"   hay còn gọi là "Hạ Nguyên Thuỷ Quan Thánh Đản".
hạ nguyên thuy quan

Thủy quan đại đế khí phong trì và tinh chất thuần khiết kết thành. Gọi là đại vũ. Chủ quản cửu giang thủy đế. Tứ độc thần quân và chư thần ở tam hà tứ hải.

Thánh đản: Thủy quan đại đế ngày Rằm tháng mười âm lịch (15/10) giáng trần. Răn dạy tội phúc. Vì người diệt họa. Hay còn được gọi là quan giải ách.

Ngày Rằm tháng Mười  các đền thờ tam quan nhân gian đến lễ cầu hạ nguyên giải ách thủy quan. Những người đang mắc bệnh nặng. Bị u. Bệnh thủy huyết. Các bệnh đang  mắc và sắp xảy ra. Năm sau đều được thủy quan đại đế hóa giải vô bệnh vô tật. Gặp được thần y và tiên dược. Có câu rằng: “bệnh quỷ đã có thuốc tiên”.

- “Tết lúa mới” (Tết cơm mới)

Ca dao có câu:

Rằm tháng Giêng, ai có tiền thì quảy,

Rằm tháng Bảy, kẻ quảy người  không,

Rằm tháng Mười, mười người mười quảy 

Như vậy, trong ba ngày Rằm, Rằm tháng Mười là ngày mọi người ai cũng đều cúng quảy. Tại sao vậy?
dong-bao-tay-nguyen-mung-lua-moi
Bởi vì, Rằm Hạ nguyên - Rằm tháng Mười còn gọi là Lễ mừng lúa mới, Tết cơm mới là lễ hội quan trọng nhất trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của người Việt Nam ở vùng cao. Lễ mừng lúa mới đối với đồng bào dân tộc cũng quan trọng giống như dịp Tết của người Kinh. 

Sau khi vụ lúa  tháng Tám vừa gặt hái xong, công việc đồng áng cả năm bắt đầu nhẹ nhàng, thư thả. Lúa đã đầy bồ, rơm rạ đã chất thành đống khô ráo, tươm tất. Đông tiết lạnh lẽo mà lại được mùa, có lúa mới, mọi người nghĩ ngay đến ơn nghĩa của trời đất mưa thuận gió hòa, trong năm không bị lụt lội làm hư hại mùa màng; cho nên đến ngày rằm tháng Mười đem những gì đã được hu hoạch, chế tạo thức ăn theo phong tục địa phương tự ngàn xưa như: Xôi, chè, bánh ít, bánh cúng, bánh bột lọc, bánh gạo… cùng với mâm cơm dâng cúng tổ tiên, ông bà, thổ thấn, âm linh, các bác… Ngày rằm tháng Mười được coi như là lễ tạ ơn. Lễ tạ ơn này là một trong tứ trọng ân của Phật giáo mà đức Phật đã dạy khi Ngài còn tại thế. Sau khi cúng tạ ơn, cả gia đình sum họp quanh bếp lửa hồng của mùa đông giá rét với một bữa cơm đoàn tụ, ấm cúng. Ngày Rằm tháng Mười ai ai cũng đều thu hoạch được thực phẩm trong vụ tháng Tám do đó mọi nhà đều cúng lễ tạ ơn cho nên mới có câu ca dao: “Rằm tháng Mười, mười người mười quảy”.

Còn nói về vua Hạ Vũ  là một vị vua huyền thoại cổ đại nổi tiếng với về việc chống lũ, xác lập chế độ cha truyền con nối bằng cách thành lập nhà Hạ và nhân cách đạo đức ngay thẳng của mình. Tên khai sinh của ông là Tự Văn Mệnh thường được gọi là Đại Vũ. Rất ít hồ sơ ghi chép về sự trị vì của ông trong của lịch sử. Bởi vì điều này, phần lớn các thông tin về cuộc sống và triều đại của ông xuất phát từ các câu chuyện truyền miệng và những câu chuyện đó đến từ các vùng khác nhau. Vua Hạ Vũ sau khi băng hà được vinh danh với tên gọi "Đại". Đạo giáo tôn ông là Thủy Quan Đại Đế, thần đản là ngày Tết Hạ Nguyên.
le-hoi10

Ngày nay, ngày  rằm tháng Mười,  Rằm Hạ nguyên đã trở thành ngày lễ hội mang nhiều giá trị tâm linh đối với người dân Việt. Nhất là đối với phật tử, rằm tháng Mười là dịp để mọi người con Phật hướng tâm tu tập, trên nhờ hồng ân chư Phật mười phương gia hộ, kế đến là tổ tiên ông bà che chở. Nhưng quan trọng hơn hết là mỗi người phải biết kết nối truyền thống  gia đình trong ý nghĩa tri ân và báo ân.
01Tetcotu

Trong bài viết Giá trị tâm linh của Lễ hội Rằm tháng Mười, HT. Thích Phước Đạt đà dạy bài Văn khấn tổ tiên ngày Rằm tháng Mười như sau:

 “Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy chín phương trời, mười phương Phật.

 Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị tôn thần.

 Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ thổ địa, ngài Bản gia táo quân cùng chư vị Tôn thần.

 Con kính lạy Cao tằng tổ khảo, Cao tằng tổ tỷ, thúc bá, đệ huynh, cô di, tỷ muội họ nội, họ ngoại.

 Tín chủ chúng con là… ngụ tại...

Hôm nay là ngày Rằm  tháng Mười là ngày Tết lúa mới, chúng con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, nấu cơm gạo mới, trộm nghĩ:

Cây cao bóng mát/Quả tốt hương bay/Công tài bồi xưa những ai tạo/Của quý hóa nay con cháu hưởng/Ơn trời đất Phật Tiên, chư vị Tôn thần/Sau nhờ ơn tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao/Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam/Nay nhân mùa gặt hái/Gánh nếp tẻ đầu mùa/Nghĩ đến ơn xưa/Cày bừa vun xới /Sửa nồi cơm mới/Kính cẩn dâng lên/Thường tiên nếm trước/Mong nhờ tổ phước/Hoà cốc phong đăng/Thóc lúa thêm tăng/Hoa màu tươi mới/Làm ăn tiến tới/Con cháu được nhờ/Lễ tuy đơn sơ/Tỏ lòng thành kính.
Tettn2

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng, chư vị Đại vương, ngài Bản xứ thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con mời các cụ tổ khảo, tổ tỷ, chư vị hương linh tiên linh nội ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng hiện về chứng giám, tâm thành thụ hưởng lễ vật. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)”. 

Trí Bửu, Rằm tháng Mười,  Đinh Dậu - 2017

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/05/2020(Xem: 19484)
Trưởng lão cư sĩ Hứa Triết (許哲, Teresa Hsu Chih, 7/7/1897-7/12/2011), trước danh Cư sĩ, danh tự tiếng Anh là “(Teresa, tiếng Trung: 德蕾莎)” tên tiếng Phạn là “Prema, (愛人)”, chào đời tại Sán Đầu, thành phố ven biển thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Sinh thời, bà đến lớp tiểu học năm lên 27 tuổi, học Y khoa chuyên ngành Điều dưỡng ở tuổi 47, thành lập một Viện Dưỡng lão độc lập ở tuổi 67, học Yoga (瑜伽) ở tuổi 69, học Phật ở tuổi 90, dụng công học tiếng Trung ở tuổi 100, và 101 tuổi quy y Phật môn.
29/05/2020(Xem: 12293)
Tâm thế gian là tâm tràn đầy ham muốn ích kỷ, những ai luôn sống với tâm này sẽ huân tập nhiều tập khí, lậu hoặc gọi chung là nghiệp. Nghiệp thì có nghiệp xấu và nghiệptốt. Nhưng đa phần người ta dính nhiều với nghiệp xấu hơn là nghiệp tốt. Đã tạo nghiệp, thì phải chịu luân hồi sinh tử để thọ quả báo.
27/05/2020(Xem: 10408)
Bài viết, kỷ niệm 50 ngày thành lập Cộng đồng đa dạng văn hóa tín ngưỡng gồm 10 quốc gia ASEAN!
27/05/2020(Xem: 10228)
Năm nay đánh dấu kỷ niệm 40 năm, kể từ khi Khánh thành Bảo tàng Khảo cổ Thung lũng Bujang (the Bujang Valley Archaeological Museum), tọa lạc tại Merbok, Kedah, một bang phía tây bắc của Bán đảo Malaysia.
27/05/2020(Xem: 15008)
Người Phật tử tu hạnh Bồ Tát ngoài mười điều thiện, phải tu tập pháp “Lục Độ Ba La Mật”. Lục là sáu. Độ là vượt qua. Ba la mật nguyên âm tiếng Phạn là Paramita, người Trung hoa dịch nghĩa là “bỉ ngạn đáo”, nói theo tiếng Việt là “đến bờ bên kia”. Đây là sáu món tu tập có công năng như một chiếc thuyền, đưa mình từ bờ bên này, bờ vô minh của thế gian, vượt sang bờ bên kia, bờ giác ngộ của chư Phật. Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu cả phước lẫn tuệ. Tu phước gồm có: “bố thí, trì giới, tinh tấn và nhẫn nhục”. Tu tuệ là “thiền định và trí tuệ”.
26/05/2020(Xem: 16161)
Nhà lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng, cùng hòa điệu với các nhà khoa học nổi tiếng trong một bộ phim tài liệu với chủ đề tuyệt diệu đầy quyến rũ.
26/05/2020(Xem: 17850)
Nước ta ở vào địa thế phía Đông là biển cả bao la, phía Tây là dãy Trường Sơn trùng điệp, còn phương Bắc thì tiếp giáp với Trung Hoa, một quốc gia rộng lớn, hùng mạnh đã biết bao phen xâm chiếm nước ta, vì vậy dân tộc ta không còn sự chọn lựa nào khác hơn là phải nỗ lực tiến về Nam để tồn tại và phát triển. Trong các đợt mang gươm đi mở cõi, tộc Phạm có nhiều vị tướng tài giỏi, những nhà cai trị lỗi lạc đã giúp các vương triều hoàn thành sứ mạng lịch sử vĩ đại này.
26/05/2020(Xem: 14911)
Đàn chim bay ngang phố. Xao xác tiếng cánh vỗ. Con quạ già trên nhánh cây hè phố ngước nhìn một lúc, rồi im lặng sà xuống đất, nhảy lò cò vài bước với một chân bị què, tiếp tục kiếm ăn. Phố im lạ thường. Những con đường vắng xe đã vơi mùi khói xăng từ những ngày trước. Lan tỏa đâu đây hương bạch đàn hòa lẫn với mùi nước cống vẫn ngày đêm chảy ngầm dưới lòng đất. Thỉnh thoảng có tiếng còi hụ của xe cứu thương băng ngang góc phố xa. Khách bộ hành mang khẩu trang chỉ chừa lại hai mắt ngầu đục sau gọng kiếng râm, không sao nhìn ra được vẻ đẹp tráng lệ của một bình minh tràn ngập nắng tàn xuân. Gió mai lành lạnh trong công viên thành phố. Ông già ngồi phơi nắng trên chiếc ghế gấp mang theo từ nhà. Hai vợ chồng trẻ khoác áo gió dắt chó đi bộ quanh bãi cỏ xanh. Một cơn gió mạnh thổi qua làm cho những hàng cây rùng mình buông lá úa. Giờ không phải mùa thu, cũng chưa vào hạ, mà lá vàng vẫn rơi lác đác, trông như những cánh bướm cải nhởn nhơ trong gió. Nhưng không, chỉ trong thoáng chốc, n
25/05/2020(Xem: 19978)
Trưởng lão Cư sĩ David Robert Loy (sinh năm 1947), vị học giả người Mỹ, Giáo sư, tác gia, Giáo thọ Thiền Phật giáo thuộc Tam Bảo giáo (Sanbō Kyōdan, 三寶教), truyền thống Phật giáo Nhật Bản. Trưởng lão Cư sĩ David Robert chào đời tại Panama, khu vực kênh đào, (Đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Phương Nam của quân đội Mỹ). Thân phụ của ông trong đơn vị Hải Quân Hoa Kỳ nên gia đình được đi du lịch rất nhiều. Thuở nhỏ, ông học trường Carleton College, Minnesota, một tiểu bang vùng Trung Tây của Hoa Kỳ, và sau đó du học khoa triết học tại trường King's College London (informally King's or KCL), Vương quốc Anh.
23/05/2020(Xem: 12262)
Con người ta, kể cả Đức Phật, Bồ Tát, La Hán hay thánh tăng khi còn sống thì vẫn phải đi đây đi đó, tiếp xúc, gặp gỡ, giao tiếp với người này người kia trừ khi sống ẩn tu trong hang động, núi rừng. Trong khi tiếp xúc, gặp gỡ như thế có thể “đối cảnh sanh tâm”. Thí dụ, khi bước vào một nhà giàu, có thể thể nảy sinh lòng ham muốn. Khi thấy người ta đeo nữ trang quý giá có thể sanh tâm thèm muốn hay đua đòi. Khi gặp cô gái, anh chàng đẹp trai có thể sanh tâm yêu mến. Từ yêu mến có thể sanh tâm chiếm đoạt.